Các loại trang phục của
người Chăm
Người Chăm là một dân tộc sớm hình thànhnước và chịu ảnh
hưởng nhiều loại hình tôn giáo, văn hoá khác nhau. Ngoài
tôn giáo Bàlamôn. Hồi giáo người Chăm còn theo tín ngưỡng
dân gian xã hội Chăm còn có nhiều giai cấp: vua chúa, quý
tộc, bình dân. Do đó, mỗi giai cấp, tầng lớp; mỗi chức sắc tu
sĩ tôn giáo người đều có mỗi trang phục riêng
Trang phục của vua chúa Chăm
Trang phục vua chúa Chăm ngày xưa rất phong phú và đa
dạng. Thế nhưng cho đến nay do biến động của lịch sử vua
chúa Chăm đã mất đi, kéo theo sự biến mất về trang phục của
họ. Cho đến nay, do chất liệu vải bị huỷ hoại theo thời gian,
trang phục vua chúa Chăm không còn tìm ra được hiện vật
nào còn nguyên vẹn. Hiện nay chúng ta chỉ tìm thấy trang
phục Chăm thông qua tư liệu cổ, bia kí và những tượng thờ,
phù điêu trên các đền tháp Chăm.
Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, trang phục vua chúa Chăm
được mô tả như sau: “Y phục vua Chúa Chăm gồm có áo bào
bằng lụa, có hoa bằng vàng, trên nền đen hay xanh lá cây.Áo
lót bằng vải trắng, nhỏ sợi mịn màng, đôi khi có thêu dệt hay
viền tua bằng vàng; vua chỉ có mặc một áo này không có áo
ngoài gì khác trong những buổi chầu, không phải đại lễ (Tân
Đường Thư). Ở ngang lưng đeo bên ngoài lễ phục một cái đai
vàng nạm ngọc và trang trí những vòng hoa (Nam Tề Thư,
để ướp quần áo (Tân đường thư, CXVII,32a).
Ngoài thư tịch cổ, trên bia kí còn miêu tả trang phục vua
Chăm như sau: Vua Chăm Vikrantarman HI điểm trong
những miếng vàng đeo lũng lẳng, có những chuỗi hạt ngọc
xanh và ngọc trai lóng lánh như ánh trăng hôm rằm, vua được
che bằng cái lộng trắng nó trùm lên vòng tròn cả bốn phương
trời, Vua đeo vương miệng, đai vòng cổ, hoa tai bằng chuỗi
hòn ngọc,bằngvàng, toả ra hào quang giống như những dây
leo (Tống Sử, CCCIXXIX,22a).
Trên bia kí lai trung ở Huế, nội dung có phần mô tả về cách
ăn mặc của Vua Champa Indravarman III (918) là áo Vua có
thêu dính nhiều vàng bạc. Bia kí Pô Nưgar cũng đề cập đến
Vua Chăm Wikratavarman III (854) mặc áo đen và xanh, có
đính hoa văn và chỉ làm bằng vàng. Áo khác cũng làm bằng
vải thô thêu chỉ bằng vàng rất đẹp.
Ngoài bia kí nói trên các nhà khoa học còn tìm thấy nhưng
trang phục của người Chăm trên các phù điêu, trên các tượng
thờ ở các đền tháp như các tượng thần Siva. Vũ nữ Chăm
Apxara với những dãi áo mỏng được trang trí bằng những nét
hoa văn thật đẹp mắt, tinh vi. Đi xa hơn nữa là các nhà khoa
học còn tìm thấy các loại quần áo được trang bị cho binh lính
Chămpa, chẳng hạn như bức phù điêu chạm khắc trên tường
tháp Angkor wat, mô tả cảnh chiến đấu đội quân Chămpa
tiến vào đánh Angkor vào thế kỷ XIII. Bức phù điêu này cho
thấy binh lính Chămpa mặc quần áo ngắn có đeo dải
Bàlamôn; mặc áo ngắn cụt tay có dệt hoa văn, đầu đội mũ.
người Chăm đã định hình và phát triển cao mang đặc trưng
văn hoá và văn minh của riêng mình. Sau này với sự biến đổi
của lịch sử, tuỳ theo mỗi thời đại của trang phục Chăm về sau
có nhiều biến đổi và cho đến nay trên nền tảng đó, người
Chăm vẫn còn lưu giữ được trang phục truyền thống của
mình.
