Trưởng chi nhánh
Kế Toán
Nghiệp vụ
Cửa hàng số
1
Cửa hàng số
2
Cửa hàng số
3
Cửa hàng số
4
Cửa hàng số
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
--------------------------
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤC VỤ VÀ
KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM VĂN GIANG
Sinh viên : NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
Lớp : QLKT – K 35 ĐỊNH KỲ
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn : GS. ĐỖ HOÀNG TOÀN
Hà nội – 2007
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………... Trang 3
Chương I: VAI TRÒ , VỊ TRÍ CỦA CỬA HÀNG BÁN THUỐC
52
III. Những tồn tại vướng mắc………………………………………… 53
1. Những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của chi nhánh..
53
2. Những yếu tố bên trong ảnh hưởng tới hoạt động của chi nhánh..
54
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ
2
VÀ KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH DƯỢC PHẨM VĂN GIANG……… 55
I. Phương hướng và nhiệm vụ của chi nhánh năm 2007…………… 55
II. Một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và
kinh doanh của chi nhánh dược phẩm Văn giang………………… 56
1.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh……………
56
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và kinh
doanh của chi nhánh dược phẩm Văn
giang………………………………… 58
III. Một số kiến nghị với sở y tế Hưng yên và nhà nước…………… 63
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………… 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………… 66
CHỨNG THỰC CỦA CHI NHÁNH…………………………………………… 67
LỜI NÓI ĐẦU
Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi đất nước bắt đầu đổi mới,
chuyển sang cơ chế thị trường. Trong khoảng thời gian đó, nền kinh tế
nước ta đã không ngừng phấn đấu để từng bước hội nhập vào cộng
đồng khu vực và vào cộng đồng quốc tế, xem đây là yêu cầu tất yếu
nhằm đưa Việt nam sớm trở thành quốc gia phồn vinh. Từ nhận thức
trên đây, từ mấy năm qua, từng ngành, từng đơn vị đều có sự chuẩn bị
chuyển đổi từ hình dạng đến nội dung, từ phương thức tới tiềm năng
hoạt động để có thể đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ mới.
và tính mạng con người nên chi nhánh luôn đạt mục tiêu nâng cao đến
chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, sau đó mới đến mục tiêu hoá lợi
nhuận.
Với mong muốn sử dụng những kiến thức học tập trong nhà
trường để phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp cụ thể nên em chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
4
phục vụ và kinh doanh của chi nhánh dược phẩm Văn giang” làm
chuyên đề thực tập của mình.
Đề tài gồm III chương:
Chương I: Vai trò, vị trí của cửa hàng bán thuốc phục vụ nhân dân.
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh dược phẩm
Văn giang.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ và kinh
doanh của chi nhánh dược phẩm Văn giang.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đỗ Hoàng Toàn và các cô
chú trong chi nhánh dược phẩm Văn giang đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn em để em hoàn thành đề tài này trong thời gian tìm hiểu thực tế tại
chi nhánh.
Do thời gian ngắn, trình độ có hạn lại chưa có nhiều kiến thức
thực tế trong lĩnh vực kinh doanh nên không tránh khỏỉ những thiếu
sót. Em mong nhận được sự góp ý của thầy và các cô chú trong chi
nhánh dược phẩm Văn giang để sự hiểu biết của em về lĩnh vực này
được đầy đủ hơn.
5
Chương I
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CỬA HÀNG BÁN THUỐC
PHỤC VỤ NHÂN DÂN.
I. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ MẠNG LƯỚI CUNG ỨNG THUỐC.
1. Chính sách quốc gia về thuốc của Việt nam:
1.3. Phần chính sách cụ thể:
* Về vấn đề sử dụng thuốc:
Chính sách để giúp người dân sử dụng thuốc an toàn và hợp lý đó
là “ chương trình thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc hợp lý an toàn”.
Cụ thể là:
Các quy định về thuốc thiết yếu cho các tuyến điều trị nhằm giúp
cho các tuyến sử dụng thuốc đúng, an toàn và sát thực tế, đạt hiệu quả
cao và kinh tế.
Quy định chế độ sử dụng thuốc kháng sinh nhằm chống hiện
tượng nhờn thuốc do thiếu hiểu biết khi dùng thuốc kháng sinh.
Biên soạn dược thuốc quốc gia Việt nam và quy định thống nhất
danh pháp thuốc.
Tiến hành thử nghiệm đánh giá thuốc một cách kỹ lưỡng để đảm
bảo sức khoẻ cho cộng đồng và an toàn cho người sử dụng. Qua đó loại
bỏ những thuốc có nhiều tác dụng phụ, những thuốc kém hiệu quả trong
điều trị bệnh ra khỏi công tác điều trị và lưu thông.
