LỜI CẢM ƠN
Chúng em gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Nhà trường
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Tài nguyên và
Môi trường, cùng toàn thể các thầy cô đã truyền đạt cho chúng em những kiến
thức quý báu trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường. Chúng em đặc
biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng đã
hướng dẫn chúng em tận tình trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ Trung tâm Dê Thỏ
Sơn Tây - Thị xã Sơn Tây - thành phố Hà Nội đã truyền đạt những kinh
nghiệm quý báu về nuôi và nhân giống giun quế.
Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người
thân, bạn bè cùng tập thể lớp 40-MT đã giúp đỡ, động viên chúng em trong
suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện đề tài. Vì thời gian có hạn
nên bản báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học của chúng em còn nhiều thiếu
sót, chúng em mong các thầy cô trong khoa và bạn bè đóng góp ý kiến để bản
báo cáo của chúng em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 2 năm 2012
Chủ nhiệm Đề tài
Bùi Minh Tuấn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.3: Lượng chất thải hữu cơ được xử lý với lượng giun khác nhau 29
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Giun đỏ 21
MỤC LỤC
Trang
Phần 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
Bảng 4.1: Hiệu quả xử lý các loại rác thải sinh hoạt hữu cơ khác nhau của giun
đỏ qua thời gian 26
Tiếp theo là công thức 1 (rác thải có thành phần tinh bột) thì sau 20 ngày theo
dõi khối lượng giun đạt 297g tăng lên so vơi khối lượng ban đầu thí
nghiệm là 97g. Cuối cùng là công thức 3 và công thức 4 với khối lượng
tăng tương ứng là 353g và 240g tăng hơn so với ban đầu là 53g và 40g.
Điều đó chứng tỏ rằng, giun sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong môi
trường rác thải có chứa nhiều Cenlulozo, khối lượng giun trong môi
trường này đạt lớn nhất. Chính vì vậy, thời gian xử lý rác thải chứa
Cenllulozo là nhanh hơn các loại rác thái khác 29
4.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác quy mô hộ gia
đình 30
Mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác thải sinh hoạt hữu cơ quy mô hộ gia đình đang
được phổ biến ở khá nhiều nơi ở nước ta vì hiệu quả của nó 30
Ưu điểm : 30
Xử lý rác thải hữu cơ đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện. Chỉ cần 1 lượng sinh khối
giun vừa đủ và 1 thùng chứa chúng, giun sẽ phân hủy hầu như tất cả
những loại rác thải hữu cơ mà gia đình ta thải ra 30
Giảm đáng kể lượng chất thải hữu cơ thải ra môi trường 30
Giun đỏ không chỉ xử lý rác thải hữu cơ mà nó còn mang lại lợi ích về kinh tế.
Giun đỏ có thể làm thức ăn cho chăn nuôi gia cầm, gia súc. Nó còn là vị
thuốc Đông y cực kì hữu hiệu. Phân giun là 1 loại phân xanh sạch, giàu
chất dinh dưỡng thân thiện với môi trường rất thích hợp trồng cây cảnh,
cây ngắn ngày 30
Nhược điểm : 31
- Do quá trình phân hủy hiếu khí chất thải sinh hoạt hữu cơ nên trong quá trình
giun xử lý rác sẽ có mùi. Tùy vào lượng và thành phần chất thải hữu cơ
giun xử lý mà gây ra những mùi khác nhau. Việc xử lý mùi có thể được
giải quyết bằng phương pháp dùng một ống thông mùi có sử dụng than
hoạt tính 31
chon lấp thì tiềm năng của chúng bị mất đi và các chất gây ô nhiễm này sẽ
phát tán vào không khí, nguồn nước gây ô nhiễm môi trường .Dùng giun để ủ
phân là một phương pháp ủ có thể dễ dàng được sử dụng ngay tại nhà .Bên
cạnh đó, giun đỏ cũng là thức ăn ưa thích để nuôi gia cầm, cá,…
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu vể khả năng phân
hủy chất hữu cơ của Giun đỏ, và cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định,
bài báo cáo này giúp tìm hiểu rõ hơn về công nghệ này. Rác thải hữu cơ có
thời gian phân hủy nhanh, công nghệ này có thể làm giảm thời gian thu gom,
hạn chế sự phát tán ô nhiễm vào không khí, và tiết kiệm chi phí thu gom,
phân loại rác.
