ii
Contents
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ IV
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT V
LỜI MỞ ĐẦU VII
CHƯƠNG 1. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – Ý
NGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA 1
1.1. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM 1
1.1.1. Năm quan điểm về tác động củ
a nợ công đến tăng trưởng kinh tế 1
1.1.2. Môi trường kinh tế dẫn đến sự tác động khác nhau của nợ công đối với
tăng trưởng kinh tế: so sánh giữa Nigeria và Nam Phi 7
1.1.3. Nợ công vượt ngưỡng 90% GDP thì tăng trưởng kinh tế giảm – Bằng chứng ở
các nước phát triển, mới nổi và nhóm nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu. 13
1.2
QUẢN LÝ NỢ CÔNG THEO TRẦN NỢ THÔNG QUA THAM KHẢO NGƯỠNG
NỢ CỦA MỖI QUỐC GIA – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI ẤN ĐỘ 18
1.2.1. Trần nợ –cách xác định trần nợ 18
1.2.2. Quản lý nợ công theo trần nợ 60 – 65% GDP của Ấn Độ 21
1.3.
IMF KHUYẾN NGHỊ MỨC TRẦN NỢ CÔNG 35-40% GDP CHO CÁC NỀN
KINH TẾ MỚI NỔI, TRONG ĐÓ CÓ VIỆT NAM 23
KHÔNG CÓ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NỢ CÔNG DÀI HẠN VÀ KẾ HOẠCH
TRẢ NỢ HIỆU QUẢ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG NỢ Ở PHILIPPINES DƯỚI ẢNH
HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG DẦU MỎ Ở MEXICO 52
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ KHUYẾN
NGHỊ GIẢI PHÁP 54
4.1.
GIẢI PHÁP THUỘC VỀ KỸ THUẬT QUẢN LÝ NỢ: QUY TRÌNH QUẢN LÝ
NỢ CÔNG VIỆT NAM CẦN ĐƯỢC KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VÀ CÓ SỰ THAM
GIA CỦA LĨNH VỰC TƯ NHÂN 54
4.2
QUẢN LÝ NỢ CÔNG VỀ MẶT THỂ CHẾ BAO GỒM HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CÁO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ, KẾT
HỢP CÁC CHÍNH SÁCH VÀ PHÂN NHIỆM CHỨC NĂNG QUẢN LÝ PHÙ HỢP 71
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao vấn đề đạo đức và chuyên môn
nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ 71
4.2.2 Chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá cần có sự phối hợp hiệu quả để tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế 73
4.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý nợ công 74
KẾT LUẬN 77
PHỤ LỤC 79
PHỤ
LỤC A1: THỐNG KÊ THEO THỜI GIAN VỀ DIỄN BIẾN CỦA TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ KHI NỢ CÔNG THAY ĐỔI 79
PHỤ
LỤC A2: NHỮNG KẾT QUẢ THU ĐƯỢC TỪ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI
QUY SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA
NIGERIA VÀ NAM PHI 81
PHỤ
LỤC A3: MỐI QUAN HỆ TRỰC TIẾP GIỮA NỢ VÀ TĂNG TRƯỞNG GDP
THEO ĐẦU NGƯỜI 82
Hình 2.1: Nợ nước ngoài, tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế Việt Nam (1999-
2009)
Hình 2.2: Nợ nước ngoài, thuế và tăng trưởng kinh tế
Việt Nam (1999-2009)
Hình 3.1: Tỷ lệ nợ ròng/GDP của Brazil
Hình 3.2: Nợ trong nước và nước ngoài do khu vực công nắm giữ
Hình 3.3: Cơ cấu nợ công nước ngoài theo đồng tiền
Hình 3.4: DPMFi (Nợ nội địa) nắm giữ bởi khu vực công
Hình 4.1: Dư nợ nước ngoài của Chính Phủ và được Chính Phủ bảo lãnh (2005-2009)
Hình 4.2: Xu hướng nợ công và các loại nợ công Việt Nam, Cơ cấu nợ công Việt Nam
2009.
