1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤC VỤ VÀ
KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM VĂN GIANG
Sinh viên : NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
Lớp : QLKT – K 35 ĐỊNH KỲ
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn : GS. ĐỖ HOÀNG TOÀN
Hà nội – 2007
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………… Trang 3
Chương I: VAI TRÒ , VỊ TRÍ CỦA CỬA HÀNG BÁN THUỐC
PHỤC VỤ NHÂN DÂN………………………………… 4
I.Quan điểm chủ trương về mạng lưới cung ứng thuốc……………… 4
1.Chính sách quốc gia về thuốccủa Việt nam………………………… 4
2.Quan điểm chủ trương về thuốc ở Việt nam………………………… 9
kinh doanh của chi nhánh dược phẩm Văn giang………………… 56
1.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh…………… 56
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và kinh doanh
của chi nhánh dược phẩm Văn giang………………………………… 58
III. Một số kiến nghị với sở y tế Hưng yên và nhà nước…………… 63
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………… 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………… 66
CHỨNG THỰC CỦA CHI NHÁNH…………………………………………… 67 3
LỜI NÓI ĐẦU
Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi đất nước bắt đầu đổi mới, chuyển
sang cơ chế thị trường. Trong khoảng thời gian đó, nền kinh tế nước ta đã
không ngừng phấn đấu để từng bước hội nhập vào cộng đồng khu vực và vào
cộng đồng quốc tế, xem đây là yêu cầu tất yếu nhằm đưa Việt nam sớm trở
thành quốc gia phồn vinh. Từ nhận thức trên đây, từ mấy năm qua, từng
ngành, từng đơn vị đều có sự chuẩn bị chuyển đổi từ hình dạng đến nội
dung, từ phương thức tới tiềm năng hoạt động để có thể đáp ứng với yêu cầu
của thời kỳ mới.
Ngành dược nước ta vốn có từ lâu, sinh ra và lớn lên theo hai cuộc
kháng chiến trường kỳ và tiếp tục mở rộng và nâng cao trong những năm hoà
bình xây dựng đất nước. Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước, ngành phát triển mạnh không ngừng có những chuyển biến tích cực cả
về quy mô lẫn về nội dung công nghiệp. Về phương diện sản xuất không ít
doanh nghiệp đã bắt kịp thời cơ, có mối quan hệ rộng rãi với công nghiệp
dược nước ngoài, đã tự trang bị hiện đại theo bước tiến của thế giới, và đã
Đề tài gồm III chương:
Chương I: Vai trò, vị trí của cửa hàng bán thuốc phục vụ nhân dân.
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh dược phẩm Văn
giang.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ và kinh doanh
của chi nhánh dược phẩm Văn giang.
5
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đỗ Hoàng Toàn và các cô chú
trong chi nhánh dược phẩm Văn giang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em để
em hoàn thành đề tài này trong thời gian tìm hiểu thực tế tại chi nhánh.
Do thời gian ngắn, trình độ có hạn lại chưa có nhiều kiến thức thực tế
trong lĩnh vực kinh doanh nên không tránh khỏỉ những thiếu sót. Em mong
nhận được sự góp ý của thầy và các cô chú trong chi nhánh dược phẩm Văn
giang để sự hiểu biết của em về lĩnh vực này được đầy đủ hơn.
6
Chương I
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CỬA HÀNG BÁN THUỐC
PHỤC VỤ NHÂN DÂN.
I. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ MẠNG LƯỚI CUNG ỨNG THUỐC.
