Kỹ Thuật Trồng Tiêu
Công Nghệ Cao
Tiêu có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới Ấn Độ. Ngoài việc sử dụng làm gia vị,
tiêu còn có giá trị trong y dược, trong hương liệu làm chất trừ côn trùng.
Nhu cầu sử dụng tiêu ngày càng gia tăng nên tiêu trở thành một mặt hàng
xuất khẩu quan trọng của 1 số nước trên thế giới.
Ở Việt Nam tiêu được đưa vào trồng trước năm 1943. Diện tích tiêu cả nước
trên 27.000 ha, trong những năm gần đây giá cả tăng nhanh, kéo theo diện
tích tiêu cả nước tăng lên đáng kể, trước năm 2003 Việt Nam là nước xuất
khẩu tiêu đứng thứ 2 trên thế giới sau Ấn Độ, từ năm 2003 đến nay Việt
Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu.
I. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC:
1. Rễ: Có 4 loại rễ chính.
1.1 Rễ cọc: Rễ cọc chỉ có khi trồng bằng hạt. Sau khi gieo, phôi hạt phát
triển, rễ đâm sâu vào đất, có thể sâu 2-2,5 m, nhiệm vụ chính là giữ cây và
hút nước chống hạn cho cây.
1.2 Rễ cái:Rễ cái phát triển từ hom tiêu (nếu trồng bằng hom). Mỗi hom có
từ 3-6 rễ, nhiệm vụ chính là hút nước chống hạn cho cây trong mùa khô, sau
trồng 1 năm, rễ cái có thể ăn sâu tới 2 m.
1.3 Rễ phụ: Rễ phụ mọc ra từ rễ cái thành từng chùm mang nhiều lông hút,
tập trung nhiều ở độ sâu 15-40 cm. Nhiệm vụ chính là hút nước và dưỡng
chất để nuôi cây. Đây là loại rễ quan trọng nhất của cây tiêu trong quá trình
sinh trưởng và phát triển.
1.4 Rễ bám (rễ khí sinh, rễ thằn lằn):Rễ này mọc từ đốt thân chính hoặc
cành của cây tiêu, bám vào nọc (nọc sống, nọc chết, nọc xây…) nhiệm vụ
chính là giữ cây bám chắc vào nọc, hấp thụ (thẩm thấu) chỉ là thứ yếu.
Trong hệ rễ, phần ở dưới đất quan trọng hơn phần ở trên không khí. Hệ
có thể lưỡng tính hoặc đơn tính và co thể đồng chu, dị chu hoặc tạp hoa.
Hoa tiêu không có bao, không có đài, có 3 cánh hoa, 2-4 nhị đực, bao phấn
có 2 ngăn, hạt phấn tròn và rất nhỏ, đời sống rất ngắn khoảng 2-3 ngày. Bộ
nhụy cái gồm: Bầu noãn có 1 ngăn và chứa 1 túi noãn (tiêu chỉ có 1 hạt).
Từ khi xuất hiện gié đến khi hoa nở đầy đủ khoảng 29-30 ngày. Sự thụ phấn
của hoa không phụ thuộc vào gió, mưa hoăc côn trùng mà phấn của hoa trên
thụ cho hoa dưới của một gié.
Sự thụ phấn của hoa phụ thuộc rất lớn bởi độ ẩm không khí, độ ẩm đất. Đây
là điều cần lưu ý cho việc tưới nước cho vùng trồng tiêu ở miền Đông Nam
Bộ.
(Chú ý: Ngoài việc tưới gốc còn phun lên lá để tăng độ ẩm không khí).
6. Trái: Trái tiêu chỉ mang 1 hạt có dạng hình cầu, đường kính 4-8mm (thay
đổi tùy giống, điều kiện chăm sóc, sinh thái).
Từ khi hoa nở đến trái chín kéo dài 7-10 tháng, chia ra các giai đoạn:
- Hoa xuất hiện và thụ phấn: 1-1,5 tháng.
- Thụ phấn đến phát triển tối đa: 3-4,5 tháng, đây là giai đoạn cần nhiều
nước nhất.
- Trái phát triển tối đa đến chín: 2-3 tháng.
Ở miền Nam trái chín tập trung vào khoảng tháng 1-2 trong năm, có thể kéo
dài đến tháng 4-5.
II. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI
1. Thời tiết khí hậu
1.1 Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp bình quân cả năm từ 25oC – 30oC, nhiệt
độ dưới 15oC và cao hơn 40oC tiêu không phát triển được.
1.2 Ẩm độ: Ẩm độ thích hợp bình quân 75 – 90%, ẩm độ cao làm cho hạt
phấn dễ dính vào nuốm nhị cái và thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhụy
trương to khi có ẩm độ, tạo điều kiện cho sự hình thành quả tốt hơn.