Hình 4.3: Nợ của Doanh nghiệp Nhà nước và Chính phủ n
ăm 2008 và 2009
Hình 4.4: Tỷ lệ các loại tiền định danh các khoản nợ công của Việt Nam v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
ADB Asia Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
EMU European Monetary Union Liên minh Tiền tệ Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic product Tổng sản phẩm quốc nội PPG Public and Publicly Guaranteed Nợ nước ngoài được bảo lãnh
SOEs State owned Enterprises Doanh nghiệp nhà nước
VDB VietNam Development Bank Ngân hàng phát triển Việt Nam
TABMIS Treasury and Budget
Management Information System
Hệ thống thông tin quản lý về
kho bạc và ngân sách
TFP Total factor Productivity Tổng năng suất các yếu tố
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình Phát triển Liên hiệp
quốc
VECM Vector Error Correction Model Mô hình vecto tự hồi quy
WB World Bank Ngân hàng thế giới
vii
LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công đang gia tăng ở các quốc gia trên toàn thế giới do ảnh hưởng trầm trọng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự gia tăng trong nợ công đã làm tăng thêm
những lo ngại liệu rằng nợ công sẽ tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế? Cơ chế
tác động của nó? Cơ sở nào để xác định sự tác động đ
ó? Và có những bằng chứng lịch sử
giúp củng cố những quan điểm đã đưa ra không?
Chúng tôi xem xét rất nhiều các quan điểm về mối quan hệ giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế và tiến hành thu thập bằng chứng thực nghiệm qua các nước, nhóm quốc
phát triển đất nước.
Đối với bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ thiết kế nội dung thành 4 chương lớn,
không tuân theo khuôn mẫu những bài nghiên cứu truyền thống với 3 chương chủ đạo, lý
thuyết, thực trạng và giải pháp, mà trong bài viết này, với mỗi chương, chúng tôi bố cục
theo dạng giải quyết sáng tỏ từng vấn đề, trong đó, bao gồm lý thuyết tổng quan về vấn
đề đượ
c đưa ra, những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và liên hệ ngay đến Việt
Nam.
Chương 1: Chúng tôi tiến hành dẫn chứng những quan điểm của nhiều nhà kinh tế
học và những phương pháp tính toán khác nhau để minh chứng cho một nhận định
chung: nợ công thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế. Với mỗi quốc gia, nhóm quốc
gia, kể cả Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày lý thuyết, phươ
ng pháp đo lường sự tác động
và kết quả thu được để làm bằng chứng thực nghiệm cho nhận định sự tác động của nợ
công đến tăng trưởng kinh tế thông qua:
- Nigeria và Nam Phi.
- Nhóm nước phát triển và đang phát triển.
- Khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu.
Đồng thời, chương 1 còn đưa ra lý thuyết xoay quanh vấn đề ngưỡng nợ và trần nợ
phù hợp của m
ột quốc gia.
- Minh chứng cụ thể từ Ấn Độ.
- Liên hệ Việt Nam về ảnh hưởng của nợ công và mức trần nợ khuyến nghị của
IMF.
Chương 2: Chúng tôi trình bày những nghiên cứu về cơ chế tác động của nợ công
đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn trung gian: tiết kiệm tư, đầu tư
ix
công, lãi suất dài hạn và thuế, bằng chứng thực nghiệm thu được từ các nước trên thế
tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm với tất cả các nhóm nước, nhóm nước phát triển,
mới nổi và cả khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu. Tuy nhiên, môi trường kinh tế
khác nhau lại đưa ra kết quả tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh
tế, minh chứng cụ th
ể với Nigeria và Nam Phi. Do đó, quản lý nợ công của mỗi quốc gia
đòi hỏi phải dựa trên trần nợ hợp lý, tạo khoảng trống bù đắp những rủi ro tiềm ẩn phát
sinh thông qua tham khảo ngưỡng nợ tính toán được phù hợp cho mỗi quốc gia. Mức
trần nợ này được IMF khuyến nghị là khoảng 35-40% GDP đối với những nước mới nổi
và trong đó có Việt Nam.”
