1
BẢN CHẤT KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP VÀ
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH TÍCH
TỤ RUỘNG ĐẤT
Trần Văn Con
Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Lâm sinh
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM T ẮT
Bài viết phân tích các bản chất kinh tế của rừng và đặc trưng cơ bản của quá trình sản
xuất lâm nghiệp trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường chịu sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa để làm rõ tính tất yếu khách quan của quá
trình tích tụ ruộng đất trong phát triển rừng và nghề rừng ở nước ta hiện nay. Bản chất
kinh tế của rừng được thể hiện ở ba thuộc tính cơ bản: (i) nó vừa là đối tượng vừa là tư
liệu sản xuất; (ii) giá trị sử dụng của rừng mang tính tổng hợp và đa mục đích và (iii) giá
trị sử dụng của rừng mang tính tiềm năng nghĩa là ích lợi của rừng không chỉ nằm ở các
giá trị sử dụng của sản phẩm và dịch vụ của nó mà còn ở khả năng tái tạo ra các giá trị
đó. Đặc trưng cơ bản của quá trình sản xuất lâm nghiệp là ở chổ kết hợp hài hoà quá trình
tái sản xuất sinh học có luân kỳ lâu năm với quá trình tái sản xuất kinh tế có chu kỳ hàng
năm. Do dó, đối tượng sản xuất lâm nghiệp không phải là một hay tổng của nhiều cây,
hoặc một hay tổng của nhiều lâm phân cộng lại một cách đơn thuần mà là một đơn vị
quản lý rừng (FMU) có diện tích đủ lớn, có cấu trúc không gian và thời gian thích hợp để
lấy không gian thay thế thời gian nhằm kết hợp tối ưu hai quá trình tái sản xuất sinh học
và tái sản xuất kinh tế. Giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng và tổ chức
ngoài nhà nước là sự cần thiết để thực hiện việc chuyển đổi một nền lâm nghiệp Nhà
nước với đặc trừng tập trung, quan liêu, bao cấp và kém hiệu quả thành một nền lâm
nghiệp xã hội với sự tham gia tích cực của mọi thành phần kinh tế; tạo ra sự công bằng về
cơ hội phát triển kinh tế cho mọi thành phần. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này là việc
chia lẻ rừng, đất lâm nghiệp vào tay các chủ rừng không thuận lợi cho quá trình sản xuất,
Nghi định 163/1999/CP ngày 16/11/1999.
(ii) Quá trình tích tụ (tập trung ruộng đất) do nhu cầu của sản xuất kinh tế thị trường ở
qui mô lớn, nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sản xuất lâm nghiệp và cũng là
xu thế khách quan của quá trình sản xuất lâm nghiệp. Về mặt pháp lý thì hiện chưa có
những qui định riêng cho quá trình tích tụ ruộng đất, nhưng cũng có nhiều qui định trong
các văn bản pháp luật về đất đai tạo tiền đề pháp lý cho quá trình này.
Mục tiêu của bài này nhằm xác định bản chất kinh tế và các đặc trưng cơ bản của quá
trình sản xuất lâm nghiệp làm cơ sở khoa học cho tính tất yếu khách quan của quá trình
tập trung và tích tụ ruộng đất trong kinh doanh lâm nghiệp.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết này trình bày 3 nội dung nghiên cứu chính: (i) Bản chất kinh tế của rừng và nghề
rừng; (ii) Rừng với tư cách là đối tượng sở hữu; (iii) Tính tất yếu khách quan của quá
trình tích tụ ruộng đất trong sản xuất lâm nghiệp.
Phương pháp tiếp cận các chủ đề nghiên cứu để đưa ra các luận cứ, luận điểm trong bài
viết này chủ yếu từ nguồn tổng quan phân tích và tư duy lý luận về cơ sở triết học, bản
chất kinh tế của của rừng và nghề rừng, kết hợp với các kết quả khảo sát theo dõi hoạt
động thực tiễn trong ngành.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Bản chất kinh tế của rừng và nghề rừng:
Các giá trị đa dạng và tổng hợp của rừng có thể phân thành 5 nhóm các chức năng sau
đây:
(1) Chức năng sản xuất (hay chức năng kinh tế) Gkt: thể hiện ở khả năng sản xuất ra
các lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá trị thương mại và giá trị sử dụng vật chất.
(2) Chức năng phòng hộ Gph: thể hiện ở khả năng bảo vệ không gian sống, không
gian sản xuất trước các nguy cơ của thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt lở, tiếng ồn
(3) Chức năng môi sinh Gms: thể hiện ở khả năng tái tạo lại và điều hoà các nhân tố
cơ bản của sự sống như: nước, không khí, khí hậu, đất đai
(4) Chức năng giải trí Ggt: thể hiện ở khả năng khôi phục sức khoẻ, giảm stress, thư
giản tinh thần cho con người.
