TÀI CHÍNH HỌC – NHÓM 5
Chủ đề 1: Tìm hiểu Hệ thống tài chính Việt Nam, vai trò của hệ thống tài chính đối với sự
phát triển kinh tế Việt Nam. Tìm hiểu hoạt động của 1 loại trung gian tài chính ở Việt Nam
(Cụ thể là công ty Bảo Hiểm).
I. Cơ cấu hệ thống tài chính của Việt Nam và vai trò đối với sự phát triển kinh tế
Hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay gồm 4 thành tố chính
1. Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng nguồn tài
chính. Có rất nhiều cách chia thị trường tài chính khác nhau:
- Dựa vào thời hạn của tín dụng, thị trường tài chính được chia làm hai loại là thị trường
tiền tệ (nơi giao dịch các công cụ tài chính có thời hạn dưới 1 năm) và thị trường vốn (nơi
giao dịch các công cụ tài chính có thời hạn trên 1 năm). Ở Việt Nam, hầu hết vốn ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn đều do các ngân hàng thương mại cung cấp.
- Dựa trên loại tín dụng, hiện Việt Nam cũng đã có thị trường tín phiếu, thị trường trái
phiếu, thị trường cổ phiếu; thị trường vay nợ ngân hàng. Trong đó, thị trường vay nợ ngân
hàng là chủ yếu.
- Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: Việt Nam cũng đã có thị trường sơ cấp là nơi
phát hành chứng khoán lần đầu tiên. Trên thị trường thứ cấp, hiện có 26 loại cổ phiếu, một
chứng chỉ của quỹ đầu tư VF1, các loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu của Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam được giao dịch.
- Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung: Ở Việt Nam, số lượng các doanh
nghiệp giao dịch trên thị trường tập trung là rất ít, trong khi các giao dịch trên thị trường
phi tập trung là chủ yếu.
- Thị trường chính thức và phi chính thức: Ngoài thị trường tài chính chính thức, nơi mà
các ngân hàng, các công ty tài chính, các công ty chứng khoán … hoạt động, còn có thị
trường phi chính thức là các hợp tác xã tín dụng, các tổ chức tín dụng vi mô ở nông thôn,
hụi … hoạt động. Các loại hình tín dụng phi chính thức này đóng một vai trò đáng kể
trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
•
Các công cụ tài chính
Hiện tại trên thị trường tài chính Việt Nam có các loại công cụ tài chính sau:
- Vay thế chấp mua bất động sản: Hiện ở Việt Nam đã có công cụ này và các ngân hàng
thương mại cổ phần đi đầu trong việc cho vay theo phương thức này.
Các loại công cụ tài chính phái sinh
- Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract): Hiện trên thị trường Việt Nam có loại hình giao
dịch này và chủ yếu là các hợp đồng mua bán ngoại tệ.
- Hoán đổi (Swap): Hiện ở Việt Nam đã có loại hình này, nhưng lượng giao dịch rất hạn
chế. Các giao dịch chủ yếu được thực hiện trên thị trường ngoại hối. Các loại hình hoán
đổi khác như lãi suất … hầu như chưa xuất hiện.
- Quyền chọn: Hiện một số ngân hàng Việt Nam đã có loại hình giao dịch này, nhưng khối
lượng giao dịch là rất hạn chế. Chưa có tổ chức tài chính nào thực sự bán quyền chọn mà
chỉ thực hiện dưới hình thức là các trung gian.
2. Trung gian tài chính
2.1. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
a. Vị trí: là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.
2
b. Vai trò
• Huy động vốn: gồm Nhận tiền gửi, Phát hành giấy tờ có giá, Vay vốn giữa các tổ chức tín
dụng, Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
• Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và
giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
• Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Mở tài khoản, Dịch vụ thanh toán, Dịch vụ ngân quỹ,
tham gia các hệ thống thanh toán.
• Các hoạt động khác: Góp vốn, mua cổ phần, Tham gia thị trường tiền tệ, Kinh doanh
ngoại hối và vàng, Nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, Kinh doanh bất động sản, Kinh doanh và
dịch vụ bảo hiểm, Dịch vụ tư vấn.
c. Tầm ảnh hưởng
+ Ngân hàng thương mại: Hiện ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh
chiếm hơn 70% thị phần tín dụng và huy động vốn; 37 ngân hàng cổ phần đô thị và nông
thôn, chiếm 11% thị phần tín dụng và huy động vốn; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
doanh. 6 công ty còn lại trực thuộc 4 ngân hàng thương mại quốc doanh. Trong đó, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam có 2 công ty. Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế.