1.3 Lượng mưa: Lượng mư yêu cầu cả năm từ 2.000 – 2.500mm, phân bố
đều trong 7 – 8 tháng. Lượng mưa tối thiểu là 1.800mm. Cây tiêu cần có
mùa khô rõ rệt khoảng 3 -4 tháng để quả chính tập trung. Tiêu không thích
phải có thời gian hạn ngắn trong mùa khô mới cho năng suất cao. Nhược
điểm cơ bản của giống tiêu này là trong điều kiện đất xấu, thâm canh kém
cây chậm ra hoa, năng suất năm đầu không cao và kém ổn định.
1.2.2 Tiêu Ấn Độ (Pannijur-1): lá to, tròn hoặc dài, chùm quả dài, hạt đóng
dày, phát triển mạnh, năng suất cao, cho qủa sớm, phẩm chất hạt tốt, kháng
bệnh chết nhanh và chết chậm trung bình, trong điều kiện không thâm canh
cho năng suất thấp.
1.2.3 Tiêu Campuchia (Sréchéa, Kam chay, Kép…): khả năng chống chịu
điều kiện ngoại cảnh tốt, hạt đẹp, ra hoa hơi muộn, năng suất ít ổn định, dễ
nhiễm bệnh chết héo.
Trong điều kiện tự nhiên, sinh thái của Đồng Nai nhà vườn nên chọn trồng
một số giống tiêu có năng suất cao, chất lượng tốt, ít nhiễm bệnh, đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu như: Giống Tiêu Pannijur – 1, giống tiêu Lada
Belangtoeng, giống tiêu Vĩnh Linh.
2. Kỹ thuật nhân giống
2.1 Chọn cây giống
- Chọn vườn tiêu tốt không có nguồn bệnh, cây tiêu không nhiễm bệnh, cho
năng suất ổn định.
- Cây có tán phân bố đều, đốt ngắn, khả năng phân cành tốt có nhiều cành
ác.
- Gié hoa dài, hạt to mang nhiều hạt, chín tương đối tập trung.
2.2 Nhân giống
2.2.1 Nhân giống bằng hạt:
- Cây mọc khỏe, hệ số nhân cao
- Cây con không đồng đều, chậm cho trái, cây đơn tính (thường sử dụng
trong lai tạo).
Bóc sạch lớp vỏ ngoài hong khô trong mát, lên líp gieo hạt sau 2-2,5 tháng
nhổ cây con cho vào bầu, khi cây 6-7 lá thật đem trồng.
2.2.2 Nhân giống bằng phương pháp chiết, ghép, nuôi cấy mô:
Ít được sử dụng.
1. Chuẩn bị đất
Đất phẳng dọn sạch tàn dư thực vật, độ dốc < 8%, cày sâu 25-30 cm, phơi
đất trong 1 tháng, xử lý đất bằng Basudin hoặc Furadan 20-30 kg/ha.
Đào mương thoát nước và cắm cọc xác định vị trí.
2. Kỹ thuật trồng
2.1 Thời vụ trồng: Thời vụ trồng thích hợp từ tháng 5DL đến tháng 8 DL.
2.2 Mật độ và khoảng cách:
2 x 2m ® 2.500 cây/ha.
2 x 2,5m ® 2.000 cây/ha.
2,5 x 2,5m ® 1.600 cây/ha.
3 x 3m ® 1.100 cây/ha.
Mật độ, khoảng cách còn phụ thuộc vào đất trồng, đất tốt trồng thưa, đất xấu
trồng dầy …
2.3 Cách trồng
2.3.1 Chuẩn bị cây nọc
2.3.1.1 Cây nọc sống: Phải trồng trước 1 năm.
Cây vông, lồng mứt, gạo, cóc rừng, mít, dừa, cau …
Ưu điểm: Rẻ tiền, dễ kiếm, che bóng giai đoạn đầu, giữ ẩm trong mùa khô.
Nhược điểm: Cạnh tranh ánh sáng, nước, dinh dưỡng với tiêu làm hạn chế
năng suất. Tốn công tạo tỉa tán cho cây nọc, dễ phát sinh bệnh trong mùa
mưa.
- Khó chủ động trong việc trồng và mở rộng qui mô canh tác.
- Đối với 1 số cây nọc to, phân cành ngang làm giảm mật độ tiêu.
2.3.1.2 Cây nọc chết
- Không cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng, tăng mật độ, ít nhiễm bệnh.
- Vốn đầu tư cao, phải che nắng giai đoạn trồng mới và mùa khô.
* Nọc bằng cây chịu mưa, nắng, không bị mối ăn (cây anh đào, cà chắc, cà
đuối…).