1.1. Tác động của nợ
công đến tăng trưởng kinh tế - Bằng chứng thực nghiệm
1.1.1. Năm quan điểm về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 diễn ra đưa đến những hậu quả rất nặng nề
cho nền kinh tế thế giới, theo đó, nhiều vấn đề về quản trị tài chính quốc gia được lật lại
nhưng n
ổi trội hơn hẳn là vấn đề nợ công. Những câu hỏi liên tục được đặt ra: Sức mạnh
của nợ công và ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế là gì? Chính Phủ cần phải lưu ý
những vấn đề gì trong chính sách quản lý nợ công nói riêng và tài chính công nói chung?
Với mục tiêu trọng tâm hướng về chính sách quản lý nợ công của các quốc gia trên thế
giới và từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, phần đầu tiên trong bài
nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế -
nguyên nhân giúp Chính Phủ nhận thấy cần phải có một chính sách quản lý nợ công phù
hợp để đảm bảo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu những quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế
giới, chúng tôi tìm ra được năm quan điểm như sau:
2
Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của các
quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế
đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi
Folorunso S. Ayadi, University of Lagos; Felix O. Ayadi; Texas Southern University; “The impact of external
debt on economic growth: A comparative study of Nigeria and South Africa”; 2008
.
2
Manmohan S. Kumar và Jaejoon Woo, “Public Debt and Growth”, 2010, IMF Working Paper Fiscal Affairs
Department.
3
Có thể nói rằng: trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế
bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của quốc gia,
nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiện trong tương
lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế
dài hạn nếu
không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp và hữu hiệu.
Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới
nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức
90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.
Theo M. Reinhart và S. Rogoff
3
, hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh vực nợ
công, đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác
nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên chuỗi số liệu quá
khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kết quả tác động phi tuyến của nợ công đối
với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này,
thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ
tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển
4
trải dài khoảng hai thế
kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường mới nổi
cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa.
Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989)
6
đã xem xét tác động của
nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tố đóng vai trò quan
trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở những nền kinh tế đang phát triển.
Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giả thuyết "số dư nợ quá mức" – một tình
huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợ của một quốc gia là quá nặng đến nỗi một phần
sản lượng lớn phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên sự không khuyến
khích đầu tư. Cũng theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et. al. (2003)
7
, gánh nặng nợ
nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế
toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và càng cao, những e ngại về vấn đề
mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia khác tiến hành thẩm định môi trường
đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến
hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc. Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản
trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng
trong dự trữ) và có khuynh hướng c
ản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để
củng cố những doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa
vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và
sự bần cùng, nghèo khó của người dân trong một quốc gia.
6
Manmohan S. Kumar và Jaejoon Woo, “Public Debt and Growth”, 2010, IMF Working Paper Fiscal Affairs
Department.
7
trường tài chính ngày càng phức tạp. Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự
kết hợp về chính sách, môi trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố
khác như chính sách minh bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ
và quá trình đưa ra quyết định. Vấn đề tiếp theo trong việc nhận và quản lý nợ là quyết
định quy mô nợ thực tế. Vay m
ượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ
số riêng, ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc
GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI). Tuy nhiên, quyết định
8
Folorunso S. Ayadi, University of Lagos; Felix O. Ayadi, Texas Southern University; “The impact of external debt
on economic growth: A comparative study of Nigeria and South Africa”; 2008
.