Xử lý rác thải bằng cách nuôi giun là một công nghệ đơn giản, không đòi
hỏi trình độ vận hành hay quản lý, trình độ kĩ thuật cao như những phương pháp
xử lý khác. Vì vậy, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường ban chủ
nhiệm khoa Tài Nguyên và Môi Trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng, nhóm
sinh viên chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học: “Ứng dụng mô hình
nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hô gia đình”
1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xử lý rác thải sinh hoạt mà chủ yếu là rác thải hữu cơ bằng biện pháp
đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện.
- Giảm thể tích rác thải cần phải phân loại và xử lý.
- Tạo nguồn phân bón giàu chất dinh dưỡng cho thực vật như rau, cây
cảnh,…
- Nhân rộng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ cho từng hộ
gia đình.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Tìm hiểu cách nuôi, điều kiện sống của giun đỏ.
- Xử lý nguồn rác thải hữu cơ hộ gia đình bằng biện pháp sinh học
không gây độc hại.
thuốc có sử dụng giun. Trước năm 1975, có dược sĩ Hồ Thị Thu đã nghiên
cứu sản xuất những dược phẩm từ giun. Năm 1987 trường Đại học Y dược TP
Hồ Chí Minh nghiên cứu những hoạt chất chủ yếu, thành phần đạm, các acid
amin, khoáng vi lượng trong thịt giun.
3
Nghiên cứu nuôi giun: năm 1983 tiến sĩ nông hóa Nguyễn Văn Chuyển,
một Việt kiều ở Nhật đã giới thiệu trên đài truyền hình TP Hồ Chí Minh kỹ
thuật nuôi giun đất để lấy đạm động vật. Năm 1986, nghiên cứu nuôi giun
sớm nhất ở Viêt Nam là phòng sinh học thực nghiệm, Đại học Sư phạm I Hà
Nội, nghiên cứu thành công việc thuần hóa giun quế, Perionyx excavatus, có
trong tự nhiên ở Việt Nam, thành vật nuôi. Tiến sĩ Nguyễn Văn Bảy, trường
Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh đã nhập
giun quế về Việt Nam để nghiên cứu nhân giống từ năm 1995. Một nhóm tác
giả khoa sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh đã thí nghiệm
nuôi giun bằng chất thải từ nghề trồng nấm.Đến nay việc nuôi giun đất đã
được triển khai tại nhiều tỉnh, TP – từ năm 1990 các tỉnh Cao Bằng, Hà
Giang, Bắc Thái; 1996 ở Bảo Lộc – Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Long An,
các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Đề tài : “ Nuôi giun xử lý rác thải” TS.Huỳnh Thị Kim Hối (Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật) với công bố : “Chỉ cần từ 1 đến 2 lạng giun là có
thể xử lý được không dưới 300 kilogam rác thải hữu cơ, với hiệu suất xử lý
đạt 100%” (Báo khoa học , 2010)[1]
Hiện nay nhiều đề tài nghiên cứu của học sinh sinh viên trên toàn quốc về
giun đỏ xử lý rác thải hữu cơ như :
- Trần Kim Thanh Vũ và Đinh Thị Thu Hà là hai học sinh lớp 11
Trường THPT Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Đề tài của hai bạn là
“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp lên men kết hợp nuôi Giun đỏ”.
- “Phương pháp xử lý rác thải bằng giun quế” của nhóm sinh viên
trường đại học nông lâm Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS.Lê Quốc
Tuấn.