Trong bất cứ dân tộc nào, thời đại nào người phụ nữ là người
lưu giữ một cách bền vững bản sắc văn hoá riêng của dân tộc
mình. Áo truyền thống của phụ nữ Chăm ngày nay là biểu
hiện sắc thái riêng ấy của dân tộc Chăm mà người ta dễ dàng
nhận biết, không lẫn lộn được với bất cứ dân tộc nào khác. Áo (aw): Một số trang phục của phụ nữ dân tộc Chăm
Áo truyền thống của người phụ nữ Chăm là áo dài bít tà, mặc
chui đầu mà họ gọi là “Aw loah” (áo có 3 lỗ). Áo có một lỗ
chui đầu và hai ống tay. Áo này xưa kia được cấu tạo bằng 7
mảnh vải may ghép với nhau, người Chăm gọi là “aw kauk
kaung”. Nhóm áo này ở phần trên thân áo chạy dài từ vai
xuống ngang bụng thì dừng lại. Vì khổ vải của khung dệt
ngày xưa không cho phép vải rộng quá 1m; phần thứ hai từ
ngang bụng đến quá đầu gối hoặc đến gót chân phần này
cũng được may ghép hai phần, ở mặt trước và mặt sau: hai
cánh tay được nối lại với hai phần vai và nách áo; và cuối
cùng hai mảnh nhỏ đắp vào hai bên hông, người Chăm gọi bộ
phận này là “dwa boong”. Cổ áo thường khoét lỗ hình tròn
nhau, khi mặc cặp váy được xếp vào và lận vào bên trong giữ
chặt eo hông. Còn váy kín (khan) thì hai mép đầu vải được
may dính vào nhau hình ống. Phụ nữ lớn tuổi thường mặc
váy mở (aban) còn váy kín dành cho phụ nữ trẻ tuổi. Chỉ có
váy mở (aban) có nhiều hoa văn trang trí và có may cạp váy,
còn váy kín thì không có hoa văn trang trí.
Váy (aban) Chăm là loại sarong, đây là sản phẩm được mặc
phổ biến phụ nữ của Chăm. Váy có kích thước (160cm x
90cm). Váy của người Chăm được trang trí nhiều loại hoa
văn và màu sắc khác nhau. Váy Chăm có nhiều màu đen, đỏ,
xanh nhưng chủ yếu là nền đen, dệt nhiều hoa văn. Váy
Chăm có nhiều loại, căn cứ vào kỷ thuật dệt, hoa văn trang trí
mà họ có tên các loại váy khác nhau như sau:
- Váy dệt có đường viền (đường sọc đứng)
- Váy Chăm không có đường viền
- Váy có cạp (loại biyor)
Váy Chăm đa số được phủ kín hoa văn trên bề mặt. Hoa văn
được kết hợp với nhiều màu sắc khác nhau trên màu nền như
đen, đỏ, xanh tạo nên nhiều kiểu dáng hoa văn phong phú
như: hoa văn quả trám (bingu tamun), hoa văn hình con thằn
lằn (kachak), hoa văn 4 cánh (tuk riteh), hình ô vuông (bingu
caor) Váy Chăm thường may cạp ở rèm chân theo chiều
ngang hoặc chiều dài của váy gọi là jih hoặc biyon. Đàn bà
bình dân thường mặc váy có hình quả trám (bingu tamum),
hoa văn hình dây leo (biyon hareh). Còn đàn bà quí tộc mặc
váy có nhiều hoa văn mà phổ biến là hoa văn 4 cánh (bingu
riteh) và vua chúa Chăm còn sử dụng việc dệt thêm những
sợi chỉ bằng vàng, bạc vào váy của họ. Còn đàn bà lớn tuổi
thì mặc váy có hoa văn hình hạt lúa nổ (bingu kamang). Loại
váy này không phổ biến, người Chăm kiên cử khi dệt thì phải
Đây là loại áo ngắn (aw lah) truyền thống của người đàn ông
Chăm. Áo được may bởi 6 mảnh vải với nhau: mặt thân sau
có hai mảnh vải tách rời, rồi họ lại may dính vào nhau tạo
thành một đường viền chạy dọc theo sóng lưng
(khổ vải khung dệt không cho phép khổ vải quá một mét nên
họ phải dùng hai mảnh để may ghép lại): phía thân trước
cũng gồm hai mảnh vải ghép lại; và hai bộ phận còn lại là hai
vải ống tay may dính vào hai phần nách và phần vai. Áo ngắn
chỉ mặt chùng xuống đến mông, xẻ hai bên hông khoảng
20cm. Áo ở phía trước có đường xẻ, đính khuy và hai bên vạt
trước có hai cái túi. Cổ áo thường là cổ con, tròn đứng, ôm
sát cổ. Áo thường có nhiều màu trắng: trắng, đỏ, xanh,
vàng nhưng không có trang trí hoa văn.