(5) Chức năng bảo tồn đa dạng sinh học: Gđash: thể hiện ở khả năng bảo vệ và duy
Management Unit-FMU) với một qui mô diện tích tối thiểu để tạo thành một đơn vị liên
hoàn và/hoặc tổng thể vốn rừng của một cấp hành chính nhất định;
(iii) Giá trị sử dụng của HSTR mang tính tiềm năng, nghĩa là ích lợi của nó không chỉ
nằm ở giá trị sử dụng của các lâm sản và các dịch vụ môi trường mà còn ở khả năng tái
sản xuất ra các giá trị sử dụng mới.
Đặc điểm chủ yếu của quá trình sản xuất lâm nghiệp là sự kết hợp hữu cơ giữa hai quá
trình: tái sản xuất kinh tế và tái sản xuất tự nhiên (sinh học). Đặc điểm này phải được
xem xét, tính đến trong việc tổ chức và quản lý quá trình sản xuất lâm nghiệp.
Rất nhiều người quan niệm rằng chu kỳ sản xuất lâm nghiệp đồng nghĩa với chu kỳ sinh
trưởng của cây rừng. Thuật ngữ chu kỳ được hiểu là khoảng thời gian để một quá trình
nào đó lặp lại với mục tiêu giống nhau. Theo đó thì chu kỳ của quá trình tái sản xuất tự
nhiên chính là một luân kỳ từ khi cây rừng (lâm phần) được hình thành đến khi nó thành
thục công nghệ và có thể khai thác. Nếu đối tượng kinh tế của lâm nghiệp là các cây
rừng, các lâm phần riêng lẻ thì chu kỳ sản xuất tự nhiên và chu kỳ sản xuất kinh tế trùng
nhau và kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Nhưng một quá trình tái sản
xuất kinh tế kéo dài hàng chục năm là điều không thể chấp nhận được. Theo định nghĩa
chung của kinh tế chính trị học thì: Chu kỳ sản xuất là một giai đoạn thời gian trong
chuỗi không giới hạn của quá trình, trong đó quá trình sản xuất được lặp lại với mục tiêu
giống nhau. Các mục tiêu để đáp ứng nhu cầu lâm sản và dịch vụ từ rừng là liên tục,
thường xuyên, do đó tái sản xuất kinh tế lâm nghiệp cũng phải có chu kỳ hàng năm. Vấn
đề là ở chổ: kết hợp quá trình tái sản xuất tự nhiên lâu dài với quá trình tái sản xuất kinh
4
tế hàng năm như thế nào cho thích hợp với đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp. Để có thể
bảo đảm việc cung cấp các lâm sản và dịch vụ từ rừng một cách liên tục, thường xuyên
và ổn định thì không thể quan niệm đối tượng kinh tế của sản xuất lâm nghiệp là các cây
cá lẻ, một hoặc tổng của nhiều lâm phần gộp lại mà là một hệ thống các lâm phần có diện
tích đủ lớn bao gồm các cấp tuổi (để lấy không gian thay thế thời gian) trong một luân kỳ
kinh doanh, có cấu trúc và điều kiện sinh trưởng tương đối đồng nhất để việc kinh doanh
để duy trì FMU này sẽ ổn định và có chu kỳ hàng năm (tức là lấy tổ chức không gian thay
thế cho thời gian, chúng ta đã giải quyết được quá trình tái sản xuất sinh học dài 15 năm
phù hợp với nhu cầu sản xuất hàng năm của quá tái sản xuất kinh tế). Ví dụ này chỉ mang
tính chất lý thuyết để làm rõ phương pháp và bản chất của sản xuất lâm nghiệp. Trong qui
hoạch thực tế, chúng ta phải tính đến các yếu tố như: sự không đồng đều của năng suất
rừng trên một qui mô diện tích lớn; các rủi ro do thời tiết, thiên tai, lửa rừng, … dẫn đến
xác suất chuyển cấp của rừng trồng không bao giờ đạt tỷ lệ 100% (nghĩa là không phải
lúc nào trồng 1000 ha thì cũng đạt được 1000 ha nguyên vẹn ở tuổi cuối cùng). Như vậy
là chúng ta phải tính đến hệ số của các nhân tố ảnh hưởng này trong quá trình qui hoạch
để phương án có tính khả thi cao. Nếu giả định hệ số rủi ro tính chung cho luân kỳ là
5
10% thì diện tích qui hoạch thực tế cho FMU phải là 16.500 ha và mỗi khối qui hoạch
có diện tích là 1.100 ha.