• Các quỹ tín dụng: có hai loại hình quỹ tín dụng là quỹ tín dụng trung ương và quỹ tín
dụng khu vực. Tổng số các hợp tác xã tín dụng là 898 và chiếm 1,5% thị phần huy động
vốn và cho vay.
Ngoài ra còn một số loại hình tổ chức tài chính khác hoạt động theo Luật các tổ chức
tín dụng là các công ty quản lý tài sản, các tổ chức cầm đồ…
2.2. Các công ty bảo hiểm
Hiện có khoảng 24 công ty bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với tổng vốn điều lệ
gần 5.000 tỷ đồng. Trong đó có 4 doanh nghiệp nhà nước, 7 công ty bảo hiểm cổ phần, 7
công ty bảo hiểm liên doanh và 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Các công ty bảo
hiểm hoạt động theo Luật bảo hiểm và chịu sự quản lý của Bộ Tài chính.
a. Vị trí: được thành lập theo quy định của Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các quy định
khác của pháp luật để hoạt động Bảo hiểm bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của những tổ
chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.
b. Vai trò
• Bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo
hiểm;
• Đề phòng và hạn chế tổn thất;
• Bảo hiểm là một công cụ tín dụng;
• Góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động
tái bảo hiểm.
c. Tầm ảnh hưởng
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử
dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo
đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường. Bảo hiểm
được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ
một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
2.3. Một số hình thức trung gian tài chính khác
ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.
- Nguồn lực và thông lệ giám sát: Theo đánh giá thì nguồn lực và các thông lệ giám sát
chưa đáp ứng nhu cầu cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, phát triển bền vững và
hội nhập quốc tế.
- Cung cấp thông tin: Hiện nay các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung
đang từng bước áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Các quy định về kiểm toán vẫn
chưa thực sự đầy đủ và được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Hiện vẫn chưa có hệ thống
lưu trữ thông tin tín dụng và tổ chức xếp loại tín dụng đủ độ tín cậy. Hiện trung tâm thông
5
tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đảm nhận nhiệm vụ này. Tuy
nhiên để trở thành một tổ chức có độ tin cậy cao thì CIC còn rất nhiều việc phải làm.
- Hệ thống thanh toán: Các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại đã xây
dựng hệ thống thanh toán tập trung. Từ năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đây là một bước tiến trong việc áp dụng
công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam. Khi tất cả các ngân hàng xây dựng
xong hệ thống này thì công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam là đảm bảo.
4. Các tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính
4.1. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam
Là cơ quan do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con
dấu riêng; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại; được bố trí
biên chế hành chính chuyên trách; kinh phí hoạt động của Ủy ban do ngân sách nhà nước
bảo đảm và được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của Văn phòng Chính phủ.
Các chức năng cụ thể của Ủy ban là:
• Điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành; giám sát chung thị trường tài chính và
việc chấp hành các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quan
thanh tra - giám sát chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.
• Giám sát điều kiện được cấp phép hoạt động của các tổ chức tín dụng, tổ chức tín
dụng phi ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.
• Phân tích, dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và nguy
4.3. Bộ Tài chính
Là cơ quan của chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài
chính, ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ
quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp và hoạt
động dịch vụ tài chính (gọi chung là lĩnh vực tài chính - ngân sách), hải quan, kế
toán, kiểm toán độc lập và giá cả trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ
công trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập và giá cả;
thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật.
4.4. Uỷ ban chứng khoán nhà nước
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi mới thành lập là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính.
- Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sát
các hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về
chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng
khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng
khoán, thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật. Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà
nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội.