6
mức phù hợp của những chỉ số này khó xác định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu
nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài. Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng cao,
thanh toán gánh nặng nợ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia,
việc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược thông qua mở
rộng xuất khẩu; nếu xuất khẩu không được mở rộng, vay mượn nhiều hơn sẽ cần thiết
cho thanh toán nợ, và nợ nước ngoài sẽ chồng chất vượt quá khả năng chịu đựng của một
quốc gia.
Do đó, điều cần tham khảo ở đây chính là xác định đúng những yếu tố thuộc môi
trường quản lý nợ công của mỗi quốc gia, đặc trưng vốn có của chúng để có thể đề ra
được chính sách quản lý phù hợp: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán nợ công, vấn
đề thực hiện minh bạch và chống tham nhũng, quy trình ra quyết định khi vay nợ và xét
duyệt dự án.
Thứ năm, nợ tích lũy theo thời gian và dòng chi trả nợ đã gây cản trở lớn đến tăng
trưởng kinh tế do những trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ
mô và sự giảm bớt chi tiêu cho đầu
liệu thu thập được trong một quá trình dài từ các nhóm quốc gia khác nhau. Đầu tiên,
chúng tôi sẽ trình bày môi trường kinh tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ công và
tăng trưởng kinh tế như thế nào.
1.1.2. Môi trường kinh tế dẫn đến sự tác động khác nhau của nợ công đối với
tă
ng trưởng kinh tế: so sánh giữa Nigeria và Nam Phi
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng môi trường kinh tế chính là
nguồn gốc sự tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia trên toàn thế giới. Để minh họa cho nhận định trên, chúng tôi chọn hai quốc gia thuộc
Châu Phi, đó là Nigeria và Nam Phi. Hai quốc gia này đa dạng về thiên nhiên và tài
nguyên, phát triển du lịch, công nghiệp, nông nghiệp với nhiều loại hình. Do đó, có thể
liên hệ đối v
ới Việt Nam về cơ cấu phát triển kinh tế và đưa ra chính sách quản lý tài
chính quốc gia phù hợp dựa vào bài học kinh nghiệm được đưa ra từ những nước này.
Hơn thế nữa, khi nhắc đến Châu Phi, chúng ta không có những ấn tượng riêng cho từng
quốc gia nơi đây mà thường nghĩ đến cả châu lục của họ với cùng một đặc điểm: phát
triển nhiều loại hình kinh tế, dàn trải và thi
ếu sự chuyên sâu. Nam Phi và Nigeria nhận ra
được điều này và đang cố gắng xây dựng thương hiệu cho chính quốc, phát triển kinh tế
đất nước theo phương hướng riêng. Từ lý do này, sự khác biệt về môi trường kinh tế tại
hai quốc gia dần hình thành. Hơn thế nữa, Nigeria và Nam Phi cũng là hai quốc gia có
tăng trưởng kinh tế khá tốt và là hai nền kinh tế mũi nhọn giúp thúc đẩy nền kinh tế toàn
Châu Phi. Đây là lý do mà chúng tôi chú tâm nhiều hơn đến hai quốc gia này.
8
“Nigeria: quốc gia có điều kiện sống kém, nhưng có ngành khai thác dầu phát
triển nhất Châu Phi, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo nhưng chưa sử dụng hiệu quả
phần lớn diện tích đất, vay nợ nhiều sử dụng cho đầu tư ngành dầu và phát triển thị
trường tài chính nên gặp nhiều rủi ro.”
Nigeria là nước có số dân đông nhất châu Phi, điều kiện sức khỏe và chất lượng
9
“Nam Phi: nền kinh tế mới nổi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, cơ sở hạ tầng
phát triển, có thế mạnh đặc biệt về công nghiệp khai khoáng, là nền kinh tế dẫn đầu
Châu Phi và là thị trường tiềm năng được nhiều nhà đầu tư công nhận. Xu hướng vay nợ
nước ngoài tăng dần theo thời gian, sử dụng chủ yếu cho đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng.”
Nam Phi đượ
c đánh giá là một đất nước tương đối phát triển và đã chính thức gia
nhập nhóm nước mới nổi BRICS (gồm Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga và Nam Phi)
vào ngày 18/02/2011. Sản xuất công nghiệp của Nam Phi được chú trọng đầu tư phát huy
lợi thế về sự đa dạng tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng phát triển và tiềm năng tài
chính tốt. Những năm gần đây công nghiệp Nam Phi đã có sự gia tăng mạnh m
ẽ, đặc biệt
là công nghiệp khai khoáng. Hiện nay, Nam Phi là nước xuất khẩu vàng lớn nhất thế giới
(ngành công nghiệp khai thác vàng đóng góp khoảng 2% tổng sản phẩm quốc nội của
Nam Phi), sản xuất rượu vang lớn thứ 4 thế giới và cung cấp 3/5 lượng giao dịch Crôm
trên thị trường thế giới. Theo IMF tính toán thì GDP của Nam Phi chiếm 1/3 GDP của
toàn châu lục. Tỷ trọng hàng xuất và nhập khẩu của Nam Phi lần lượt chiếm 60% và 50%
tổng hàng xuất, nhập khẩu của tất cả các nước miền Nam Châu Phi. Ngành du lịch Nam
Phi phát triển rất mạnh, tỷ lệ khách du lịch nước ngoài tăng trung bình khoảng 30% một
năm. Cùng với đó, thế mạnh về thể thao cũng giúp Nam Phi quảng bá rộng rãi hơn về
hình ảnh của đất nước, du lịch phát triển mạnh và nguồn thu từ xuất khẩu cũng từ đó
được đẩy mạ
nh. Có thể nói, Nam Phi là nước phát triển nhất ở Châu Phi và là quốc gia
đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của 14 nước trong Cộng đồng Phát triển miền
Nam Châu Phi (SADC). Hơn thế nữa, với thị trường tiềm năng của mình, Nam Phi đang
dần trở thành môi trường hấp dẫn đầu tư từ các nước khác trên thế giới như Nhật Bản,
Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Đức.
Về tài chính quốc gia, khoản vay v
của hai quốc gia Nigeria và Nam Phi qua giai đoạn gần 30 năm từ 1980 đến 2008, gồm
các biến số vĩ mô hàng năm: tổng đầu tư, xuất khẩu, nợ nước ngoài, thanh toán nợ hàng
năm, GDP thực và tổng nợ công củ
a mỗi quốc gia. Bộ dữ liệu này được lấy từ nguồn số
liệu kết hợp của EIU (2008). Một số dữ liệu khác được lấy thông qua các nguồn riêng lẻ
và được tính toán bởi chính tác giả.
Đầu tiên, hai tác giả tiến hành hồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất OLS bộ dữ liệu
gồm các biến số: biến phụ thuộc: tỷ lệ tăng trưởng thực hàng năm
g
Y
; các biến độc lập:
11
tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm
EXPO
EXPO
Δ
, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực
RGDP
RGFI
, tỷ lệ
thanh toán nợ trên GDP thực DSERGDP, quy mô của nợ nước ngoài đối với GDP thực
DEBGDP và tăng trưởng vốn GCAP. Phương trình đầy đủ và kết quả chạy hồi quy mô
hình tuyến tính OLS từ những biến số trên được trình bày trong bảng phụ lục A2.