đốt có một vành tơ. Khi di chuyển, các đốt co duỗi kết hợp các lông tơ phía
bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển một cách dễ dàng.
Giun đỏ hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2
trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước
nhiều lần, thậm chí trong nhiều tháng. Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận
ở mỗi đốt. các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm
dưới dạng Amoniac và Urer. Giun đỏ nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng,
lượng thức ăn mỗi ngày được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương đương
với trọng lượng cơ thể của nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh
vật cộng sinh, chúng thải ra phân (Vermicas) ra ngoài rất giàu dinh dưỡng (hệ
5
số chuyển hóa ở đây vào khoảng 0.7), những vi sinh vật cộng sinh có ích
trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể giun nhưng vẫn còn hoạt
động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài. Đây là một trong những
nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả
cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên. (
Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[8]
2.2.3 Đặc tính sinh lý của giun đỏ (Trùn quế)
Giun đỏ rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và
biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn. Nhiệt độ thích hợp nhất với
Giun đỏ nằm trong khoảng từ 20 – 30
0
C, ở nhiệt độ khoảng 30
0
C và độ ẩm
thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ quá thấp,
chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi
lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều kiện khô và
nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi
Oxy.Giun đỏ rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định.
điều kiện tối và ẩm) giun sẽ tập kết đến những chỗ có thức ăn mà chúng cho
là ngon nhất. (Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[8]
2.2.4 Sự sinh sản và phát triển
Giun quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối
ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam. Theo nhiều tài
liệu, từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000
–1.500 cá thể trong một năm.
Giun quế là sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở
phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi
con, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20 trứng,
kén giun di chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất. Kén áo hình dạng thon dài,
hai đẩu túm nhọn lại gần giống như hạt bông cỏ, ban đầu có màu trắng đục,
sau chuyển sanh xanh nhạt rồi vàng nhạt. Mỗi kén có thể nở từ 2 – 10 con.Khi
mới nở, con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2 – 3mm, sau 5 – 7
ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn
đỏ thẫm trên lưng. Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu
xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt đầu có khả
năng bắt cặp và sinh sản. Con trưởng thành khỏe mạnh có màu mận chín và
có sắc ánh kim trên cơ thể.
Giun đẻ rất khỏe. Thông thường, mỗi tuần đẻ một lần và 3 tuần sau kén
7
nở, 3 tháng sau thành giun trưởng thành. Giun mẹ sống tới 12 năm và vẫn đẻ.
Vì vậy, tất cả các thế hệ từ cụ, kỵ, ông, cha, cháu, chắt, chút, chit,… đều đẻ.
Chúng tăng đàn theo cấp số nhân! Khi nuôi, ta ngạc nhiên vì tốc độ tăng đàn
phi thường này. Đây cũng là tính ưu việt của giun quế. Rõ ràng từ đặc điểm
này mà từ phân trâu, bò, phân gia súc ta có thể tạo ra vô vàn giun quế - nguồn
đạm động vật quý giá để cung cấp cho các loài vật nuôi trong gia đình. Đây là
điều mà nông dân nào cũng cần lưu tâm.
2.2.5 Các mô hình nuôi Giun đỏ
Hiện nay, tên thế giới có nhiều mô hình nuôi Giun đỏ: từ đơn giản như
bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2m, độ sâu (hoặc cao) khoảng
30 – 40 cm, bảo đảm thoát nước được nước và thông thoáng. Mái che nên làm
ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau. Độ
dày chất nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần. Luống nuôi cần
được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của Giun và chóng các thiên
địch.
Nuôi trên đồng ruộng không có mái che:
Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công
nghệ nuôi Giun như Mỹ, Úc và có thể thực hiện ở quy mô lớn. Luống nuôi
có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2m, chiều dài thường
không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi. Với phương pháp này, người nuôi
không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc
và thu hoạch sản phẩm. Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ sung hàng
tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng. Tuy nhiên, phương pháp nuôi này
bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến Giun và cần
một diện tích tương đối lớn.
Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp
Là dạng cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng
và nuôi trong thau chậu. Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố
trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng. Việc
chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy
mô. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi.
Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang
thiết bị cao. Hiện nay, quy mô nuôi công nghiệp vớI những trang thiết bị hiện
đại được áp dụng khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada.
(Trại giun quế PHT, 2009)[14]
9
2.2.6 Ch m sóc, ch h i, thu ho chă đị ạ ạ
• Ch m sócă
Sau khi th gi ng, 2 – 3 ngày sau m i ki m tra. Lúc ó d hé t mả ố để ớ ể đ ỡ ấ
g i nhau chít chít. Ban ngày chúng r t lo ng cho ng, d b t ho c ánhọ ấ ạ ạ ễ ắ ặ đ
ch t chúng. Chúng l i không có kh n ng leo trèo. Vì v y, n u ta ng n c aế ạ ả ă ậ ế ă ử
ho c ng n quanh lu ng nuôi b ng m t vách ng n cao kho ng 40cm là chúngặ ă ố ằ ộ ă ả
ch u ch t, không vào c.Gà, v t, chim chóc c ng là k thù c a giun. Ta nuôiị ế đượ ị ũ ẻ ủ
giun cho gà, v t n nh ng n u chúng vào lu ng thì chúng s b i tung lênị ă ư ế để ố ẽ ớ
và n s ch c gi ng. Vì v y, ph i quây l i ho c an t m phên ph lên lu ngă ạ ả ố ậ ả ướ ặ đ ấ ủ ố
giun ng n b n này phá ho i. Nhi u ng i nuôi giun ng i nh t là vi c ch ngđể ă ọ ạ ề ườ ạ ấ ệ ố
ki n. Th c t , vi c ch ng ki n l i r t n gi n.Bình th ng, ki n không chiuế ự ế ệ ố ế ạ ấ đơ ả ườ ế
rúc vào ch m t nh các lu ng giun. Chúng ng i n c. Tuy nhiên khiỗ ẩ ướ ư ố ạ ướ
lu ng giun có giun ch t là chúng lao vào.ố ế
• Thu hoạch (Nguyễn Lân Hùng, 2009)[7]
Có nhi u cách thu ho ch giun. Tùy yêu c u mà ch n cách phù h p. ề để ạ ầ ọ ợ
a. Thu ho ch nhanh b ng tayạ ằ
b. Thu ho ch b ng ph ng pháp nh m i.ạ ằ ươ ử ồ
c. Ph ng pháp thu ho ch b ng e d aươ ạ ằ đ ọ
2.3. Tổng quan về rác thải sinh hoạt
2.3.1. Một số khái niệm liên quan
• Khái niệm chất thải
Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 [12]
“Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác".
Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải
sản xuất, dịch vụ, y tế, mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi.
• Định nghĩa rác thải sinh hoạt :[ ]
“Rác thải sinh hoạt ( chất thải rắn sinh hoạt) sinh ra từ mọi người và mọi
nơi: Gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải
trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò, ” (Kỷ yếu Hội
Thảo Quản lý Chất Thải Rắn Tp. Hồ Chí Minh, 2002) [3]
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học,
sâu, thùng chứa thuốc, vỏ, bao bì. (bảng 1)
Bảng 2.1. Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
12
Loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn
Tổng lượng chất thải rắn sinh họat
(tấn/năm)
+ Các vùng đô thị
+ Các vùng nông thôn12.800.000
6.400.000
6.400.0006.400.000
Chất thải rắn nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm
128.400 125.000 3.400
Chất thải rắn không nguy hại từ công
nghiệp (tấn/năm
2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải nguy hại phát sinh từ nông
nghiệp (tấn/năm
8.600 - -
Lượng hóa chất tồn lưu (tấn) 37.000
Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000
thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tăng đồng
đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Theo thống kê năm 2002, lượng
CTR sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và 0,4-0,5
kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ. Đến năm 2008 và đầu 2009, tỷ
lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9-1,3 kg/người/ngày ( bảng
2). Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, đô thị có lượng chất
thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà
Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh ít nhất là Bắc
Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày;
TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang
37,1 tấn/ngày.Như vậy,lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu
tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy chỉ có 2 đô
thị nhưng tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tới 8.000 tấn/ngày
(2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát
sinh từ tất cả các đô thị Lê Văn Khoa (2010)[10]( hình 4).