4.5. Các tổ chức tài chính quốc tế có quan hệ với Việt Nam
Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP)
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Ngân hàng Thế giới (WB)
7
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
II. Nhiệm vụ cầ n làm để phát triển và nâng cao vai trò của hệ thống tài chính Việt
Nam
Thứ nhất, Mạnh dạn dứt bỏ tư duy về một nền tài chính của kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, chúng ta đã đổi mới nếp nghĩ, cách làm. Hình thành mới quan điểm về động viên và
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải được coi trọng hơn. Ưu tiên dành vốn
8
cho các chương trình, các mục tiêu quốc gia, tăng chi cho văn hoá giáo dục, y tế và phát
triển khoa học kỹ thuật.
Thứ tư, với nhận thức kinh tế là gốc của tài chính, nền tài chính mạnh là nền tài chính
được vận hành trong một nền kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy tài chính Việt Nam phải
luôn hướng về phục vụ, khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển. Thực hiện hạch
toán kinh tế, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, sắp xếp
lại DNNN, giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế, lợi ích tài chính. Sự bình đẳng của luật pháp
và sự công bằng của chính sách tài chính. Chủ động trong lộ trình hội nhập, tham gia tích
cực trong các quan hệ kinh tế tài chính song phương và đa phương .
Thứ năm, coi trọng phân phối, sử dụng nguồn lực sao cho có hiệu quả, tiết kiệm. Thi
hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, để thực hiện tiết kiệm có hiệu quả cần phi tăng cường
kiểm tra, kiểm soát.
Thứ sáu, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý điều hành
của ngành tài chính. Hệ thống tổ chức bộ máy ngành tài chính phải không ngừng được,
đổi mới, năng lực cán bộ ngành tài chính phải không ngừng được hoàn thiện, nâng cao,
đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Cùng với việc kiện toàn bộ máy,
chức năng tài chính và các tổ chức trong nội bộ ngành phải càng được xác định rõ ràng,
đầy đủ hơn. Công tác hoạch định chính sách tài chính phải được tách dần khỏi các đơn vị
điều hành và quản lý tài chính. Hệ thống thuế phải được tổ chức lại theo chuyên ngành,
thống nhất từ trung ương đến địa phương, phân chia rõ 3 bộ phận trong ngành thuế, đảm
bảo hành thu và kiểm tra việc thu thuế. Đội ngũ cán bộ tài chính phải ngày càng được tăng
cường cả về số lượng, chất lượng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp
vụ chuyên môn và năng lực quản lý cho cán bộ, công chức phải được quan tâm đúng mức.
Từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý.
Tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tài chính, coi trọng sự
phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách kinh tế tài chính.
Luôn duy trì và đảm bảo tính thống nhất, kỉ cương, kỉ luật trong chỉ huy, điều hành nền
tài chính quốc gia. Phê phán và lên án mạnh tư tưởng, việc làm vô kỉ luật, chấp hành thiếu
Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu đầu tiên và quan trọng nhất, cơ bản nhất của con
người là nhu cầu sinh lý hay còn gọi là nhu cầu vật chất tối thiểu (ăn, mặc, ở, đi lại ). Chỉ
khi con người được đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu tối thiểu thì họ mới quan tâm đến
các nhu cầu khác cao hơn. Do vậy, khi điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, thu nhập của
người dân còn thấp và chưa đủ trang trải các nhu cầu sinh lý thì dẫu họ có nhận thức được
vai trò của bảo hiểm nhân thọ họ cũng không thể quan tâm đến việc tham gia bảo hiểm
nhân thọ. Vì thế, điều kiện kinh tế - xã hội và mức sống của người dân là nhân tố tác động
trực tiếp đến nhu cầu bảo hiểm và thị trường bảo hiểm nhân thọ. ở những nước có nền
kinh tế phát triển, nhu cầu bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng thường rất
cao, bởi họ mong muốn được đảm bảo an toàn trên nhiều phương diện. Trái lại, ở các
nước kém phát triển ngoài lý do thu nhập chi phối, người dân nhận thức không đầy đủ về
rủi ro và hậu quả của rủi ro nên nhu cầu bảo hiểm nhân thọ ở những nước này rất thấp và
thị trường bảo hiểm nhân thọ không phát triển.
- Thị trường bảo hiểm nhân thọ có dung lượng khách hàng rất lớn.
