A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ rất lâu, khi chưa có truyền hình, các trò chơi điện tử hay các cuốn băng
vidéo, trẻ nhỏ rất mê những câu truyện cổ tích.
Không có những nhân vật như siêu nhân khủng long, siêu nhân vũ trụ xuất
hiện tràn lan trên thị trường sách dành cho thiếu nhi hiện nay ở nước ta,
truyện cổ tích được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Được chắt lọc
chúng dần trở nên tinh tế hơn, mang nhiều ý nghĩa khác nhau mà bất kỳ đứa
trẻ nào, dù ở lứa tuổi nào hay thuộc giới tính nào cũng có thể tìm ở đó rất
nhiều ý tưởng. Các ý tưởng đó giúp chúng vượt qua những khó khăn và lớn
lên một cách khách quan.
Tuổi thơ không phải là một dòng sông dài yên bình
Ngay từ những năm đầu đời, trẻ đã phải trải qua rất nhiều thử thách: thất
vọng, sự ganh đua giữa các anh chị em, sự so sánh với những người xung
quanh, tinh thần trách nhiệm… Điều đó đôi khi làm trẻ cảm thấy bị cô độc và
lolắng.
Nhiều cha mẹ sai lầm khi cho rằng cần bao bọc con khỏi những tác động
khiến tâm hồn non nớt ấy bị rối loạn. Họ luôn nói với con về những mặt tích
cực của vấn đề. Họ không hay biết điều đó không hề làm chúng cảm thấy yên
lòng mà trái lại, càng củng cố các lo lắng của trẻ bởi bé cảm nhận rất rõ rằng
cuộc đời không chỉ chứa đựng những bất ngờ vui vẻ. Truyện cổ tích sẽ kể cho
bé nghe về cuộc sống và khuyến khích trẻ khám phá thế giới.
Truyện cổ tích là những điểm mốc
Chúng minh họa các sự khiếp sợ của trẻ theo lối diễn xuất: đói nghèo và bỏ
rơi (Thạch Sanh), cái chết của người thân (Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn),
những thế lực độc ác (Cô bé quàng khăn đỏ), sự ganh ghét giữa các anh em
ruột (Tấm và Cám). Truyện cổ tích nói đến cái ác độc trong cuộc sống, các
1
cuộc đấu tranh nội tâm để đưa ra một hình thức xác thực, biến chúng trở nên
bớt đáng sợ hơn. Ví dụ như con chó sói, trong một số câu chuyện nó có thể
làm bé sợ nhưng cũng khiến bé cười, mơ mộng khi thấy sói bị thỏ xỏ mũi,
cho rằng: 'Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ', 'là ngọn gió
tươi mát thổi bùng ngọn lửa tư duy và ngôn ngữ của trẻ' .
Quả thực rất khó tìm thấy một thế giới tràn đầy cái Đẹp, lung linh những biểu
tượng đượm màu sắc thần thoại như trong truyện cổ tích. Đến với cổ tích
chính là cơ hội cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mĩ và phát huy trí
tưởng tượng, . Như thế chính là trẻ đã được phát triển về mặt tâm hồn-một
trong hai mục đích chính của giáo dục trẻ ở bậc Tiểu học
.Nhận thức được thời thơ ấu là giai đoạn quan trọng nhất của đời người và
cũng ý thức rõ vai trò của truyện cổ tích đối với học sinh Tiểu học, các nhà
soạn sách đã quan tâm đưa truyện cổ tích vào nội dung giảng dạy ở nhà
trường Tiểu học. Gần hai mươi truyện trong năm năm học của cấp học này-đó
quả là con số biết nói. Xét trong tương quan với văn học hiện đại thì tôi cho
rằng con số đó tương đối hợp lí. Mười tám câu chuyện cổ là mười tám góc
nhìn cuộc đời với những thanh âm trong trẻo về phẩm chất và tình người. Với
những rung động chân thành từ chính trái tim, trẻ đã hình thành những biểu
tượng đầu tiên về chính nghĩa lẫn mặt trái của nhân cách. Mặt khác, các nhà
soạn sách cũng đã quan tâm đáng kể đến mảng truyện cổ tích nước ngoài.