Rừng với tư cách là đối tượng sở hữu
R. P. Harrison (1992) viết: “Người ta không thể chiếm hữu rừng, - người ta chỉ có thể
biến nó thành sa mạc bằng sự chiếm hữu. Rừng thuộc về đất, gắn với vị trí của đất, và đất
thì không thuộc về một cá nhân nào cả! Nó tự do!”. Theo luật pháp của Việt Nam thì đất
đai thuộc sở hữu chung của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, không có sở hữu
tư nhân về đất đai. Nhà nước chỉ giao và/hoặc cho thuê quyền sử dụng đất với một thời
hạn nhất định. Với rừng (bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) thì quyền sở hữu có thể
thuộc nhiều đối tượng kinh tế khác nhau: rừng tự nhiên và rừng trồng bằng vốn ngân sách
Nhà nước thì thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… được giao
hoặc cho thuê đất lâm nghiệp, được quyền sở hữu rừng mà họ đầu tư trồng trên đất đó.
Quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền kinh doanh phải được phân biệt một cách rõ
ràng. Nhà khoa học kinh tế Hanemann (1992) đã chỉ ra rằng, các nguồn tài nguyên thiên
nhiên thường là những tài sản mang tính xã hội và không thể xác định được quyền sở hữu
một cách chính xác. Nếu có một chủ sở hữu tư nhân, thì thiếu hẳn các điều kiện để quản
lý và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đó. Vấn đề này cũng chính là nguyên nhân
quan trọng của việc khai thác bốc lột tài nguyên trong chế độ chiếm hữu tư nhân về các
+ Về quyền sử dụng: Được phân thành hai loại: quyền sử dụng để kinh doanh các sản
phẩm vật chất từ rừng thuộc về chủ rừng (bao gồm tập thể, doanh nghiệp, cá thể, hộ gia
đình) được giao rừng. Quyền sử dụng các giá trị môi trường, phòng hộ, thẩm mỹ của
rừng thì thuộc toàn thể cộng đồng, toàn xã hội.
+ Về quyền kinh doanh: Trong phạm vi qui định của pháp luật, quyền kinh doanh rừng
(các lâm sản và dịch vụ từ rừng) thuộc về cá nhân, tổ chức doanh nghiệp đang sở hữu
quyền sử dụng rừng, hoặc được uỷ quyền, được cho thuê, được mua lại quyền sử dụng
hợp pháp đó.
Tính tất yếu khách quan của quá trình tích tụ ruộng đất trong sản xuất lâm nghiệp
Thực trạng chế độ sở hữu rừng và đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu báo cáo của các tỉnh đến tháng 8/2006 do Cục Lâm nghiệp tổng hợp, diện
tích đất lâm nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất (CNQSDĐ) cho các
đối tượng phân theo các vùng sinh thái như ở biểu 1.
Biểu 1. Diện tích đất lâm nghiệp đã được cấp giấy CNQSD đất.
T
T
V
ù
ng
Di
ệ
n t
í
ch
đất LN có
chủ quản lý
( ha)
r
ừ
ng
Đ
ấ
t ch
ư
a c
ó
r
ừ
ng
C
ộ
ng
H
ộ
G
Đ
,
CN
T
ổ
6.657.372
2.616.557
4.038.81
5
1.500.085
762.073
738.012
1
T
â
y B
ắ
c
1.715.936
1.699.886
1.138.219
516.862
134.304
3
Đ
.
b
ằ
ng
SH
112.379
22.705
22.70522.705
0
4
B
ắ
c TB
289.294
597.794
242.234
466
241.768
6
T. Nguy
ê
n
2.795.343
1.536.029
1.431.480
64.645
1.366.835
103.549
8.519
so với cấp cho tổ chức (trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước) chỉ bằng khoảng
một nửa.
Vũ Long (2006) đã dựa trên số liệu công bố chính thức về tình hình giao đất giao rừng
theo chủ quản lý của Bộ NN&PTNT (ban hành theo QĐ số 1116/QĐ/BNN-KL ngày 18-
5-2005) đã đưa ra hiện trạng cơ cấu về quyền sở hữu/ quyền sử dụng rừng như sau (xem
biểu 2):
+ Sở hữu Nhà nước bao gồm: rừng của doanh nghiệp Nhà nước (= các lâm trường quốc
doanh, các công ty lâm nghiệp Nhà nước), của các ban quản lý RPH và RĐD, lực lượng
vũ trang và UBND (các cấp) quản lý chiếm 73,92%.