Hệ số của biến DEBGDP trong phương trình ước lượng thu được đối với Nigeria
là -0,96; với prob=0,3464 (prob là xác suất mắc sai lầm loại 1, tức là xác su
ất gặp sai lầm
nếu bác bỏ giả thuyết Ho bằng 0,3464) và độ tin cậy là 90%, do đó, theo kiểm định p-
value thì giả thiết Ho: biến DEBGDP không tác động lên tăng trưởng kinh tế được chấp
nhận (vì prob=0,3464>
Không dừng lại ở hồi quy tuyến tính, hai tác giả nghi ngờ một sự tác động phi
tuyến của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Do đó, họ tiếp tục thực hiện kiểm định
tác động phi tuyến bằng việc hồi quy OLS các biến số sau: biến phụ thuộc: tỷ lệ tăng
trưởng thực hàng năm
g
Y
; các biến độc lập: quy mô của nợ nước ngoài đối với GDP thực
DEBGDP với hệ số mũ bậc 1 và 2, tăng trưởng vốn GCAP, cú sốc thuộc về bên ngoài
(được đo lường bằng biến động trong mậu dịch) TOT và
DSEREXP
: tỷ lệ thanh toán nợ
trên xuất khẩu. Bảng kết quả hồi quy sẽ được nêu rõ ở phụ lục A2.
Đối với Nigeria, hệ số của biến DEBGDP và
2
(DEBGDP)
lần lượt là 2,17 và -0,009;
với độ tin cậy là 90% và prob thu được đối với cả hai biến trên (lần lượt là 0,0262 và
0,0886) đều thoả mãn điều kiện bác bỏ giả thiết Ho dựa theo kiểm định p-value. Do đó,
có thể khẳng định rằng nợ công tác động một cách phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế của
Nigeria. Ngoài ra, các biến TOT (cú sốc bên ngoài) và GCAP (tăng trưởng vốn) cũng có
tác động dương đến tăng trưở
ng kinh tế. R-squared đạt 92,19%, cho thấy các biến đưa
vào trong mô hình giải thích được 92,19% sự biến đổi trong tỷ lệ tăng trưởng kinh tế.
Về phần Nam Phi, hệ số của các biến DEBGDP và
2
(DEBGDP)
lần lượt là 4,702 và
-0,076, với độ tin cậy tối thiểu là 90%, prob thu được đối với hai biến lần lượt là 0,1505
và 0,1731; lớn hơn so với mức ý nghĩa. Vì vậy, theo kiểm định p-value, giả thiết Ho được
của nợ công đến tăng trưởng kinh tế có thể là tác động tuyến tính hay tác động phi tuyến,
phụ thuộc vào đặc điểm môi trường kinh tế và chính sách quản lý tài chính của các quốc
gia. Đó là kết luận chúng tôi rút ra được từ kết quả của hồi quy ước lượng sự tác động.
Chúng tôi lần lượt xem xét cả thống kê mô tả lẫn mô hình hồi quy để so sánh các kết quả
với nhau. Và một câu hỏi được đặt ra là nếu nợ công tác động phi tuyến thì ngưỡng cực
đại lúc này là bao nhiêu. Thật bất ngờ, khi nợ công tăng đến 90% GDP thì tăng trưởng
kinh tế đều giảm ở các nước phát triển, mới nổi lẫn nhóm nước sử dụng đồng tiền chung
châu Âu. Đây là mức nợ trung bình mà tăng trưởng kinh tế theo thống kê mô tả ở tất cả
những nhóm nước đều giả
m, điều này không có nghĩa là ngưỡng nợ đối với tất cả những
nước là giống nhau và bằng 90% GDP, mà có thể tăng trưởng kinh tế của một số nước đã
bị giảm với vay nợ nhỏ hơn tỷ số này hay cũng có thể lớn hơn.
Nhóm nước phát triển
14
Reinhart và Rogoff (2010)
9
đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa
tỷ lệ tăng trưởng GDP và các mức nợ khác nhau của 20 nước phát triển trong khoảng thời
gian 1946-2009. Nhóm này gồm Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức,
Hy Lạp, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,
Thụy Điển, Anh và Mỹ. Quan sát hàng năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ
trên GDP trong suốt phạm vi quan sát, cụ thể như: những n
ăm khi nợ/GDP dưới 30% (nợ
thấp), những năm mà Nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60-90% (nợ cao),
và trên 90% (rất cao). Có tổng cộng 1180 quan sát với 443 quan sát cho Nợ công/GDP
dưới 30%, 442 cho Nợ công/GDP từ 30-60%, 199 cho Nợ công/GDP từ 60-90%, và 96
cho Nợ công/GDP trên 90% (những quan sát này thuộc về Bỉ, Hy Lạp, Ý và Nhật Bản).