1. Chính sách quốc gia về thuốc của Việt nam:
1.1. Các khái niệm cơ bản: [7]
Chính sách quốc gia về thuốc là tập hợp những chính sách riêng rẽ
liên quan đến thuốc thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Chính sách quốc gia về thuốc là công cụ quản lý nhà nước về thuốc
nhằm đảm bảo cung cấp một cách tối ưu thuốc cho người bệnh và người tiêu
dùng, nhằm đạt được mục tiêu sức khoẻ cho mọi người. Chính sách quốc gia
về thuốc là chương trình hành động, là sự cam kết của chính phủ trong việc
phối hợp các ngành nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.Mục tiêu chính sách quốc gia về thuốc:
Bác Hồ đã dạy:"Mỗi công dân khoẻ mạnh là góp phần làm cho đất
Tiến hành thử nghiệm đánh giá thuốc một cách kỹ lưỡng để đảm bảo
sức khoẻ cho cộng đồng và an toàn cho người sử dụng. Qua đó loại bỏ
những thuốc có nhiều tác dụng phụ, những thuốc kém hiệu quả trong điều trị
bệnh ra khỏi công tác điều trị và lưu thông.
* Về vấn đề cung ứng, xuất nhập khẩu thuốc:
Trong tình hình hiện nay các doanh nghiệp dược nước ta muốn có chỗ
đứng trên thương trường thì phải được cải tổ, tổ chức lại ngành công nghiệp
dược theo hướng chuyên môn hoá hiện đại hoá. Đồng thời khuyến khích mọi
8
thành phần kinh tế tạo nguồn thuốc và nguyên liệu làm thuốc để xuất khẩu,
trên cơ sở đó tăng nhập khẩu các loại thuốc được phép lưu hành.
Bên cạnh đó quy định danh mục thuốc được lưu hành và đảm bảo
cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân
dân.
* Về thuốc y học cổ truyền:
Xu hướng của nền y học hiện nay ở nước ta là đông tây y kết hợp và
trở về với các vị thuốc dân tộc. Do đó nhà nước đã có những chính sách
khuyến khích cho việc phát triển khai thác có chọn lọc các bài thuốc gia
truyền và các vị thuốc quí. Đẩy mạnh nghiên cứu các phương pháp chế biến
các loại cây, loại con làm thuốc nhằm tăng cường hiệu quả phòng chữa bệnh.
Xét duyệt để cho phép các loại thuốc y học cổ truyền trong nước và
nước ngoài được phép lưu hành. Ví dụ : cho phép các nhà thuốc đông y
trong nước có đủ điều kiện hành nghề được hoạt động, mở cửa cho phép các
nhà thuốc đông y Trung quốc được lưu hành tại Việt nam.
Có các chính sách tạo nguồn và bảo vệ nguồn dược liệu để sản xuất
thuốc.
*Về vấn đề đào tạo nhân lực dược:
Nhà nước có những chính sách nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
của các cán bộ dược như:
Đầu tư thích hợp cho các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và
triển được vạch rõ ràng, biện pháp tổ chức phải được đặt ra hàng đầu, đổi
mới là nội dung và kế hoạch cụ thể, việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ thực hiện
được nêu ra sau cùng. Riêng trong phạm vi tổ chức, các loại hình hoạt động
10
với mối liên hệ lẫn nhau và kết thành một hệ thống chặt chẽ là yêu cầu bức
thiết để có thể triển khai chiến lược.
Cho nên, nếu có hiện tượng thiếu ổn định, thiếu trật tự trong một lĩnh
vực, đầu tiên phải tìm nguyên nhân trong tổ chức.
Trong mấy năm qua, và mãi đến bay giờ dư luận và xã hội liên tục cho
rằng có sự “lộn xộn” trên mặt trận lưu thông phân phối thuốc men, nội bộ
ngành cũng có nhận định như vậy và rõ ràng là nhân dân không yên tâm.
Như vậy chắc trong tổ chức có điều gì chưa ổn, hãy xem xét xem lỗ hở ở chỗ
nào.