Áo nam giới Chăm còn có một loại áo khác gọi là “aw tah”
(áo dài). Áo được dệt bằng vải thô màu trắng, được may ghép
bằng nhiều mảnh vải. Áo tah không xẻ thân phía trước,
không có hàng khuy mà chỉ xẻ một đường xiên trước ngực,
dùng dây để buột thay nút. Áo mặt chui đầu (aw loah) và phủ
dài đến đầu gối. Áo này hiện nay không được mặc phổ biến
chỉ được mặc trong các nghi lễ.
Váy, khăn (aban, khan):
Theo truyền thống từ xa xưa, tất cả người Chăm đàn bà đàn
ông đều mặc váy (sarông). Thông thường ngày nay thì người
đàn ông mặc khăn. Khăn mặc của người đàn ông Chăm có
nhiều loại. Khăn mặc của đàn ông bình dân được dệt bằng
qua lưng rồi buột gút lại,thả chùn hai đầu dây có tua ra phía
trước.
Đồ đội đầu (tanrak):
Đồ đội đầu của đàn ông Chăm chủ yếu là khăn. Người đàn
ông bình dân thì sử dụng khăn dệt trơn bằng vải thô trắng và
đàn ông quí tộc thì đội khăn có dệt hoa văn hình quả trám
cùng màu trắng phủ kín lên mặt vải. Ngoài khăn đội đầu
người đàn ông Chăm còn có khăn vắt vai, túi nhỏ đeo vai và
túi đựng thuốc hút.
Cách đội khăn của Chăm là quấn vòng lên đầu từ phía sau ra
phía trước, rồi thả hai mép gập lại, buông chùn xuống ở gần
hai tai. Đối với người đàn ông trẻ tuổi thì không đội khăn mà
chỉ vắt khăn chéo qua vai. Cũng như phụ nữ Chăm, ngày nay
việc đội khăn truyền thống chỉ có ở người đàn ông lớn tuổi,
còn giới trẻ thì đội nón, chỉ còn đội khăn truyền thống trong
những dịp lễ hội.
Trang phục chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng Chăm:
Trang phục tu sĩ Bàlamôn Chăm:
Tu sĩ Chăm Bàlamôn gọi là paseh, họ chuyên phục vụ các lễ
nghi cúng tế cho tín đồ Chăm theo Bàlamôn như các lễ nghi
đền tháp, đám tang, lễ nhập kút Hàng ngũ tu sĩ paseh có
nhiều thứ bậc khác nhau như paseh đung akuak (tu sĩ mới tập
sự), paseh lyah (cấp thứ hai), paseh luah (cấp thứ ba), pô bac
(phó cả sư) và cuối cùng là pô Adhia (chức cả sư)- người giữ
chức vụ cao nhất trong hàng ngũ paseh.
Tầng lớp paseh này có sắc phục riêng và mỗi cấp bậc của tu
sĩ đạo Bàlamôn. Các trang phục của tu sĩ cấp dưới Paseh cơ
bản đều giống trang phục của Pô Adhia nhưng chỉ khác và
phân biệt được với nhau ở chỗ là áo của Pô Adhia, ống tay
được may hai lớp vải, còn tu sĩ bình thường chỉ được may
một lớp vải. Pô Adhia thì mặc váy có cạp váy hình rồng, thắt
dây lưng có hoa văn hai mặt nhiều hoa văn. Còn tu sĩ cấp
bình thường, mặc váy trơn, không có cạp váy và thắt dây
lưng có hoa văn thường như hoa văn quả trám, hoa văn con
thằn lằn
Đồ đội đầu (tanrak):
Đồ đội đầu của đàn ông Chăm chủ yếu là khăn. Người đàn
ông bình dân thì sử dụng khăn dệt trơn bằng vải thô trắng và
đàn ông quí tộc thì đội khăn có dệt hoa văn hình quả trám
cùng màu trắng phủ kín lên mặt vải. Ngoài khăn đội đầu
người đàn ông Chăm còn có khăn vắt vai, túi nhỏ đeo vai và
túi đựng thuốc hút.
Cách đội khăn của Chăm là quấn vòng lên đầu từ phía sau ra
phía trước, rồi thả hai mép gập lại, buông chùn xuống ở gần
hai tai. Đối với người đàn ông trẻ tuổi thì không đội khăn mà
chỉ vắt khăn chéo qua vai. Cũng như phụ nữ Chăm, ngày nay
việc đội khăn truyền thống chỉ có ở người đàn ông lớn tuổi,
còn giới trẻ thì đội nón, chỉ còn đội khăn truyền thống trong
những dịp lễ hội.
Các bộ phận khác của trang phục:
Trang sức:
Cùng với y phục, người Chăm kể cả đàn ông, đàn bà; giai cấp
quí tộc, tầng lớp bình dân: Chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng đều
Ngày nay cũng giống như các dân tộc khác, người Chăm
thường mang giầy dép công nghiệp.
Trang phục Chăm trong sinh hoạt lễ hội: