PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình đô thị hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình đô thị hóa trở
thành một xu hướng nổi bật của các nước đang phát triển. Là một nước đang phát triển,
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Qúa trình đô thị hóa diễn ra sôi động trên
khắp cả nước, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng, nơi được coi là có nền kinh tế phát triển
năng động nhất miền Trung, nơi quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Trước đây nền kinh tế của quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng phát triển tương đối
chậm, lại gặp nhiều khó khăn, nhu cầu của nhân dân hầu như không đáp ứng được.
Nhưng hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ thì chất lượng cuộc sống
ngày càng được nâng cao, bộ mặt quận ngày càng thay đổi. Tuy nhiên bên cạnh những
mặt tích cực mà quá trình đô thị hóa đem lại thì vẫn còn nhiều vấn đề tiêu cực tác động
đến chất lượng cuộc sống dân cư. Và đây cũng chính là những tồn tại mà chính quyền và
nhân dân quận, thành phố đang từng bước tháo gỡ giải quyết.
Với mong muốn được góp phần vào xây dựng quận Liên Chiểu nói riêng và thành
phố Đà Nẵng nói chung ngày càng giàu đẹp tương xứng với tiềm năng vốn có và theo sự
phát triển đi lên của nền kinh tế xã hội đất nước. Vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài : “ Tác
động của quá trình đô thị hóa đến chất lượng cuộc sống dân cư quận Liên Chiểu
thành phố Đà Nẵng ” cho đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài
2.1. Mục tiêu
- Phân tích và đánh giá sơ bộ của quá trình đô thị hóa ở quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
đối với một số tiêu chí cơ bản của chất lượng cuộc sống ở đây.
- Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm pháy huy những mặt tích
cực đồng thời khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình đô thị hóa ở đị bàn.
2.2. Nhiệm vụ
- Thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu.
- Khái quát về đặc diểm tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội của quận Liên Chiểu –
Đà Nẵng.
1
- Phân tích đặc điểm của quá trình đô thị hóa ở quận Liên Chiểu – Đà Nãng.
2
, gồm 5 phường.
5. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống.
CLCS của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi quốc gia cần phải được đặt trong
mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia. Đó là cơ sở đầu tiên giúp cho
việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu chất
lượng cuộc sống của dân cư quận Liên Chiểu – TP.Đà nẵng phải được đặt trong mối liên
hệ với toàn bộ thành phố, vùng Duyên hải miền Trung và cả nước. Bản thân CLCS của
dân cư quận Liên Chiểu cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua
lại.
- Quan điểm lịch sử.
Quan điểm này chú ý tới khía cạnh địa lý lịch sử. Các sự vật, hiện tượng địa lý
không chỉ biến đổi trong không gian mà biến đổi cả theo thời gian. Do đó, việc nghiên
cứu tác động của quá trình đô thị hóa tới chất lượng cuộc sống dân cư quận Liên Chiểu –
TP.Đà Nẵng trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại – tương lai sẽ làm rõ bản chất của vấn đề
theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu.
- Quan điểm sinh thái - phát triển bền vững
Môi trường sống và CLCS của dân cư có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau.
Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của dân cư, đặc biệt là sức khỏe và
tuổi thọ của người dân. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta cần xem môi trường như là một
bộ phận của CLCS dân cư.
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người phải đảm bảo sự phát triển bền vững
của môi trường sinh thái. Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS
phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững mới đảm bảo tính ổn định lâu dài. Vì vậy,
mối quan hệ giữa tự nhiên và sự phát triển xã hội là vấn đề cần giải quyết của bất kì một
đề tài nghiên cứu nào.
3
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích số liệu
tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng
5
nhất của sự phát triển KT - XH trong thời hiện đại. Quá trình này bao gồm sự thay đổi
trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân bố lực lượng sản xuất, phân
bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa,…
ĐTH diễn ra rất sớm từ thế kỉ thứ IV trước Công nguyên. Nhưng thuật ngữ này chỉ
mới phổ biến vào những năm đầu thế kỉ XX khi quá trình ĐTH phát triển trên quy mô
toàn cầu. Và cho đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về ĐTH. ĐTH theo nghĩa
tiếng Anh là Uzbanization, tiếng Pháp là Urbanisation đều bắt nguồn từ tiếng Latinh là
Urbanus “thuộc về đô thị”, Urbas “thành phố”: Là quá tình tập trung dân số vào các đô
thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và
đời sống.