+ Sở hữu tư nhân (hộ gia đình, cá nhân) chiếm 23,23%.
+ Sở hữu tập thể (cộng đồng) chiếm 2,31%.
+ Sở hữu công ty (rừng của các công ty liên doanh) chiếm 0,54%.
Như vậy, hiện nay QSD rừng do các tổ chức Nhà nước năm là chủ yếu (chiếm 74%).
Biểu 2. Diện tích rừng theo chủ quản quản lý (1000 ha)
7
Lo
ạ
i r
ừ
ng
T
ổ
ng
DT
Doanh
nghiệp
NN
T
ổ
ng di
ệ
n t
í
ch
12.306,
8
3.029,6
1.405,7
1.657,3
53,9
2.871,1
284,6
297,18
2.707,1
%
100
1.156,7
1.163,7
7,9
1,999,5
249,0
249,9
2.450,3
%
100
23,90
11,46
15,50
0,08
19,82
2,47
100
27,88
11,22
4,22
2,07
39,29
1,65
2,10
11,57Theo ông Vũ Long, chính cơ cấu sở hữu rừng này phản ánh thực trạng lâm nghiệp nước
ta vẫn là lâm nghiệp Nhà nước, các hoạt động lâm nghiệp (vì vậy) vẫn dựa chủ yếu vào
ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn ODA). Tỷ lệ vốn đầu tư của hộ gia đình, cá nhân
chỉ chiếm 2,68% tổng vốn đầu tư vào lâm nghiệp trong giai đoạn 2001-2005. Chủ trương
giao đất, giao rừng để dần dần chuyển nền lâm nghiệp dựa vào các tổ chức Nhà nước là
chính sang một nền lâm nghiệp xã hội với các thành phần kinh tế khác nhau đang được
triển khai thực hiện với rất nhiều nỗ lực, nhưng vẫn chưa tạo ra sự thay đổi đáng kể
(trong cơ cấu sở hữu).
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được Thủ tướng chính phủ
phê duyệt tại Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 thì cơ cấu sở hữu ba loại
u ngo
à
i N
h
à
n
ư
ớ
c
1
R
ừ
ng s
ả
n xu
ấ
t (%)
25
75
2
R
ừ
ng ph
luận cứ sau đây:
• Như đã trình bày ở trên, bản chất kinh tế trong kinh doanh lâm sản (gỗ) và quản lý
bền vững rừng đòi hỏi phải có một diện tích đủ lớn để xác lập được một đơn vị quản lý
liên hoàn (sustainable. FMU) để có thể kết hợp quá trình tái sản xuất sinh học (lâu năm)
với quá trình tái sản xuất kinh tế (hàng năm);
• Tích tụ, tập trung đất đai hợp lý sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất lâm nghiệp hàng
hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng có
nghĩa là việc chuyển dịch nền sản xuất lâm nghiệp thành sản xuất lớn với sự chuyên môn
hoá cao và có qui mô tập trung hơn. Các hộ gia đình, cá nhân được giao từ 1-30 ha rừng
không thể độc lập xây dựng một phương án sản xuất hàng hoá vì sẽ bất lợi trong việc tiếp
cận thị trường và tiêu thụ sản phẩn mà họ làm ra (không đủ số lượng lớn và ổn định
thường xuyên).
• Tích tụ, tập trung đất đai khắc phục được tình trạng manh mún, nhỏ lẻ , tạo thuận
lợi cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng (hệ thống đường lâm nghiệp, các công trình phòng
chống cháy rừng, các cơ sở chế biến, bảo quản lâm sản,…). Một chủ rừng nhỏ (sở hữu
8
vài đến vài trăm ha) không thể đủ sức đầu tư (hoặc đầu tư sẽ không có hiệu quả) để xây
dựng hạ tầng cơ sở cho sản xuất lâm nghiệp.
• Tích tụ, tập trung đất đai tạo điều kiện cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch
quản lý, phương án điều chế và việc áp dung các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng một
cách hiệu quả. Một phương án điều chế rừng (kế hoạch quản lý) hiệu quả cần một đơn vị
FMU tối thiểu 10-20 ngàn ha (qui mô của một doanh nghiệp vừa và nhỏ).