Bảng 2.2. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Khu vực Lượng phát thải
theo đầu người
(kg/người/ngày)
%
So với
tổng lượng chất
thải
%
thành phần
hữu cơ
Đô thị ( toàn quốc ) 0,7 50 55
- Tp. Hồ Chí Minh 1,3 9
- Hà Nội 1,0 6
- Đà Nẵng 0,9 2
Tổng lượng
CTRSH đô thị
phát sinh
(tấn/ngày)
1 Đồng bằng sông Hồng 0,81 4.441
2 Đông Bắc 0,76 1.164
3 Tây Bắc 0,75 190
4 Bắc Trung Bộ 0,66 755
555 Duyên hải Nam Trung
Bộ
0,85 1.640
6 Tây Nguyên 0,59 650
7 Đông Nam Bộ 0,79 6.713
8 Đồng bằng sông Cửu
Long
0,61 2.136
Tổng cộng 0,73 17.692
(Tổng cục môi trường, 2007)[18]
Với kết quả điều tra thống kê như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh rác
thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối
16
cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Để quản lý tốt nguồn
chất thải này, đòi hỏi các cơ quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu
giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý,
tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh
hoạt gây ra.
2.3.3. Tình hình rác thải sinh hoạt trên thế giới hiện nay
Nạn ô nhiễm môi trường có thể thấy ở mọi nơi trên thế giới, từ Mexico,
Nga, Mỹ cho tới Trung Quốc, Ấn Độ… Tình trạng ô nhiễm ở một vài thành
phố tại những quốc gia này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Trong đó ý
Cây gỗ 6.6
Giấy, bao bì 2.1
Plastic khó tái chế 9.1
Cao su, đế giày dép 6.3
Vải sợi, vật liệu sợi 4.2
Đất đá, bê tông 1.6
Thành phần khác 5.4
(Howadico, 2002)[]
Phân loại rác sinh hoạt tại nhà (Kỷ yếu Hội Thảo Quản lý Chất Thải Rắn
Tp. Hồ Chí Minh, 2002)[3]
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong từng lĩnh vực thực tế
đã góp phần giảm thiểu chi phí cho các công đoạn thừa trong các quá trình xử
lý. Việc phân chia rác thải rắn theo công nghệ quản lý xử lý là một bước tiến
quan trọng, giúp hiệu quả của quy trình xử lý tăng lên, giảm thiểu lượng ô
nhiễm.
Mục tiêu
Tách rác ra làm hai thành phần riêng biệt nhằm nâng cao hiệu quả của
các hoạt động xử lý tiếp theo.
Phân loại rác
o Rác chia làm hai loại chính: chất hữu cơ dễ phân hủy và các chất còn
lại tạm gọi là rác tái sinh.
o Rác hữu cơ dễ phân hủy là các loại rác hữu cơ dễ bị thối rữa trong
điều kiện tự nhiên sinh ra mùi hôi thối như: các loại thức ăn thừa, thức ăn hư
hỏng, vỏ trái cây, các chất thải tách ra do làm bếp…
o Rác tái sinh: là các loại rác có thể sử dụng lại nhiều lần trực tiếp hoặc
chế biến lại như: giấy, cacton, vỏ đồ hộp, thủy tinh, các loại nhựa, quần áo cũ,
bàn ghế cũ…
18