Từ điển Bách khoa Larousse cho rằng “Đô thị hóa là hiện tượng dân số tập trung
ngày càng dày đặc tại những điểm có tính chất đô thị” Theo khái niệm này, ĐTH được
xác định bằng sự kiện tăng dân số và sự phát triển không gian của thành phố.
Trong Từ điển Tiếng Việt cũng có khái niệm tương tự nhưng nhấn mạnh hơn vai trò
của đô thị đối với phát triển xã hội: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng
đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội”.
Dù không đi sâu vào bản chất và hiện tượng của chuyển động ĐTH, nhưng hai khái
niệm trên cũng đã cũng đã nói lên hai tính chất chung của ĐTH là sự tập trung dân số và
vai trò phát triển của thành phố.
Theo các nhà địa lý, ĐTH đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư,
thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp trong một
khu vực theo thời gian.
Nhà đô thị học lão thành của nước ta - Giáo sư Đàm Trung Phường thì cho rằng:
“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn liền
với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự
chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự
mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành
chính, quân sự”.
đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính
bản thân xã hội. Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng
cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng
(hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được
7
coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng là sự
cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Nó như là cảm giác của sự
đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” . Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá
nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS.
Trong xã hội hiện đại, khái niệm chất lượng cuộc sống thường được đồng nhất với
khái niệm thoải mái tối ưu. Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao chất lượng
cuộc sống là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời
gian nghỉ ngơi. Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các
sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được.
Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn. Theo ông,
CLCS thể hiện ở 12 đặc trưng:
(1) An toàn thể chất cá nhân
(2) Sung túc về kinh tế
(3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật
(4) An ninh quốc gia được đảm bảo
(5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau
(6) Hạnh phúc về mặt tinh thần
(7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội
(8) Bình đẳng về giáo dục, y tế
(9) Chất lượng đời sống văn hóa
(10) Quyền tự do công dân
(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật
(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định CLCS được đặc
trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành
* Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ tiền và hiện vật mà hộ và
thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm),
bao gồm:
9
- Thu từ tiền công, tiền lương.
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
- Thu từ sản xuất ngành nghề.
- Thu khác.
* Chỉ số nghèo đói
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về cơ
hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần gây cản trở cho sự phát triển một
cách đầy đủ mọi tiềm năng của con người.
Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống
của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mức sống của cộng
đồng hay các quốc gia khác.
Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không có
khả năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảm bảo các
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếp cận dịch vụ
khám chữa bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng. Theo quan niệm trên, để đo
lường một cách tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử dụng chỉ số nghèo đói
tổng hợp HPI (Human Poverty Index). Chỉ số HPI được phân thành hai loại: HPI-2 dùng
cho các nước công nghiệp hóa và HPI-1 dùng cho các nước đang phát triển. Chỉ số HPI-1
được tính dựa vào ba thước đo cơ bản là:
- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng xác suất
không thọ quá 40 tuổi (P
1
).
- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp,
được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ (P
++
=−
3
1
3
1
3
3
3
2
3
1
PPP
HPI
Về cơ bản, đói nghèo được xác định trong mối tương quan xã hội. Có hai dạng đói
nghèo: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèo tương đối).
Nghèo về con người được xác định bằng mức thu nhập để chi hàng hóa, dịch vụ theo mức
nghèo lương thực, thực phẩm và cả những chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ngoài lương
thực, thực phẩm.
Chuẩn nghèo tương đối đề cập đến sự thiếu hụt của cá nhân (hộ gia đình) so với mức
sống trung bình đạt được. Chuẩn này cũng không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Nhìn
chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên 1/2 thu nhập bình
quân còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân.
Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1-2 USD/ngày/người. Chuẩn nghèo quốc
tế do Liên hiệp quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nước phát triển, 1
đồng thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia. Các nước có nền kinh
tế phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay nghề trong khối
dân cư thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì các chỉ số này thường rất
thấp.
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự chuyển
biến theo hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ
người biết chữ và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học ngày càng cao.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghề ngày càng tăng và họ đang là
những lực lượng lao động mang lại chất lượng hiệu quả cao trong các ngành kinh tế. Tuy
nhiên, ở các nước có nền kinh tế đang phát triển việc sử dụng lao động không có tay nghề
trong các ngành kinh tế vẫn còn chiếm tỷ lệ cao.
* Số năm đến trường
Cùng với chỉ số tỷ lệ người lớn biết chữ thì số năm đến trường cũng là một chỉ số
quan trọng để đánh giá chất lượng học vấn của dân cư ở mỗi quốc gia. Số năm đến trường
là số năm bình quân đã được học ở trường của những người từ 15 tuổi trở lên.