* Về vấn đề cung ứng, xuất nhập khẩu thuốc:
7
Trong tình hình hiện nay các doanh nghiệp dược nước ta muốn có
chỗ đứng trên thương trường thì phải được cải tổ, tổ chức lại ngành
công nghiệp dược theo hướng chuyên môn hoá hiện đại hoá. Đồng thời
khuyến khích mọi thành phần kinh tế tạo nguồn thuốc và nguyên liệu
làm thuốc để xuất khẩu, trên cơ sở đó tăng nhập khẩu các loại thuốc
được phép lưu hành.
Bên cạnh đó quy định danh mục thuốc được lưu hành và đảm bảo
cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu cho công tác phòng và chữa bệnh cho
nhân dân.
* Về thuốc y học cổ truyền:
Xu hướng của nền y học hiện nay ở nước ta là đông tây y kết hợp
và trở về với các vị thuốc dân tộc. Do đó nhà nước đã có những chính
Trên các lĩnh vực sản xuất, cung ứng, sử dụng, kiểm tra chất
lượng và quản lý thuốc.
* Kinh tế, tài chính, giá thuốc:
Nhà nước sẽ giành tỉ lệ thích đáng về tài chính cho việc sản xuất,
cung ứng thuốc.
Có chính sách về giá thuốc thích hợp đảm bảo cho việc thực hiện
thành công chính sách quốc gia về thuốc ở Việt nam.
2. Quan điểm , chủ trương về thuốc ở Việt nam.
2.1. Những điều cơ bản về phân phối thuốc:
Trong mọi hoạt động xã hội, bất cứ ở lĩnh vực nào, nếu tổ chức và
nội dung không được xác định một cách vững chắc và ổn định trong một
thời gian tương đối dài, mà cứ mỗi lúc lại có sự đổi thay, hoặc có nhiều
ngoại lệ, thì hoạt động đó trở nên lộn xộn và khó đem đến một kết quả
9
tích cực. Đối với một ngành nào đó sau khi một đương lối chiến lựơc xây
dựng và phát triển được vạch rõ ràng, biện pháp tổ chức phải được đặt
ra hàng đầu, đổi mới là nội dung và kế hoạch cụ thể, việc chuẩn bị đội
ngũ cán bộ thực hiện được nêu ra sau cùng. Riêng trong phạm vi tổ
chức, các loại hình hoạt động với mối liên hệ lẫn nhau và kết thành một
hệ thống chặt chẽ là yêu cầu bức thiết để có thể triển khai chiến lược.
Cho nên, nếu có hiện tượng thiếu ổn định, thiếu trật tự trong một
lĩnh vực, đầu tiên phải tìm nguyên nhân trong tổ chức.
Trong mấy năm qua, và mãi đến bay giờ dư luận và xã hội liên tục
cho rằng có sự “lộn xộn” trên mặt trận lưu thông phân phối thuốc men,
nội bộ ngành cũng có nhận định như vậy và rõ ràng là nhân dân không
yên tâm. Như vậy chắc trong tổ chức có điều gì chưa ổn, hãy xem xét
xem lỗ hở ở chỗ nào.
Mục tiêu chiến lược cơ bản của việc cung ứng thuốc men là với
nhận thức thuốc là hàng hoá đặc biệt, đưa thuốc có chất lượng cao tới
tận tay người bệnh, trong điều kiện hợp lý và đảm bảo an toàn, không
vốn tư nhân. Hai loại đơn vị chỉ có một điểm khác nhau duy nhất là
nguồn vốn, còn mọi luật pháp, qui chế Nhà nước đều phải thực hiện như
nhau; tuyệt đối không thể có ưu tiên hay đặc cách nào khác cho loại đơn
vị này hay loại đơn vị kia, dù ngoài phố hay khuôn viên bệnh viện. Vì
thiếu dược sĩ đại học, nên Nhà nước có chấp nhận việc tổ chức những
vùng nông thôn hẻo lánh các đại lý, do một dược sĩ trung học phụ trách
với một danh mục mặt hàng nhất định phù hợp với nhu cầu của địa bàn
và khả năng của dược sĩ.
Việc bán sỉ do các đơn vị sau đây đảm nhận:
11
+ Xí nghiệp dược phẩm (được gọi là công ty sản xuất bán những
mặt hàng do mình sản xuất ra. Ở các nước phát triển, xí nghiệp giao cho
một công ty riêng phụ trách.