Mục tiêu chiến lược cơ bản của việc cung ứng thuốc men là với nhận
thức thuốc là hàng hoá đặc biệt, đưa thuốc có chất lượng cao tới tận tay
người bệnh, trong điều kiện hợp lý và đảm bảo an toàn, không nhầm lẫn, phù
hợp với khả năng tài chính của dân. Trong mọi hoàn cảnh, AN TOÀN là tiêu
chí cao nhất. Cung ứng trong cơ chế thị trường, tức là không bao cấp, mà
mua bán như đối với mọi hàng hoá khác, có bán buôn và bán lẻ.
Nhà nước lại không giữ độc quyền trong lĩnh vực này, nên các đơn vị
mua bán có cả trong và ngoài quốc doanh, hoạt động song song trong điều
kiện bình đẳng như nhau.
Mua bán thuốc là một hoạt động thương mại, tuy phụ thuộc vào cung
cầu, lợi nhuận được quan tâm trên hết, nhưng vì chế độ nước ta là chế độ vì
dân, hơn nữa thuốc chữa bệnh lại là nhu cầu vào bậc nhất của cuộc sống nên
cần có sự quản lý chặt chẽ về giá cả, thậm chí nhà nước còn phải có chính
sách hỗ trợ cho những vùng khó khăn, vùng sâu, miền núi, vùng dân tộc ít
người.
Cũng do tính chất hàng hoá đặc biệt, nên thuốc không phải bất cứ ai
12
+ Các trung tâm bác sĩ ở các thành phố lớn nếu được xem là một giải
pháp tạm thời.
Những dược sĩ phụ trách các hiệu thuốc và nhà thuốc tham gia vào các
chi hội dược sĩ hành nghề của hội dược học, để cùng nhau thực hiện tự quản
về việc tuân thủ và chấp hành luật lệ và qui chế.
Tổ chức trên đây sau khi được khảo sát kỹ cần được ổn định và áp
dụng thường xuyên suốt trong cả nước. Trong thời gian ít nhất 5 năm. Nếu
giải quyết linh động, mỗi địa phương mỗi khác, mỗi lúc đều có sự thay đổi
theo một bối cảnh nào đó, lập tức sẽ xảy ra hiện tượng lộn xộn, ảnh hưởng
ngay đến kết quả của việc cung ứng và mục tiêu chiến lược sẽ không đạt
được. Do đó, nhất định cần hoàn thành tổ chức phân phối thuốc men theo
phương hướng nói trên.
2.2. Chủ trương về mạng lưới cung ứng thuốc:
Kể từ ngày nước nhà giành lại độc lập đến nay trải qua hơn sau mươi
năm dù trong giai đoạn chiến tranh hay khi cả nước đã hoàn toàn được độc
lập, giải phóng và thống nhất lúc nào Đảng và nhà nước cũng quan tâm xây
dựng một nền kinh tế nhân dân đặt vấn đề bảo vệ nâng cao sức khoẻ của dân
thành một chiến lược hàng đầu.
Sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ luôn luôn gồm hai yêu cầu gắn bó mật
thiết với nhau; một mặt trăm lo việc xây dựng y tế cơ sở, mặt khác từng
bước tạo điều kiện để có những đơn vị phòng bệnh, chữa bệnh chuyên sâu
kịp với điều kiện phát triển của y học thế giới. Trong hai yêu cầu này y tế cơ
sở là vấn đề then chốt, vì trực tiếp với dân, phải đáp ứng tại chỗ hàng ngày
và nhanh chóng mọi nhu cầu về sức khoẻ cuả dân một cách bức thiết nhất. Y
tế cơ sở thực hiện tốt, sẽ tạo ra một mạng lưới vững chắc đảm bảo về cơ bản
sức khoẻ của dân, không làm gánh nặng cho các tuyến trên.
13
Muốn vậy, mạng lưới y tế cung cấp thuốc ngày càng được mở rộng.
Từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu vùng xa. Một đội ngũ cán bộ ngày
thêm đông đảo, ngày càng thêm thuần thục, và được đãi ngộ tốt hơn, lúc nào
cũng tận tuỵ với công cuộc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Những cơ sở y tế
ngày càng khang trang, với những trang thiết bị hiện đại sẽ là chỗ dựa vững
chắc cho một nền y tế tiến bộ. Các phương pháp đề ra phòng bệnh đi đôi với
việc bảo vệ môi trường, việc phổ cập kiến thức ăn ở lành mạnh sẽ góp phần
không ngừng nâng cao sức khoẻ của nhân dân.
Một nền công nghiệp dược phẩm tiên tiến, hiện đại sẽ nhanh chóng
đuợc hình thành để cung cấp đầy đủ thuốc men cho dân, sao cho thuận lợi và
ai cũng có thể được hưởng.
II. VAI TRÒ CỦA CÁC CỬA HÀNG THUỐC:
1. Khái niệm hiệu thuốc: [7]
Hiệu thuốc là một đơn vị cung ứng thuốc và dụng cụ y tế cho công tác
phòng và chữa bệnh trực thuộc công ty dược phẩm hoặc xí nghiệp dược
phẩm và là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.
2. Vai trò , chức năng:
2.1.Vai trò: [7]
Hiệu thuốc có vai trò cung ứng thuốc phòng chữa bệnh và dụng cụ y tế
cho công tác phòng và chữa bệnh cho bệnh viện, bệnh xá và nhân dân trong
toàn huyện, và là nơi tiêu thụ thuốc cho các cơ sở sản xuất thuốc trong và
ngoài nước. Là cơ sở bán lẻ thuốc và dụng cụ y tế, phục vụ tận tay người tiêu
dùng (người bệnh) thông qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ, các đại lý…
2.1.1Hoạt động kinh doanh thuốc.
15
Chỉ được phép tổ chức bán thuốc (bán buôn, bán lẻ thuốc) sau khi có giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành dược phẩm và giấy chứng nhận đủ
tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh thuốc (với cơ sở bán lẻ thuốc) do cơ quan
có thẩm quyền cấp.
thuốc viện trợ.
Thuốc chưa có giấy phép đăng ký lưu hành do Bộ y tế cấp. Thuốc
nước ngoài chưa đăng ký mà không có giấy phép nhập khẩu của Bộ y tế.
Thuốc đã hết hạn dùng (riêng bán buôn không được, bán buôn thuốc còn hạn
sử dùng trong hai tháng), thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Thuốc kê đơn khi không có đơn của bác sỹ (đối với cơ sở bán lẻ
thuốc)
Thuốc không rõ nguồn gốc
Thuốc thú y:
Các cơ sở bán lẻ thuốc không được bán buôn thuốc, mua bán nguyên
liệu làm thuốc, hoá chất xét nghiệm , mua bán thuốc gây nghiện (từ các
doanh nghiệp Nhà nước được chỉ định cụ thể tại qui chế quản lý thuốc gây
nghiện)
2.2.Chức năng:
Hiệu thuốc có 3 chức năng:
*Chức năng phục vụ (hay còn gọi là chức năng phân phối)
“Theo quan điểm tổng quát kênh phân phối là một tập hợp các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập, phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa
hàng hoá từ người sản xuất tới người tiêu dùng”. Nói cách khác đây là nhóm
các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động cho các sản phẩm hoặc dịch
17
vụ sẵn sàng cho người tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghiệp, để họ có
thể mua và sử dụng”. [2]
Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hoá từ người sản xuất qua
hoặc không qua các trung gian tới người mua cuối cùng.
Bản chất của việc phân phối hàng hoá vật chất: Đó là hoạt động lập kế
hoạch thực hiện và kiểm tra việc lưu kho và vận tải hàng hoá từ nơi sản suet
đến nơi tiêu dùng. Ở thị trường mục tiêu nhằm phục vụ nhu cầu của người
tiêu dùng và thu được lợi nhuận cao nhất.
cho nhân dân trong toàn huyện và nhằm mục đích sinh lời).