12
Tiêu chí số năm đến trường có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập ở mỗi quốc gia.
Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3-4 năm, thậm chí ở
Châu Phi có một số nước chỉ có số năm đi học trung bình là 1,6 năm). Các nước có thu
nhập trung bình có số năm đi học trung bình thường là 5,3 năm. Các nước có thu nhập
cao chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ: 12,4 năm, Châu Âu: 11,1 năm ).
Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi học của nam giới thường cao hơn nữ
giới. Chỉ số số năm đến trường là một trong các chỉ số phản ánh trung thực CLCS của
từng nước.
1.2.3. Chỉ số tuổi thọ
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con
người. Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát triển của
mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc. Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chất lượng cuộc
sống dân cư. Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển. Việc chăm sóc
tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ kéo dài tuổi thọ. Các quốc
lượng học sinh đi học tiểu học, trung học và đại học (trọng số 1/3).
- Mức sống hợp lý, đo bằng GDP/đầu người theo. Cân bằng sức mua PPP tính
theo USD.
Chỉ số phát triển con người (Viết tắt theo tiếng Anh là HDI - Human development
index) là thước đo tổng hợp về sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay vùng
lãnh thổ trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua GDP bình quân đầu người); tri thức
(thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện qua tuổi thọ bình quân tính từ lúc
sinh) của con người. HDI được tính theo công thức:
Thước đo Cuộc sống dài
lâu, khỏe mạnh
Kiến thức Mức sống dư
dật
14
Chỉ tiêu Tuổi thọ trung
bình từ lúc sinh
Số năm
đến
trường
( )
Kì vọng số
năm đến
trường ( )
GNI thực tế bình
quân đầu người
(PPP.USD)
Chỉ số tuổi thọ
( )
Chỉ số giáo dục (
)
Chỉ số GDP
người; chỉ số tuổi thọ và chỉ số tri thức với giả thiết chúng có vai trò đóng góp vào
đại lượng bình quân hoá như nhau. HDI dùng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế
xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ đó sắp xếp các quốc gia và vùng lãnh
thổ vào các mức: phát triển; phát triển trung bình hay kém phát triển.
1.2.5. Các chỉ tiêu khác
* Về y tế và chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe là vốn quý, là yếu tố để đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con người. Sức khỏe
của toàn dân là diều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia, là một yếu
tố cơ bản của chất lượng cuộc sống. Sức khỏe vừa là mục đích vừa là điều kiện của sự
phát triển. Được chăm sóc tốt sứckhỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ
kéo dài tuổi lao động.
Các quốc gia trên thế giới không chỉ quan tâm về số lượng,mà còn chú ý đến chất
lượng dân số, chất lượng giống nòi, trong đó có mục tiêu nâng cao thể lực cho con người.
Những chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá tình trạng sức khỏe là tỉ lệ người chết, tuổi
thọ bình quân, tình trạng dinh dưỡng, số y-bác sĩ, y tá và số giường bệnh/1 vạn dan,ngân
sách đầu tư cho y tế và GDP/người
* Tiêu chí số calo bình quân đầu người:
Trong quá trình sống và lao động, cơ thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng
lượng. Năng lượng tiêu hao của con người do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao
động, người ta quy ước dùng đơn vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể. Số calo tiêu
dùng hằng ngày cho một người được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu
cầu thiết yếu. Để có được số calo bình quân đầu người, FAO dựa vào tình hình sản xuất
lương thực và thực phẩm. Nhu cầu năng lượng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính,
mức độ tính chất lao động và thể trạng cơ thể.
* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt:
16
Vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của
dân cư. Điều kiện sử dụng điện được phản ánh qua các tiêu chí: tỉ lệ số hộ dùng điện, số
KWh tiêu thụ tính bình quân đầu người/tháng.
* Sử dụng nước sạch:
Nam đi qua, Liên Chiểu có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển
giao thông vận tải, du lịch và là nơi tập trung 2 khu công nghiệp lớn của thành phố Đà
Nẵng. Vị trí địa lý trên là điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh và
khu vực xung quanh, trong nước và quốc tế.
2.1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
Quận Liên Chiểu có bờ biển dài 26 km, với nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô,
Xuân Thiều, Bắc Ninh, bờ biển uốn lượn chạy vòng cung ôm dọc theo tuyến đường
Nguyễn Tất Thành - một trong những con đường đẹp nhất của thành phố, thuận lợi cho
khai thác và phát triển du lịch. Ngoài ra còn có tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản.