+ Các công ty dược phẩm thuốc các loại hình (quốc doanh, cổ
phần, trách nhiệm hữu hạn)
+ Các công ty nhập khẩu cũng thuộc các loại hình
+ Các trung tâm bác sĩ ở các thành phố lớn nếu được xem là một
giải pháp tạm thời.
Những dược sĩ phụ trách các hiệu thuốc và nhà thuốc tham gia
vào các chi hội dược sĩ hành nghề của hội dược học, để cùng nhau thực
hiện tự quản về việc tuân thủ và chấp hành luật lệ và qui chế.
Tổ chức trên đây sau khi được khảo sát kỹ cần được ổn định và áp
dụng thường xuyên suốt trong cả nước. Trong thời gian ít nhất 5 năm.
Nếu giải quyết linh động, mỗi địa phương mỗi khác, mỗi lúc đều có sự
thay đổi theo một bối cảnh nào đó, lập tức sẽ xảy ra hiện tượng lộn xộn,
ảnh hưởng ngay đến kết quả của việc cung ứng và mục tiêu chiến lược
sẽ không đạt được. Do đó, nhất định cần hoàn thành tổ chức phân phối
thuốc men theo phương hướng nói trên.
2.2. Chủ trương về mạng lưới cung ứng thuốc:
Kể từ ngày nước nhà giành lại độc lập đến nay trải qua hơn sau
Một chính sách quốc gia cũng đã được ban hành để đạt công tác
dược vào hướng phát triển có nề nếp, vừa thuận lợi và an toàn cho dân,
vừa có lợi cho nền kinh tế quốc gia.
Nhìn chung, mọi người dân, dù ở thành phố, hay ở những nơi xa
xôi, hẻo lánh, đều mong được chăm sóc sức khoẻ như nhau đúng theo
13
yêu cầu của công bằng xã hội. Làm sao ai cũng được hưởng ai cũng như
ai, dù ở mức tối thiểu, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà thế giới đạt
được, mà điều kiện ở nước ta cho phép có được. Mong sao tỉ lệ các bệnh
tật ngày càng giảm sút, các dịch bệnh bị chặn đứng, bị đẩy lùi đến mức
có bệnh bị thanh toán, không còn đường trở lại. Với đà đó, mong sao tỉ
lệ tử vong, nhất là tỉ lệ tử vong ở trẻ em ngày càng được hạ xuống, để rồi
người dân Việt nam ngày càng thêm cường tráng, với yêu cầu cải tiến
nòi giống như văn kiện của Đảng đã nêu ra.
Muốn vậy, mạng lưới y tế cung cấp thuốc ngày càng được mở
rộng. Từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu vùng xa. Một đội ngũ
cán bộ ngày thêm đông đảo, ngày càng thêm thuần thục, và được đãi
ngộ tốt hơn, lúc nào cũng tận tuỵ với công cuộc bảo vệ sức khoẻ của
nhân dân. Những cơ sở y tế ngày càng khang trang, với những trang
thiết bị hiện đại sẽ là chỗ dựa vững chắc cho một nền y tế tiến bộ. Các
phương pháp đề ra phòng bệnh đi đôi với việc bảo vệ môi trường, việc
phổ cập kiến thức ăn ở lành mạnh sẽ góp phần không ngừng nâng cao
sức khoẻ của nhân dân.
Một nền công nghiệp dược phẩm tiên tiến, hiện đại sẽ nhanh
chóng đuợc hình thành để cung cấp đầy đủ thuốc men cho dân, sao cho
thuận lợi và ai cũng có thể được hưởng.
II. VAI TRÒ CỦA CÁC CỬA HÀNG THUỐC:
1. Khái niệm hiệu thuốc: [7]
Hiệu thuốc là một đơn vị cung ứng thuốc và dụng cụ y tế cho công tác
phòng và chữa bệnh trực thuộc công ty dược phẩm hoặc xí nghiệp dược
nước, thuốc nước ngoài đã có số đăng ký)
15
Thuốc nước ngoài chưa đăng ký tại Việt Nam nhưng được nhập
khẩu theo giấy phép của bộ y tế.
Các nguyên liệu dùng để sản xuất thuốc chỉ được cung cấp cho các
đơn vị có thuốc đã được Bộ y tế cấp sổ đăng ký, không được bán cho các
đối tượng khác không có chức năng sản xuất thuốc.
Việc kinh doanh thuốc gây nghiện được thực hiện theo qui chế quản lý
thuốc gây nghiện.
Việc kinh doanh thuốc hướng tâm thần và tiền chất được thực
hiện theo qui chế quản lý thuốc tâm thần.