* Chức năng dự báo thị trường:
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt và bệnh tật nó cũng có những đặc
tính riêng của nó. Ví dụ về mùa hè nóng lực có thể xuất hiện nhiều các bệnh
của mùa hè (thậm trí có thể gây lên hành dịch) như tả, lị, viêm não trẻ em….
Mùa đông thì hay gặp các bệnh về đường hô hấp, nứt nẻ chân tay, đau
khớp…. Dựa vào đó mà các nhà sản xuất và các nhà kinh doanh có thể có kế
hoạch sản xuất và kinh doanh những mặt hàng chủ yếu về các bệnh đó nhiều
hơn để cung ứng đủ thuốc, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Qua đó, thực sự
các hiệu thuốc, những nơi cung ứng thuốc đã thực hiện thêm một chức năng
mới đó là chức năng dự báo thị trường.
3. Những nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của chi nhánh.
3.1. Vốn:
Khái niệm vốn đầu tư của doanh nghiệp: [4]
Vốn đầu tư của doanh nghiệp là các loại tiền tệ (gồm nội tê, ngoại tệ),
hiện vật hữu hình (nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị…) hàng hoá vô
hình (mặt nước, mặt đất, sức lao động, bí quyết công nghệ, bằng phát minh
sáng chế …) và các phương tiện khác nhau (các loại chứng khoán, vàng bạc
19
đá quí) không phân biệt chủ sở hữu doanh nghiệp huy động vào quá trình tái
sản xuất của mình theo các hình thức cụ thể nhằm duy trì và nâng cao năng
lực sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của lao
động và mang lại cho các chủ sở hữu vốn.
Như vậy khác vốn sản xuất kinh doanh hiện có của doanh nghiệp, vốn
đầu tư của doanh nghiệp là bộ phận vốn mới được huy động thêm phục vụ
cho việc duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp.
Chi nhánh Dược phẩm Văn Giang muốn mở rộng hoạt động kinh
doanh thì phải có vốn. Do nay đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần do đó
vốn hiện tại là do các cổ đông đóng góp. Khi có vốn chi nhánh sử dụng để
đâu là khách hàng mục tiêu đó là các bệnh nhân (người bệnh).
Chi nhánh phải xác định những đặc điểm của khách hàng hiện có và
tiềm năng có mong muốn và sẵn sàng mua sản phẩm nhất từ đó đánh giá và
tuyển chọn được các khách hàng có triển vọng…
Do cuộc sống ngày càng được nâng cao, mong muốn chăm sóc sức
khoẻ ngày càng được nâng cao, chi nhánh cần chú ý đến đối tượng có nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ ví dụ như: Các cụ già cần sức khoẻ chi nhánh tư vấn
hướng dẫn các cụ dùng thuốc bổ để nâng cao thể lực. Đối với những khách
hàng trung niên có nhu cầu chăm sóc sắc đẹp chi nhánh nên tư vẫn dùng các
loại thuốc về chăm sóc sắc đẹp làn da, cơ thể…
Phát huy những khách hàng triển vọng tốt trên căn cứ vào các biến số
như tuổi, giới tính, trình độ, học vấn và lý do mua…
21
Chương II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM VĂN GIANG
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CHI NHÁNH
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngành dược Việt nam
Chi nhánh dược phẩm Văn giang thuộc công ty cổ phần dược Hưng
yên và là một đơn vị hạch toán độc lập
Tên giao dịch quốc tế của công ty là; “Hung Yen Pharmaceutical
Medical Material Stock company”
Viết tắt là: HUYEPHAR
Trụ sở của chi nhánh dược phẩm Văn giang đóng tại thị trấn Văn giang -
huyện Văn giang – tỉnh Hưng yên.