Tuy nhiên: tích tụ, tập trung đất đai lâm nghiệp nếu không được kiểm soát và quản lý
chặt chẽ của Nhà nước sẽ mang lại những mặt tiêu cực lớn về mặt xã hội: Đó là sự phân
hoá giàu nghèo, sự bất công trong phân phối lợi ích và các tiêu cực về ảnh hưởng môi
trường (nếu doanh nghiệp chỉ đề cao khía cạnh kinh doanh theo cơ chế thị trường). Chủ
trương giao đất, giao rừng mà Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện chính là công
cụ để tạo ra sự công bằng xã hội (theo phương châm: “người cày có ruộng”). Tuy nhiên,
cũng như việc tích tụ ruộng đất, bên cạnh các mặt tích cực, -nó cũng có những nhược
Tuy nhiên, rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc thù có chức năng tổng hợp vô
giá đối với sự tồn tại và phát triển của con người trong đó tỷ trọng chức năng kinh tế (sản
xuất vật chất) của nó là mục tiêu kinh doanh chính (ít nhất là cho đến nay) của các doanh
9
nghiệp làm nghề rừng so với tổng giá trị tổng hợp của rừng là rất bé nhỏ. Phần giá trị phi
vật chất của rừng (do các doanh nghiệp tạo ra) lớn hơn rất nhiều nhưng lại được coi là tài
sản chung “tự do” của tất cả cộng đồng (xã hội) và chưa được coi là hàng hoá. Vì các
chức năng không thể thay thế được của rừng như chức năng môi sinh: bảo vệ đất, nước,
khí hậu, không khí, chức năng bảo vệ loài và các hệ sinh thái, chức năng phòng hộ, chức
năng giải trí cho nên không thể coi rừng là đối tượng kinh doanh “tự do”. Và do đó,
quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền kinh doanh rừng cũng phải được qui định đặc biệt
so với các đối tượng sở hữu khác như đã được trình bày ở mục B trên đây. Việc thừa
nhận quyền sử dụng rừng là hàng hoá là điều kiện cần thiết để tích tụ ruộng đất. Tuy
nhiên, phải coi đây là một loại hàng hoá đặc biệt và có những cơ chế giám sát đặc biệt để
các giá trị dịch vụ không thể thay thế được của rừng không bị suy giảm.
KẾT LUẬN
Rừng và đất rừng tạo thành một thể thống nhất gọi là HSTR mà bản chất kinh tế
của nó thể hiện ở thuộc tính cơ bản là: nó vừa là đối tượng vừa là tư liệu sản xuất và tạo
thành sự thống nhất biện chứng của hai yếu tố đó; giá trị sử dụng của rừng mang tính
tổng hợp và đa mục đích; giá trị sử dụng của rừng mang tính tiềm năng.
Sản xuất lâm nghiệp là sự phối kết hợp của hai quá trình: quá trình tái sản xuất
sinh học có luân kỳ lâu năm và quá trình tái sản xuất kinh tế có chu kỳ hàng năm. Do đó,
đối tượng của sản xuất lâm nghiệp không phải là một cây, tổng của nhiều cây hay một
lâm phần, tổng của nhiều lâm phần mà là một tổng thể rừng có diện tích đủ lớn để xây
dựng một đơn vị quản lý rừng có cấu trúc không gian và thời gian tối ưu (bao gồm các
cấp tuổi đứng bên cạnh nhau trong không gian) để lấy không gian thay thế thời gian
nhằm kết hợp quá trình tái sản xuất sinh học lâu năm với quá trình tái sản xuất kinh tế
hàng năm. Vì các đặc trưng bản chất đó mà tích tụ ruộng đất trong sản xuất lâm nghiệp
theo kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường là qui luật tất yếu khách quan.
production process in a market economy under management of the Government with
socialistic orientation to point out the objective indispensability of land accumulation for
the forestry production. The economic essence of forest as production object is expressed
in three characters: (i) It is both the material and the object of the production; (ii) Its use
value is collective and multifunctional; and (iii) Its use value is potential, that means its
benefit does not only in the use values of forest products and its services but also in the
regeneration capacity of all of those. The special feature of the forestry production
process is the combination of the both processes, the biological reproduction with long
term rotation and the economic reproduction with annual period. Thus, object of forestry
production is not tree, number of trees or stand, number of stands but an entire forest
ecosystem as a Forest Management Unit which is large enough in area to have a spatial
and time structure to optimally the combination of the both biological and economic
reproduction. Forest allocation to households, individuals, communities and non
government organizations is necessary for decentralization of the state forestry
characterized as the system of administrative subsidies with very low efficiency to a
social forestry to provide equal livelihood opportunities and so attracting all stockholders
participating in forestry production. This decentralization process has disadvantage of the
fragmentation of forest lands not suitable for the intensive production and management.
Thus the accumulation of forest lands is an objective indispensability to transfer the
fragment, small forest economy to a sustainable, multifunctional forest economy.
Keywords: economic essence of forest ecosystem, special feature of forestry production,
accumulation of forest lands.