2.1.2.2. Thuốc không được phép kinh doanh:
Thuốc thuộc danh mục thuốc cấm nhập khẩu. Thuốc đã mua để
sử dụng cho các chương trình y tế quốc gia (với cơ sở bán buôn thuốc),
thuốc pha chế theo đơn (từ các cơ sở bán lẻ thuốc có chức năng pha chế
theo đơn thuốc viện trợ.
Thuốc chưa có giấy phép đăng ký lưu hành do Bộ y tế cấp. Thuốc
nước ngoài chưa đăng ký mà không có giấy phép nhập khẩu của Bộ y tế.
Thuốc đã hết hạn dùng (riêng bán buôn không được, bán buôn thuốc
còn hạn sử dùng trong hai tháng), thuốc không đạt tiêu chuẩn chất
lượng.
Thuốc kê đơn khi không có đơn của bác sỹ (đối với cơ sở bán lẻ
thuốc)
Thuốc không rõ nguồn gốc
Thuốc thú y:
Các cơ sở bán lẻ thuốc không được bán buôn thuốc, mua bán
nguyên liệu làm thuốc, hoá chất xét nghiệm , mua bán thuốc gây nghiện
(từ các doanh nghiệp Nhà nước được chỉ định cụ thể tại qui chế quản lý
thuốc gây nghiện)
16
* Chức năng kinh doanh:
Vậy kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn cuả quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. [5]
Theo khái niệm trên, kinh doanh thể hiện một số đặc trưng sau:
+ Kinh doanh là loại hành vi mang tính chất nghề nghiệp
+ Kinh doanh có thể là việc thực hiện một, một số, hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ.
+ Hành vi kinh doanh diễn ra trên thị trường
+ Hành vi kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời.
Như vậy hiệu thuốc có chức năng kinh doanh vì:
Nó cung ứng dịch vụ trên thị trường và nhằm mục đích sinh lời
(cung ứng thuốc phòng chữa bệnh và dụng cụ y tế cho nhu cầu phòng
chữa bệnh cho nhân dân trong toàn huyện và nhằm mục đích sinh lời).
* Chức năng dự báo thị trường:
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt và bệnh tật nó cũng có những
đặc tính riêng của nó. Ví dụ về mùa hè nóng lực có thể xuất hiện nhiều
các bệnh của mùa hè (thậm trí có thể gây lên hành dịch) như tả, lị, viêm
não trẻ em…. Mùa đông thì hay gặp các bệnh về đường hô hấp, nứt nẻ
chân tay, đau khớp…. Dựa vào đó mà các nhà sản xuất và các nhà kinh
doanh có thể có kế hoạch sản xuất và kinh doanh những mặt hàng chủ
yếu về các bệnh đó nhiều hơn để cung ứng đủ thuốc, đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Qua đó, thực sự các hiệu thuốc, những nơi cung ứng
18
thuốc đã thực hiện thêm một chức năng mới đó là chức năng dự báo thị
trường.
3. Những nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của chi nhánh.
3.1. Vốn:
Khái niệm vốn đầu tư của doanh nghiệp: [4]
3.3. Nguồn gốc thuốc cung ứng và khách hàng:
3.3.1. Nguồn thuốc cung ứng:
Trước hết nguồn thuốc cung ứng phải đưa chất lượng thuốc lên
hàng đầu (cung ứng thuốc tốt cho khách hàng), sau đó mới đến giá cả
phải hợp lý. Thêm vào đố là phong cách phục vụ phải tốt (hay nói cách
khác văn hoá doanh nghiệp phải tốt). Qua đó dần dần chi nhánh sẽ tạo
ra uy tín cho doanh nghiệp và văn minh thương mại.
Uy tín doanh nghiệp là một trong những tài sản vô hình của
doanh nghiệp trong thời đại ngày nay. Giá trị nguồn tài sản này cao sẽ
giúp doanh nghiệp tăng khả năng thâm nhập thị trường, sản lượng tiêu
thụ lớn doanh thu tăng và hiệu quả kinh doanh được nâng cao.
Văn minh thương mại làm tăng hiệu quả kinh doanh. Nó là một
trong hai yếu tố thu hút khách hàng đầu tư đến với doanh nghiệp: chất
lượng, sản phẩm, giá cả và chất lượng phục vụ.
3.3.2. Khách hàng
Muốn chất lượng phục vụ được nâng cao chi nhánh phải xác định
rõ đâu là khách hàng mục tiêu đó là các bệnh nhân (người bệnh).