* Nọc xây bằng gạch hoặc bằng đá:
Có hình tròn hoặc hình trụ, xây tùy kích thước nhưng phổ biến có chiều cao
- Magiê (Mg): Cây rất cần Mg do đó phải bổ sung thêm Mg bằng cách tưới
Sunfat Mg 1% (1-2 lít/gốc) hoặc phun phân vi lượng qua lá.
- Vôi: Rất cần cho cây tiêu sử dụng, phòng chống bệnh… Hai năm bón thêm
0,5-1kg vôi cho 1 cây. Với trụ xây phải bón nhiều hơn. Định kỳ 2-3 tháng
xịt phân bón lá 1 lần.
3.2 Lượng phân bón (kg/ha/năm): Tính mật độ: 2000 cây/1ha.
3.3 Thời kì bón
* Khi tiêu còn nhỏ pha nước tưới 1-2 tháng/1 lần.
* Khi tiêu lớn chia làm 5 lần bón:
- Sau thu hoạch bón toàn bộ phân hữu cơ + toàn bộ phân lân theo rãnh, hoặc
hốc rồi lấp phân lại.
- Tháng 4: Hoà tan 100 kg Urê + 70 kg Lân + 40 kg Kali
- Tháng 6: Hoà tan 90 kg Urê + 80 kg Lân + 40 kg Kali
- Tháng 8: Hoà tan 80 kg urê + 100 kg Lân + 50 kg Kali
- Tháng 10-11: Hoà tan 70 kg Urê + 90 kg Lân + 80 kg Kali
- Khi đã tượng trái: Hoà tan 60 kg urê + 60 kg Lân + 40 kg Kali
3.4 Tưới nước kết hợp với bón phân vô cơ qua đường ống:
Mỗi lần bón hoà tan hoàn toàn lượng phân trong bồn, mở hệ thống tưới tiết
kiệm nước, phân theo hệ thống đi đến từng gốc cây.
Các ưu điểm của phương pháp tưới nước tiết kiệm và bón phân qua đường
ống:
+Tiết kiệm lượng nước tưới
+Tiết kiệm dầu tưới
+Tiết kiệm công tưới
+Tiết kiệm công làm bồn
+Tăng hiệu quả của việc bón phân
+Tăng năng suất và chất lượng trái
- Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng nông hộ có thể lấp đặt hệ thống tưới
nước kết hợp bón phân qua đường ống theo một số mô hình
Chú thích:
- Từ máy bơm, một lượng lớn nước chứa phân được đưa đến bộ lọc (tránh
nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1.
- Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp
3 tưới vào từng gốc cây.
- Ống câp 2 được đặt dọc theo các hàng cây, trên các ống cấp 2 này chúng ta
lắp đặt hệ thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước vì nơi gần máy
bơm áp lực và lưu lượng nước cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài
ra các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước
cho những vùng có địa hình không đồng đều, đồi dốc …
Nguyên tắc hoạt động:
- Nước và dung dịch phân từ các bồn chứa sẽ được hòa đều trong đường
ống, đến bộ lọc (tránh nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1 và ra các vòi tưới cho
cây. Chúng ta có thể thay đổi lượng phân bón trước khi đi vào trong hệ
thống bằng khoá điều chỉnh
- Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp
3 tưới vào từng gốc cây.
- Ống câp 2 được đặt dọc theo các hàng cây, trên các ồng cấp 2 này chúng ta
lắp đặt hẽ thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước vì nơi gần máy
bơm áp lực và lưu lượng nước cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài
ra các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước
cho những vùng có địa hình không đồng đều, đồi dốc …
* Chú ý:
- Bồn chứa nước phải cao để đủ áp lực nước.
-Bồn chứa dung dịch phân cũng phải cao để nước tưới không bị đẩy ngược
lại bòn chứa phân.
4 Buộc dây:
Tạo cho thân to khỏe, rễ bám chắc, chọn dây bền chắc không thấm nước,
định kỳ 7-10 ngày buộc 1 lần, khi cây cao 60-80cm chưa phát cành tiến hành
bấm ngọn, khi cây cao 80-100cm chưa phân cành ngang lại bấm tiếp. Để 3-4
dây chính trên 1 nọc tùy kích thước nọc, nên phân bố dây đều trên nọc
1.2 Rệp sáp giả (Pseudococidae):
Gây hại trên đọt non, lá non, chùm quả, dây tiêu trên mặt đất, hoặc gốc tiêu,
rễ tiêu dưới mặt đất.
- Biện pháp phòng trừ:
Trên cây tiêu: Phun rửa bồ hóng, rệp sáp bằng nước sau đó phun thuốc trừ
sâu kỹ trên cây, mặt đất bằng Penbis 10ND, Sherzol, Sevin 80WP nồng độ
1,5-2 ‰.
