Đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể. Vận dụng vào việc học và hành của sinh viên hiện nay” - Pdf 12



1

Đề tài:
“Mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể.
Vận dụng vào việc học và hành của sinh viên hiện nay” 2
LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói giáo dục đã, đang và sẽ luôn là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết
được toàn xã hội quan tâm. Và trong đó giáo dục Đại học đóng vai trò là một
tâm điểm lớn. Tuy nền giáo dục Đại học Việt Nam đã đạt được những thành
tựu đáng kể song vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định. Một nền giáo
dục đại học chỉ được xem thành công khi nền giáo dục ấy đóng góp cho xã
hội những cá nhân có đầy đủ trí và lực đáp ứng được những nhu cầu về lao
động trình độ cao và nhu cầu khoa học nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển
của xã hội. Bởi thế "phát triển giáo dục đại học" đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu "mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể
và khách thể. Vận dụng vào việc học hành của sinh viên hiện nay" là một
hướng nghiên cứu hết sức quan trọng giúp chúng ta hiểu được thực trạng giáo
dục Đại học Việt Nam, từ đó giúp đề ra những giải pháp, kiến nghị phát triển

gốc quá trình để có những ý thức tính đa dạng để nhận thức được nhiều tri
thức. Thành phần chủ thể quyết định ý thức của từng thời kì. Chẳng hạn như
thời kỳ "chiếm hữu nô lệ" thì tri thức của chủ nô - giai cấp thống trị đặt ra luật
bắt các giai cấp khác phải thực hiện.
2. Khách thể.
Khách thể là đối tượng của nhận thức để làm rõ bản chất của ý thức. Nó
là đối tượng quyết định nhận thức, tri thức của chủ thể có được do đời sống xã
hội quyết định về mặt kết cấu: gồm có hiện thực khách quan và tri thức thời
đại.
Hiện thực khách quan: Định nghĩa vật chất qui định nhận thức kế thừa
những tri thức của người khác, nhận thức được như thế nào để vận dụng vào 4
đời sống. Từ bản chất qui định nhận thức của con người, nhận thức gắn liền
với đối tượng. Khách thể và tri thức có những sự đồng nhất, nó không giống
nhau. Vì tri thức của mỗi con người có hạn nên có tri thức chúng ta phải kế
thừa. Bởi vậy mà "Giáo dục là quốc sách".
Để biến tri thức thành khách thể phải vận dụng vào thực tiễn.
3. Mối quan hệ biện chứng chủ thể - khách thể
Quan hệ của chủ thể nhận thức đối với khách thể trước hết là quan hệ
vật chất, quan hệ cảm tính đối tượng chủ thể chân chính của nhận thức và của
hoạt động thực tiễn được C.Mác coi là con người là xã hội loài người. Trong
quá trình đấu tranh đối mặt với tự nhiên và trong quá trình sản xuất xã hội,
loài người đã sản sinh ra chính con người cùng với ý thức của họ và cả hệ
thống hoạt động lý luận - tinh thần của họ. Triết học trước Cantơ chưa đề xuất
tư tưởng vệ tinh tích cực về hoạt động của chủ thể nhận thức. Triết học đó
tiếp cận đối tượng một cách thụ động, nó chưa thể hiện được chức năng hoạt
động tích cực của chủ thể trong quan hệ với đối tượng của hoạt động lý luận.
Khác với các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, các nhà duy lý có quan tâm đến