20
Chi nhánh phải xác định những đặc điểm của khách hàng hiện có
và tiềm năng có mong muốn và sẵn sàng mua sản phẩm nhất từ đó đánh
giá và tuyển chọn được các khách hàng có triển vọng…
Do cuộc sống ngày càng được nâng cao, mong muốn chăm sóc sức
khoẻ ngày càng được nâng cao, chi nhánh cần chú ý đến đối tượng có
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ví dụ như: Các cụ già cần sức khoẻ chi
nhánh tư vấn hướng dẫn các cụ dùng thuốc bổ để nâng cao thể lực. Đối
với những khách hàng trung niên có nhu cầu chăm sóc sắc đẹp chi
nhánh nên tư vẫn dùng các loại thuốc về chăm sóc sắc đẹp làn da, cơ
thể…
Phát huy những khách hàng triển vọng tốt trên căn cứ vào các
biến số như tuổi, giới tính, trình độ, học vấn và lý do mua…
phương pháp để điều trị 184 chứng bệnh.
Thế kỷ XVIII thời nhà Lê, đại danh y Lê Hữu Trác (hiệu là Hải
Thượng Lãn Ông) đã biên soạn bộ sách đồ sộ “Hải Thượng y Tôn Tâm
Lĩnh” (gồm 28 tập 66 quyển). Ông đã hệ thống hoá khá đầy đủ về lý
luận đông y và phương dược thuốc nam, thuốc bắc kết hợp để điều trị
bệnh nội, ngoại, nhị, khoa, phụ khoa. Ông cũng bổ sung 30 vị thuốc nam
cho bộ sách thuốc “Nam dược thần hiệu”. Sự nghiệp của Hải Thượng
Lãn Ông đã góp phần cho nền y dược học Việt Nam phát triển đến mức
độ cao, có những phương pháp chữa bệnh và những phương pháp chữa
bệnh và những bài thuốc phù hợp với cơ thể bệnh lý, điều trị khí hậu
Việt Nam, tình hình sức khoẻ và thể chất con người Việt Nam.
Trong thời kỳ này, y học chủ yếu phục vụ giai cấp thống trị. Mặc
dù y học có một tác động to lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Ngành y, dược thời kỳ này chưa có sự tách biệt.
c) Thời kỳ Pháp, Nhật đô hộ:
Nền y học dân tộc không được phát triển mà còn bị mai mòn đi
do tây y chính thức được truyền vào Việt Nam. Dược phẩm chủ yếu
nhập từ Pháp quốc đều là thuốc tây dược. Nền y dược Việt Nam mang
tính chất kinh doanh đơn thuần và chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống
trị. Thực dân Pháp, phát xít Nhật cấm lương y hành nghề tự do, cấm
dùng thuốc độc trong thang thuốc đông y. Các cơ sở sản xuất thuốc hết
sức nghèo nàn và thô sơ.
Hệ thống y tế Nhà nước chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị và
người giàu.
23
d) Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay
* Thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Ngay từ những ngày đầu của cách mạng Việt Nam, Bộ y tế đã
được thành lập để lo việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Trong 9 năm
kháng chiến, một cơ sở phòng chữa bệnh ta sản xuất thuốc đuợc thành
giaỉ pháp cụ thể làm cơ sở cho mọi hoạt động cho ngành y tế trong đó có
ngành Dược phấn đấu dể mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế cho chất
lượng kỹ thuật cao giúp cho mọi người dân đều được sống trong cộng
đồng an toàn phát triển tốt về thể chất và tinh thần giảm tỷ lệ phát bệnh
nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
1.2. Hành nghề y dược
Trong bất cứ xã hội nào hoạt động của hàng trăm hành nghề khác
nhau tạo nên cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân. Xã hội càng
phát triển văn minh càng nâng cao nhiều ngành mới ra đời và ngày càng
được trao dồi điêu luyện, nghề nào cũng góp phần vào nền kinh tế văn
hoá của mọi cộng đồng.
Nghề y dược với chức năng bảo vệ duy trì và nâng cao sực khoẻ
con người có mặt từ khi xã hội có loài người và là một trong rất ít nghề
sớm nhất có trường đào tạo sớm. Vì đụng chạm và tác động thường
xuyên đến sinh mạng con người nên ngành y dược là một trong những
ngành có đòi hỏi điều kiện cao nhất. Không những phải có một văn bằng
xác nhận trình độ mỗi người trong từng lĩnh vực chuyên môn mà muốn
hành nghề phải xin phép và được một cơ quan có thẩm quỳên cấp giấy
25