- Đối với rệp sáp ở dưới gốc: bới đất quanh nọc, xới đất khô cứng quanh nọc
tiêu, rải thuốc hột lấp đất tưới nước. Sử dụng bằng thuốc Supracide hoặc
Puradon 3H.
2. Bệnh hại:
2.1 Bệnh tuyến trùng
Hồ tiêu bị nhiều loại tuyến trùng gây hại, trong đó có hai loại tuyến trùng
thường gặp là: Tuyến trùng gây nốt sần Meloidogyne và tuyến trùng đục
hang Radopholus.
Tuyến trùng đục và rễ chích hút dịch cây, tao điều kiện cho các loại nấm
xâm nhập và gây hại. Rễ tiêu bị sưng, thối, lá vàng sinh trưởng kém, không
ăn phân, rễ có bướu hoặc thối từng điểm, thân khô héo, tạo vết thương làm
nấm xâm nhập phát triển mạnh.
- Biện pháp phòng trừ:
- Bón phân cân đối, vệ sinh đồng ruộng
- Trồng cúc vạn thọ xung quanh gốc tiêu (rễ cây cúc vạn thọ tiết ra một chất
làm hạn chế sinh sản của tuyến trùng).
- Sử dụng Mocap 10G, xới đất quanh gốc bệnh cách gốc 30-50cm, rộng
10cm, sâu 10-15cm, rải thuốc 20-30gr/gốc lấp đất tưới nước. Mocap 720 ND
pha 1cc/1lít nước tưới đều 2 lít/gốc hoặc sử dụng Regent, Vibasu
2.2 Bệnh chết nhanh: Nguyên nhân do nấm Phytophthora sp.
Do tác động của côn trùng, tuyến trùng, chăm sóc xới xáo, ngập úng… làm
tổn thương rễ, sau đó nấm xâm nhập và gây hại.
Các đọt mầm sinh trưởng không dài thêm, lá chuyển màu xanh nhạt, mềm
Phun một số loại thuốc hóa học: Carbendazim 500FL, Fungugran OH
50WP…
2.5 Bệnh tiêu điên
Do virus gây nên, tác nhân truyền bệnh là rầy làm lá cong vẹo, cây lùn, lá
nhỏ lại, cằn cỗi, năng suất giảm.
- Biện pháp phòng trừ:
Phòng bệnh bằng cách nhổ bỏ cây bị bệnh, phun thuốc trừ rầy Trebon hoặc
Fenbis.
2.6 Bệnh sinh lý:
- Thiếu đạm: Thường xảy ra ở giai đoạn sau thu hoạch, lá vàng, vàng cam,
ngọn lá cháy, lá rụng.
- Thiếu Kali: Đỉnh lá bị cháy kéo dọc theo rìa lá, lá dòn dễ gãy, phiến lá
cong, dây không chết nhưng năng suất giảm.
- Thiếu lân: Cây tăng trưởng chậm lại, cằn cỗi, ít đậu trái.
- Thiếu Mg: Phổ biến ở giai đoạn ra hoa và lúc trái già, lá mất màu diệp lục,
gân lá màu vàng, lá trưởng thành màu xanh nhạt, vàng dọc theo chiều dài
gân lá, làm lá rụng.
- Thiếu Ca: Thiếu nặng cây cằn cỗi, các lóng ngắn lại, lá non màu xanh nhợt,
mép lá cháy xém gần phiến lá màu xanh nhạt, xuất hiện các đốm nâu ở giữa
gân lá mặt trên và mặt dưới lá.
IX. THU HOẠCH – BẢO QUẢN
Không nên thu hoạch khi quả tiêu chưa chín sinh lý, thời điểm tốt nhất để
thu hoạch tiêu đen khi chùm quả có trên 5% quả chín và làm tiêu sọ khi
chùm quả có trên 20% quả chín.
Thu hái xong có thể phơi ngay làm tiêu đen hoặc ủ 1-2 ngày trong mát cho
tiêu tiếp tục chín để làm tiêu sọ. Trong quá trình ủ phải thường xuyên trộn
đều để quả chín đạt độ đồng đều cao, tách hạt ra khỏi gié sau khi phơi 1-2
nắng.
Phơi tiêu trên sân xi măng, tấm bạt, nong tre… nếu nắng to chỉ cần phơi 3-4
nắng là đạt. Độ ẩm của hạt phải đảm bảo dưới 15%.
từ tiêu đen bằng cách như sau: lấy những quả lớn sau khi đã chọn lọc, đóng
¾ bao ngâm trong nước lợ từ 10-15 ngày, vỏ ngoài phồng lên, mục nát, sau
đó vớt ra đưa vào ½ thúng, ngâm trong nước, lấy phần chân đạp cho vỏ tróc
ra và cuối cùng là đãi bỏ vỏ, rửa sạch đem phơi, sấy khô.