Khách hàng của thị trường bảo hiểm nhân thọ phải kể đến đó là: người được bảo hiểm
và người tham gia bảo hiểm. Người được bảo hiểm nhân thọ bao gồm mọi người ở các lứa
tuổi khác nhau không phân biệt nam, nữ, dân tộc, quốc tịch còn người tham gia bảo hiểm
10
nhân thọ cũng có thể là người được bảo hiểm và cũng có thể họ tham gia ký kết hợp đồng
cho những người thân hoặc những người có quan hệ với họ. Hơn nữa, bảo hiểm nhân thọ
là loại hình bảo hiểm con người tuỳ theo nhu cầu và khả năng tài chính, một người có thể
tham gia nhiều loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác nhau, thậm chí một loại sản phẩm
họ có thể ký kết nhiều hợp đồng ở nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ cùng một lúc.
- Thị trường bảo hiểm nhân thọ là thị trường dịch vụ tài chính
Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường rất dài (tối thiểu là 5 năm),
cho nên nó chịu sự tác động rất lớn của yếu tố lạm phát. Theo qui luật chung, nếu nền
kinh tế phát triển ổn định, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, thì quá trình phát triển của
thị trường sẽ rất ổn định. Ngược lại, nếu lạm phát cao thì thị trường sẽ chịu sự tác động
lớn. Bởi vì, bảo hiểm nhân thọ có yếu tố tiết kiệm, trong khi đó thời hạn bảo hiểm dài nên
người dân rất quan tâm tới vấn đề lạm phát.
trong thời gian quy định của hợp đồng thì công ty bảo hiểm sẽ không thanh toán bất kỳ
khoản tiền nào.
Bảo hiểm sinh kỳ (bảo hiểm trong trường hợp sống) là loại bảo hiểm cam kết chi trả số
tiền đều đặn trong 1 khoảng thời gian xác định hoặc suốt đời. Nếu người được bảo hiểm
chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được thanh toán bất kỳ khoản nào.
Bảo hiểm trọn đời: loại hình đòi hỏi sự đóng góp thường xuyên, công ty bảo hiểm sẽ
cam kết chi trả với số tiền bảo hiểm được ấn định trên hợp đồng khi người được bảo hiểm
chết bất cứ lúc nào sau khi kí hợp đồng.
Thực tế thì công ty thường đưa ra các sản phẩm hỗn hợp hoặc một sản phẩm bảo hiểm
đơn lẻ kèm theo sản phẩm phụ trong một hợp đồng bảo hiểm.
• Bảo Hiểm Nhân Thọ Bảo Việt
1. Khát quát
Tên giao dịch: Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Nhân thọ (Bảo Việt Nhân Thọ)
Tiếng Anh: BAOVIET LIFE
Thuộc tập đoàn Bảo Việt
Vốn điều lệ: 2.000 tỷ đồng
Trụ sở chính: Tầng 6, tầng 10, Tòa nhà Ocean Park, Số 1 Đào Duy Anh, Quận Đống Đa
-TP.Hà Nội
Là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thị trường Việt Nam từ năm 1996
Tổng doanh thu năm 2013 đạt 8.000 tỷ đồng. Trong đó Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm
2013 đạt 6.000 tỷ đồng. Doanh thu khai thác mới đạt gần 1.568 tỷ đồng, tăng trưởng
20% so với năm 2012. Lợi nhuận trước thuế đạt 700 tỷ đồng.
2. Quy mô
a. Bảo Việt Nhân thọ có hệ thống mạng lưới rộng lớn 60 Công ty thành viên, hơn 300
điểm phục vụ khách hàng trên toàn quốc với đội ngũ hơn 1.500 cán bộ chuyên môn cao và
gần 40.000 tư vấn viên chuyên nghiệp.
b. Bảo Việt Nhân thọ đã đưa ra thị trường hơn 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đáp ứng
các nhu cầu đa dạng của khách hàng: tạo lập quỹ giáo dục cho con, hỗ trợ viện phí, tiết
kiệm và tích luỹ tài sản để thực hiện những dự định lớn (như mua nhà, mua xe, du lịch…),
hình thành quỹ hưu trí cho cuộc sống tuổi già an vui….
Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm
sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người.
c. Quản lý quỹ và tiến hành hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực sau:
- Mua trái phiếu Chính phủ
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
- Kinh doanh bất động sản
- Góp vốn vào các doanh nghiệp khác
- Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
13
B. BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1. Khái niệm, đặc điểm
a) Khái niệm
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại bảo hiểm công ty cam kết chi trả bồi thường khi có sự
kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến tổn thất vật chất và tai nạn con người liên quan đến
người tham gia bảo hiểm
b) Đặc điểm
- Thời gian hợp đồng ngắn thường là 1 năm
- Chỉ bồi thường và chi trả trong thời gian hợp đòng còn hiệu lực.
- Phí tính theo từng năm, mỗi năm mỗi khác, tùy theo mức độ rủi ro.
- Các nghiệp vụ về tài sản, trách nhiệm dân sự giữa người bảo hiểm, người được bảo hiểm
và bên thứ 3 liên quan đến rủi ro bảo hiểm có quan hệ quyền lợi và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại.
2. Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: Chỉ bảo hiểm một rủi
ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái
chắc chắn xảy ra.
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên
cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối. Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm
đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề.
c) Bảo hiểm con người phi nhân thọ
Đặc điểm
- Hậu quả mang tính chất thiệt hại
- Người được bảo hiểm được quy định trong một độ tuổi nhất định
- Thời gian ngắn thường 1 năm
- Kết hợp với nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng 1 hợp đồng
Các nghiệp vụ
- Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
- Bảo hiểm tai nạn hành khách
- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật
- Bảo hiểm học sinh
IV. Câu hỏi và đáp án
Câu 1 : Phát triển tài chính có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế không?
Tại sao?
Trả lời: Có. Vì Phát triển tài chính mà biểu hiện bên ngoài là các trung gian tài chính có
chất lượng cao, nghĩa là các nhà đầu tư được đảm bảo hệ thống pháp luật tài chính chặt
chẽ, chuẩn mực kế toán minh bạch sẽ là tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Phát triển tài chính là điều kiện cần cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, Hoạt động hệ
thống tài chính kém hiệu quả và không phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế với thể chế
nhà nước sẽ mang lại rủi ro rất lớn đối với nền kinh tế. Những rủi ro chủ yếu là: Nguồn
lực tài chính phân bổ kém hiệu quả; không có khả năng hấp thụ nguồn tài chính huy động
được, đặc biệt là nguồn tài chính ngoài lãnh thổ tăng gánh nặng nợ nần; nguy cơ khủng
hoảng tài chính Vậy tiềm lực để phát triển kinh tế chính là sự phát triển tài chính .
Câu 2: Có bao nhiêu hình thái hoạt động của công ty bảo hiểm và nguyên lý kinh
doanh của các công ty bảo hiểm?
15
Trả lời: công ty bảo hiểm gồm 2 hình thái hoạt động là công ty BH nhân thọ và công ty
BH phi nhân thọ, mỗi loại hình công ty bảo hiểm sẽ kinh doanh từng loại bảo hiểm riêng,
1 số công ty bảo hiểm lớn có thể kinh doanh cả 2 (Tập đoàn Bảo Việt), nhưng đều dựa trên
nguyên lý cơ bản là cung cấp các sản phẩm bảo hiểm thông qua việc thu phí bảo hiểm của
Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi
thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro
được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng
bảo hiểm còn hiệu lực.
Phí bảo hiểm tính cho từng năm bảo hiểm
hoặc từng chuyến.
Phí bảo hiểm phi nhân thọ dược tính cho thời
hạn bảo hiểm, Phí cho những năm tiếp theo sẽ có
thay đổi. Phí bảo hiểm phi nhân thọ còn phụ
thuộc vào mức độ rủi ro
16
Ngoài các nghiêp vụ bảo hiểm con người phi
nhân thọ, còn các nghiệp vụ khác như tài sản,
trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người
được bảo hiểm và Người thứ ba có liên quan tới
rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Các loại sản phẩm:
- Bảo hiểm tử kì
- Bảo hiểm sinh kì
- Bảo hiểm trọn đời
Các loại sản phẩm:
- Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm dân sự
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ
Câu 4: Vẽ sơ đồ khái quát hệ thống tài chính Việt Nam
Sơ đồ khái quát hệ thống tài chính Việt Nam
17
Ngân sách
nhà nước