1.1. Sơ lược lịch sử ngành dược Việt nam
Lịch sử hình thành và phát triển của ngành dược Việt nam có thể chia
làm 4 thời kỳ:
y chính thức được truyền vào Việt Nam. Dược phẩm chủ yếu nhập từ Pháp
quốc đều là thuốc tây dược. Nền y dược Việt Nam mang tính chất kinh
doanh đơn thuần và chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị. Thực dân Pháp,
phát xít Nhật cấm lương y hành nghề tự do, cấm dùng thuốc độc trong thang
thuốc đông y. Các cơ sở sản xuất thuốc hết sức nghèo nàn và thô sơ.
Hệ thống y tế Nhà nước chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị và
người giàu.
d) Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay
* Thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
23
Ngay từ những ngày đầu của cách mạng Việt Nam, Bộ y tế đã được
thành lập để lo việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Trong 9 năm kháng
chiến, một cơ sở phòng chữa bệnh ta sản xuất thuốc đuợc thành lập, đã sản
xuất được một số thuốc dùng cho phục vụ quân đội, nhân dân vùng giải
phóng.
* Từ ngày hoà bình lập lại (1954) đến nay:
Ngành y tế nước ta đã phát triển nhanh chóng, toàn diện có tổ chức
vững mạnh từ trung ương đến địa phương đáp ứng được công tác phục vụ và
chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Đảng ta đã đề ra những đường lối xây dựng nền y tế Việt Nam dựa
trên “5 quan điểm, nhằm mục đích đưa nền y học nước ta phát triển đúng
hướng:
- Y tế phải phục vụ sản xuất đời sống của nhân dân lao động và quốc
phòng.
- Kiên trì phương hướng y học dự phòng.
- Kết hợp chặt chẽ y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc, xây
dựng nền y học Việt nam.
- Dựa vào sức mình là chính, củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế, tranh
thủ sự hỗ trợ quốc tế.
kiện cao nhất. Không những phải có một văn bằng xác nhận trình độ mỗi
người trong từng lĩnh vực chuyên môn mà muốn hành nghề phải xin phép và
được một cơ quan có thẩm quỳên cấp giấy phép. Đã thế mà kinh nghiệm
nhiều năm và thành tựu hoạt động cũng là những yếu tố quan trọng.
Xã hội đã sớm thấy điều này và rút ra nhiều bài học lâu đời về hoạt
động y dược nên ngành này quốc gia nào, Nhà nước nào cũng đặt vấn đề an
25
toàn là cao nhất cho nhân dân trong việc khám chữa bệnh và cung cấp thuốc.
Chính vì thế mà hai vấn đề sau đây được đặt ra:
- Một là: Những qui định chặt chẽ trong việc hành nghề thống nhất
trong nước và ngày càng trở thành nguyên tắc quốc tế trong công cuộc bảo
vệ sức khoẻ nhân dân trong đó nêu nổi bật:
+ Quyền của một công dân được chăm lo bảo vệ sức khoẻ.
+ Điều kiện then chốt để có thể hành nghề chủ yếu có 3 là trình độ
chuyên môn được xác định bằng một văn bằng, đạo đức được xác định bằng
một lý lịch tư pháp trong sạch, được giám sát thông qua hội những người
hành nghề trong tinh thần tự quản hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền Nhà nước.
+ Quyền hạn và trách nhiệm người hành nghề.
+ Những việc được làm và cần làm:
Thủ tục đăng ký hành nghề
Mối quan hệ với cơ quan và tổ chức có liên quan
Vấn đề thanh tra hành nghề.
Ở các nước các điều kiện trên đây được ghi trên một điều luật quốc gia do
quốc hội thông qua thường được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình
phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội từng giai đoạn.
- Hai là: Những yêu cầu về tư cách lương tâm và trách nhiệm của
người hành nghề đúng với đạo lý xã hội thường được gọi là đạo đức hành
nghề ở nước ta gọi là y đức ở các nước gọi là nghĩa vụ nghề nghiệp
(esthique, ethics, dedontologic). Tất cả những yêu cầu naỳ được tập hợp lại