2. Mặt hạn chế
Sinh viên ta mắc "bệnh" thụ động trong học tập, sinh viên không chịu
tìm tòi sách, tài liệu phụ lục cho chuyên môn của mình, mặc dù trong phương
pháp giảng dạy đại học nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những
tư liệu đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo.
Phần lớn sinh viên Việt Nam thiếu khả năng sáng tạo. Một kết quả
nghiên cứu gần đây về tính sáng tạo của sinh viên ở một trường đại học lớn
của Việt Nam cho biết trong một mẫu điều tra khá lớn gồm hàng ngàn sinh
viên, chí có khoảng 20% sinh viên đặt hoặc vượt mức sáng tạo trung bình của
tụ giới. Như vậy có tới 80% sinh viên có tính sáng tạo thấp hơn mức trung
bình. Đây là một thông tin sét đánh, buộc các nhà giáo dục học phải nghiêm
túc xem lại phương pháp, chương trình, cách tổ chức dạy và học trong các
trường đại học của Việt Nam.
"Lười đọc…." là lời tự thú của nhiều sinh viên thời hiện đại. Khảo sát
ngẫu nhiên một số sinh viên các trường đại học, cao đẳng về việc đọc sách 6
báo của họ, số đồng đều ngắc ngứ rằng "có đọc" nhưng chỉ đọc một số cuốn
theo phong trào và chỉ xem sách chuyên ngành khi bị thúc bách về mặt bài vở,
có sinh viên sắp ra trường vẫn chưa một lần ghé thăm thư viện. Một số đông
sinh viên ít đọc có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng nói
chung họ rất thụ động trong việc học. Thụ động bởi sinh viên chỉ đọc giảng
viên yêu cầu thuyết trình một đề tài, viết một bài tiểu luận hoặc khi được
khuyến khích bởi một người khác về một cuốn sách hay nào đó, tức chỉ khi bị
áp chế hoặc được truyền cho niềm tin thì họ mới đổ xô đi đọc.
Có quá nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi và cũng có quả nhiều sinh
viên quên mọi thứ trên đời để học. Cả hai kiểu học như thể đều mang lại
những kết quả tiêu cực khác nhau. Một bên là sự hụt hẫng về kiến thức,
thường xuyên đối mặt với nguy cơ bị đuổi học còn bên kia lại là sự mệt mỏi,

công nghiệp tiên tiến. Hiện nay, bởi họ chỉ là sản phẩm của nền giáo dục
"khoa cử rất mạnh về học để thi nhưng kém về "học để làm" và "học để sáng
tạo". Do đó mà từ lâu các "sản phẩm" của nền giáo dục đại học của ta đã
thường xuyên bị kêu ca là không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Xét về trình độ thực tế của sinh viên tốt nghiệp thì quả là còn yếu kém,
một số ngành rất yếu. Về kiến thức, kỹ năng thực hành, tính chủ động sáng
tạo, về khả năng diễn đạt bằng nói hay viết sinh viên ta đều kém, tuy cá biệt
có những người rất xuất sắc, nhưng số này không nhiều cũng chẳng có gì lạ,
vì nhiều nơi coi đại học là "học đại".
3. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới nền giáo dục đại học
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định yêu cầu mới
của nền giáo dục là: chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người sang chủ
trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời. Vấn đề mấu chốt
trong đổi mới sự nghiệp giáo dục Việt Nam mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng khẳng định là "chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang
mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời
đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, xây dựng và phát
triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành
linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội 8
khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục. Đây
là cách đặt vấn đề giáo dục với yêu cầu mới: chuyển từ chủ trương giáo dục
cho mọi người sang chủ trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập
suốt đời. Cách đặt vấn đề trên căn cứ vào tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học
đồng thời căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại. Đến thăm lớp nghiên cứu chính trị khóa I trường đại
học nhân dân Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Học hỏi là một việc phải
tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai

trong thế giới hiện đại. Giáo dục đại học là một động lực mạnh để phát triển
kinh tế - một động lực mà giáo dục trung học không thể tạo ra được song
cũng phải thừa nhận rằng giáo dục đại học luôn là tiêu điểm của việc học
trong xã hội. Trường đại học vừa lưu giữ, vừa sáng tạo những tri thức, lại là
một chuyển tải kinh nghiệm văn hóa và khoa học - công nghệ cho các thế hệ
theo học. Giáo dục thường xuyên phải gắn với cộng đồng, mục tiêu của nó
nhằm tạo nguồn nhân lực phục vụ những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng
địa phương nên cách tổ chức của nó thường bám chắc trong từng cộng đồng.
III. GIẢI PHÁP
1) Giải pháp nâng cao việc học và hành của sinh viên hiện nay.
Tạp chí Scien et vie (Pháp) đã viết: "Ai tự học mạnh nhất, người đó tích
lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất. Ngược lại, ai có nhu cầu sáng
tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn".
Tự học để tiếp cận với sáng tạo. Sinh viên phải luyện độ tìm tòi và kỹ
năng ứng biến. Đó là tiêu chí cần thiết để phân định sự thông thái của một chủ
thể nhận thức đồng thời là chủ thể sáng tạo. Trí thông minh và óc sáng tạo của
mỗi người được thể hiện chủ yếu bằng hành động, thay vì chỉ dừng lại ở ý
thức được thể hiện chủ yếu bằng sự đáp ứng những thử thách trong quá trình
vận dụng kiến thức thay vì chỉ quanh quẩn ở việc vun bồi kiến thức. Bởi vậy
các chuyên gia UNESCO đã có lý khi khẳng định: "người hiểu biết ít mà vận
dụng nhiều (có hiệu quả) biểu hiện một trí tuệ hơn hẳn một người biết nhiều
mà vận dụng ít". Sinh viên không chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, mà phải

10

chuyển sang thái độ tìm tòi cách cải biến và cách ứng dụng sự lĩnh hội đó.
Đối với những người có thái độ học sáng tạo thì sự tìm tòi đó có thể là:
* Tìm hiểu nhu cầu xã hội hoặc nhu cầu khoa học đối với một sản
phẩm nào đó.
* Tìm hiểu những ưu điểm vượt trội cùng với những khuyết tật lớn nhỏ

sinh ra trường chưa đủ khả năng sẵn sàng để đảm nhận được các công tác,
chức vụ mà đáng lẽ họ phải có khả năng ứng xử độc lập. Vì vậy mà sinh viên
phải phát triển cho mình khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề có óc
thực tế, không định kiến, không câu nệ thành kiến. Muốn bắt kịp đà tiến của
khoa học kỹ thuật thì sinh mình cần thay đổi phương pháp học tập lấy người
học làm trung tâm. Muốn được như thế dĩ nhiên không chỉ cần có sự thay đổi
tư duy của người học mà còn phải có sự thay đổi phù hợp trong hệ thống giáo
dục và đào tạo nước ta.
Ngày nay công nghệ thông tin được công nhân là một bộ phận không
thể thiếu được trong giáo dục. Sinh viên tích vực tiếp cận, truy cập Internet để
có được những thông tin khoa học mới nhất hay có cơ hội trao đổi ý kiến với
bạn bè thế giới.
Phải biết vận dụng những tri thức lĩnh hội được vào thực tế, không chỉ
toàn là lý thuyết. Vận dụng chúng vào sản xuất,nghiên cứu…
2. Kiến nghị về phát triển giáo dục đại học
Trong thời đại cách mạng công nghệ, Đại học có vai trò chỉ đạo trong
toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và trong khu
vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu còn xa hơn giáo dục
phổ thông. Trước đây ta xây dựng đại học theo mô hình Liên xô cũ, nay nền
đại học đó không còn thích hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước,
song những biện pháp sửa đổi, chắp vá và thời gian qua đã phá vỡ tính hệ
thống của nó, rốt cuộc tạo ra cảnh tượng lộn xộn không còn chuẩn mực, khôn
theo quy củ,tùy tiện và kém hiệu quả. Muốn thoát ra khỏi tình trạng này cần
có thời gian và một lộ trình hiện đại hóa thích hợp. Trước mắt để tạo điều
kiện thuận lợi cho toàn bộ công cuộc hiện đại hóa, nên tập trung chỉnh đốn
một số khâu then chốt đang tác động tiêu cực đến sự phát triển bình thường