Các cột trên hình 1.1
10
Đáng ngạc nhiên là mối quan hệ giữa nợ công và
tăng trưởng thì tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị trường mới nổi lẫn
những nền kinh tế phát triển. Trong giai đoạn 1946-2009, tốc độ tăng trưởng trung vị và
bình quân xấp xỉ khoảng 4-4,5% cho tất cả những mức độ nợ khoảng 90% GDP. Tuy
nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP trung vị giảm mạnh còn 2,9% đối với tỉ lệ nợ trên 90%, sự
sụt giảm này còn lớn hơn khi xét đến tốc độ tăng trưởng bình quân, giảm chỉ còn 1%.
Như vậy, đối với những nước mới nổi, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
nhiều nhất cũng được tìm thấy là mức 90% GDP.
Do đó, có thể nói, mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung đến tăng trưởng
kinh tế của tất cả các nhóm nước, từ đó, giúp các Chính Phủ có thể nhận định được
ngưỡng nợ trung bình tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trên thế giới. Tuy nhiên,
những kết quả trên được tính toán cho trung bình các quốc gia, do đó, chưa kể đến môi
trường kinh tế đặc trưng, chính sách quản lý và điều hành đất nước của mỗi Chính Phủ,
do đó, việc phân tích nhữ
ng đặc trưng riêng cho mỗi nước là điều cần thiết và ngưỡng nợ
của mỗi quốc gia sẽ thay đổi khác nhau.
Đó là cái nhìn tổng quan về sự tác động của nợ đối với tăng trưởng kinh tế thông
qua thống kê mô tả được tìm hiểu từ những nghiên cứu của Reinhart và Rogoff. Chúng
tôi chuyển hướng nghiên cứu mô hình thực nghiệm cũng điều tra mối quan hệ giữa nợ
công và tăng tr
ưởng kinh tế nhưng theo một mẫu các nước khác và với phạm vi thời gian
khác.
Khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu
Cuộc khủng hoảng 2008-2009 đã tạo ra những căng thẳng đáng kể lên lĩnh vực tài
chính công trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, cụ thể là nợ công của mỗi quốc gia.
Nhiều nước trong Liên Minh Châu Âu và khu vực đồng tiền chung châu Âu đang ở mức
rủi ro cao có liên quan đến việc duy trì ổ
n định tài chính. Nợ công tăng lên đáng kể qua
nhiều thập niên và xu hướng này càng được thấy rõ khi quan sát sự mở rộng trong quy
mô của Chính Phủ. Đối với nhiều nước công nghiệp, tăng trưởng tổng chi tiêu Chính Phủ
Vì mô hình dạng tuyến tính của nợ không có ý nghĩa nên hai tác giả trên chuyển
sang h
ồi quy bậc hai biến nợ. Mẫu hình tăng trưởng thực nghiệm cơ bản dựa trên một
phương trình hội tụ có điều kiện, hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người
với logarit tự nhiên của chính nó, nợ công, nợ công bậc hai, tỷ lệ đầu tư/tiết kiệm trên
GDP và tốc độ tăng trưởng dân số (xem phụ lục A3). Kỹ thuật ước lượng c
ăn bản là cố
định các nhân tố được điều chỉnh để loại bỏ tác động của phương sai thay đổi và tự tương
quan. Hai tác giả thiết lập biến nợ cho mỗi nước thông qua hoặc độ trễ thời gian (lên đến
13
Cristina Checherita và Philipp Rother, The impact of high and growing government debt on economic growth –
An empirical investigation for the euro area, 2010