Quận còn có lợi thế về tài nguyên rừng, trong đó rừng đặc dụng Hải Vân, diện tích
3418,7 ha. Nơi có đường hầm đèo Hải Vân, một trong những đường hầm dài nhất Đông
Nam Á xuyên qua lòng núi. Rừng ở đây phong phú các loại tài nguyên động thực vật, là
tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng lý tưởng được hình thành bởi quần
thể sinh thái như sông Cu - Đê, Làng Vân, đường hầm đèo Hải Vân và thắng cảnh thiên
nhiên Nam Ô.
18
Hình 2.1: Bản đồ hành chính thành phố Đà Nẵng
2.1.1.3. Khí hậu
Khí hậu quận Liên Chiểu tương đồng như khi hậu của thành phố Đà Nẵng. Đà
Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động.
Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và
nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam. Mỗi năm có 2
mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7,
thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung
bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng vùng rừng
núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
19
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các
Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp. Bên cạnh đó, tổng giá trị sản xuất của các ngành
kinh tế cũng tăng nhanh, tỉ trọng tổng giá trị sản xuất trong tổng GDP thành phố cũng
tăng mạnh.
Cùng với sự phát triển kinh tế, tình hình xã hội của quận Liên Chiểu cũng đang có
nhiều chuyển biến: chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện, thu nhập bình
quân đầu người tăng, chi tiêu của các hộ gia đình cũng nâng lên. Giáo dục cũng phát triển
qua sự gia tăng số trường, lớp, số học sinh. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông tăng,
trình độ học vấn của người dân dần được nâng cao. Tình hình y tế cũng được cải thiện khi
số trạm xá, số bác sĩ, nhân viên trong ngành y tế, số lượt người khám chữa bệnh tại các
bệnh viện, phòng khám trong toàn Quận… đều có xu hướng tăng lên.
2.2. Quá trình đô thị hóa ở quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng
2.2.1. Thực trạng quá trình đô thị hóa
2.2.1.1. Gia tăng dân số
Sau một thời gian dài thực hiện quá trình Đô thị hóa, dân số Quận Liên Chiểu đã
tăng lên nhanh chóng. Năm 1997, dân số Quận Liên Chiểu là 56.995 người. Năm 2010,
dân số đạt 136.737 người. Như vậy, trong 13 năm, dân số của Quận Liên Chiểu đã tăng
lên hơn 79.742 người, tăng hơn 230%. Dân số tăng nhanh nhất trong giai đoạn1998 -
2005, tốc độ tăng trung bình hơn 20.000 người/năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2005 –
2007, tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm lại, còn khoảng hơn 10.000 người/năm do quá
trình giải tỏa để xây dựng các khu dân cư mới cũng như các công trình phục vụ công cộng
bắt đầu triển khai thực hiện.
22
Bảng 2.1. Dân số Quận Liên Chiểu
1997 2000 2002 2005 2007 2010
Dân số(người) 56.625 73.120 95.092 106.767 120.124 136.737
Tốc độ tăng dân số(%)
100 128.29% 166.84% 187.32% 210.76%
239.91
%
Hình 2.3: Biểu đồ dân số và tốc độ gia tăng dân số quận Liên Chiểu
với 2.749,53 người/km
2
, quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn lần lượt là 2.241,13 và 1.769,11
người/km
2
. Mật độ dân số quận Liên Chiểu chỉ cao hơn so với huyện Hòa Vang (huyện
có mật độ dân số trung bình thấp nhất, đạt 209 người/km
2
).
Mật độ dân số quận Liên Chiểu tuy còn thấp, nhưng tăng nhanh và liên tục từ năm
1997 đến năm 2010. Năm 1997, mật độ dân số đạt 719,3 người/km
2
, đến năm 2010 là
1728 người/km
2
, tăng 240,2 %. Đô thị hóa tạo sức hút dân cư từ các nơi khác đổ về, làm
dân số quận Liên Chiểu tăng lên, kéo theo mức độ tập trung dân cư cao hơn. Đây là điều
kiện thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nhân lực để phát triển kinh tế của quận Liên
Chiểu
Đơn vị: người/km
2
Diện tích (km
2
) 2007 2010
Tổng cộng 79,13 1518 1728
Hòa Minh 7.92 3279 4898
Hòa Khánh Bắc 9.97 3000 4262
Hòa Khánh Nam 9.77 1572 2598
Hòa Hiệp Nam 7.88 2055 2030
Hòa Hiệp Bắc 43.59 299 323
2
Hình 24 : Biểu đồ mật độ dân số các phường của quận Liên Chiểu