12

của đại học. Đồng thời xây dựng mới một đại học thực sự hiện đại, làm hoa


thời gian dài cho đến hiện nay, ở nước ta đã thực hiện khá tùy tiện và còn quá
nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự trì trệ kéo dài
của Đại học chính là ở công tác này, thể hiện khá tập trung những chính sách
nhân tài. Do đó để mở đường hiện đại hóa đại học, cần sớm chấn chỉnh công
tác chức danh GS, PGS, trước hết cải tổ "Hội đồng chức danh GS" thành một
hội đồng không trực tiếp công nhận các chức danh mà chỉ xét duyệt hàng
năm, định kỳ để công nhận những người đủ tư cách ứng xử vào các chức danh
GS, PGS ở các đại học và viện nghiên cứu. Hàng năm các Đại học và viện
nghiên cứu công bố như cần tuyển GS, PGS để bất cứ ai đã được công nhận
"đủ tư cách" đều có thể dự tuyển.
Thứ 4 là cải thiện chính sách sử dụng giảng viên đại học. Tình trạng
phổ biến hiện nay ở các Đại học là giảng viên dạy quá nhiều giờ (25 - 30 giờ
mỗi tuần không phải là hiếm). Kể cả giờ dạy trong trường, ngoài trường, dưới
nhiều hình thức khác nhau, dạy "liên kết" ở các địa phương, dạy tu, luyện
thi… do đó ngay ở các đại học lớn, cũng rất ít nghiên cứu khoa học và nhiều
người đã lâu không có thói quen cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nhưng
lại sản xuất đều đều cử nhân, Thạc sĩ, thậm chí cả tiến sĩ. Trình độ GS, PGS
của ta nói chung khá thấp so với quốc tế, cả nước số GS đã được công nhận
mới chiếm tỷ lệ chưa tới 0,1% số PGS chưa tới 5%, trong toàn bộ số giảng
viên đã học. Nếu kể cả những người thực tế có năng lực nhưng chưa được
công nhận GS, PGS do cách tuyển chọn chưa hợp lý, đội ngũ giảng viên đại
học vẫn còn yếu kém về trình độ và số lượng mà tuổi tác lại khá cao đó là tình
trạng không thể chấp nhận được cần có biện pháp cải thiện nhanh.
Thứ 5 là đổi mới các trường sư phạm và chính sách đào tạo giáo viên
phổ thông. Cần nghiên cứu lại chủ trương xây dựng những trường sư phạm
trọng điểm vì theo kinh nghiệm các nước, chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học
mới cần được đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm, còn giáo viên THCS và
THPT trở lên thì trước hết phải được đào tạo vững vàng về chuyên môn khoa
học rồi mới bổ túc kiến thức và kỹ năng sư phạm. Do đó, phải thay đổi cách


KẾT LUẬN

Có thể nói trong thời đại cách mạng công nghệ, đại học có vai trò chủ
đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và
khu vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu.
Phát triển con người là vấn đề trọng tâm của mỗi quốc gia. Hầu hết các
nước trên thế giới đều giương cao khẩu hiệu "giáo dục là quốc sách hàng đầu
và dành nhiều tâm sức để xây dựng và phát triển giáo dục nhằm đào tạo cho
xã hội lực lượng lao động có năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng,
thỏa mãn được yêu cầu của thị trường về tiêu chuẩn văn hóa, chuyên môn -
nghiệp vụ của thị trường.
Một nền giáo dục đại học chỉ được xem thành công khi nền giáo dục ấy
đóng góp cho xã hội những cá nhân có đầy đủ trí và lực, đáp ứng được những
nhu cầu về lao động trình độ cao và nghiên cứu khoa học nhằm góp phần thúc
đẩy sự phát triển của xã hội, đất nước.
Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách
thể. Vận dụng thúc đẩy việc học và hành của sinh viên hiện nay mang một ý
nghĩa vô cùng to lớn có ý nghĩa thực tiễn cao. Sinh viên phải có được phương
pháp để tiếp thu tri thức thời đại, rồi vận dụng thật tốt những tri thức đó vào
thực tế góp phần xây dựng một xã hội ngày càng phồn vinh, tươi đẹp. 16

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG Error! Bookmark not defined.
I. Mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể Error! Bookmark



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status