Việc phân bố số lượng truyện cổ tích từ lớp 1 đến lớp 4 theo hướng giảm dần
ở những lớp học lớn hơn là chủ trương đúng đắn, phản ánh sự thay đổi, phát
triển tâm lí của trẻ. Tuy nhiên, để cho truyện cổ tích hoàn toàn vắng bóng ở
chương trình đào tạo lớp 5, xét thấy đó là điều chưa hợp lí. Bởi thực ra cho
đến lúc này và cả ở những bậc học cao hơn nữa thì học sinh chưa thể thoát
3
khỏi ước muốn được khơi nguồn cảm xúc, trí tuệ, trí tưởng tượng từ những
câu chuyện cổ thần kì
.Trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học thì việc dạy học truyện cổ tích chủ
yếu do phân môn Tập đọc và Kể chuyện đảm nhiệm. Cùng với sự thay đổi
chương trình sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp với nguyên tắc đồng
tâm thì Tập đọc và Kể chuyện đã gắn kết chặt chẽ với nhau. Các văn bản sử
dụng trong tiết Kể chuyện là những văn bản đã được luyện đọc và tìm hiểu
- Khảo sát và phân tích các văn bản truyện cổ tích trong chương trình
tập đọc ở tiểu học dưới góc độ sư phạm học để tìm ra những nội dung cơ bản
trong việc dạy đọc hiểu các văn bản truyện cổ tích ở tiểu học và những vấn đề
đang đặt ra trong thực tiễn dạy học đọc hiểu các văn bản truyện cổ tích ở tiểu
học từ đó vận dụng trong dạy học.
b) Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của truyện cổ tích và việc dạy đọc hiểu các văn
bản truyện cổ tích ở tiểu học.
- Luận chứng những nội dung cơ bản trong việc dạy đọc hiểu các văn
bản truyện cổ tích ở tiểu học.
- Nêu lên những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn dạy học đọc hiểu
các văn bản truyện cổ tích ở tiểu học.
- Vận dụng trong dạy học.
5
4. Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn vận dụng các quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Luận văn còn sử
dụng các tài liệu điều tra, công trình nghiên cứu có liên quan.
- Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp phân tích-
tổng hợp; lôgíc-lịch sử, thống kê, so sánh v.v
5. Cái mới của luận văn
Luận văn phân tích, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những nội dung cơ
bản trong việc dạy đọc hiểu các văn bản truyện cổ tích ở tiểu học và những
vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn dạy học đọc hiểu các văn bản truyện cổ tích
ở tiểu học từ đó vận dụng trong dạy học.
Luận văn luận chứng sự cần thiết phải vận dụng và phát huy các
nghiên cứu sư phạm học vào dạy học đọc hiểu truyện cổ tích ở tiểu học để
xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay.
học hiện đại đã chỉ rõ: Phơng pháp dạy học tích cực ở trạng thái động, lấy việc
học làm trung tâm. Trò tự mình tìm ra kiến thức dới sự tổ chức, hớng dẫn của
thầy. Trò chủ động thực hiện các hoạt động học. Trong giờ học, hình thức đối
7
thoại đợc sử dụng ở mức độ cao. HS đợc đối thoại với nhiều đối tợng (trò với
thầy, trò với trò, trò với VBTP) trong đó sự hợp tác với các bạn trong lớp đợc
quan tâm chú ý. Phơng pháp này hớng dẫn HS cách làm, cách học, cách giải
quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức, tự đánh giá, sửa sai, tự điều chỉnh. Theo ph-
ơng pháp này về mặt chức năng thầy trở thành ngời tổ chức, hớng dẫn ngời
học trong mọi hoạt động. Ngời học không còn phụ thuộc tuyệt đối vào ngời
thầy, mà là ngời có quan hệ trực tiếp với bạn và với tri thức thông qua các
hành động của chính mình.
Thủ tớng Phạm Văn Đồng nói : Phơng pháp dạy học tích cực, lấy HS
làm trung tâm, xét cho cùng đó là một phơng pháp tích cực. Sự tích cực này
thể hiện ở chỗ nó có chiều sâu, nó tạo cơ hội cho ngời học, tức là trung tâm
phát huy đợc trí tuệ, t duy và óc thông minh của HS. Điều hay thứ nhất của
phơng pháp này là nếu đứng trớc một đối tợng có tiềm năng lớn, có sức suy
nghĩ dồi dào thì phải làm sao khêu gợi để HS tự đào sâu, mở rộng đợc chừng
nào hay chừng ấy. Điều hay thứ hai của phơng pháp này là giúp ngời ta ph-
ơng pháp tự học, đó là cái quý nhất (Phạm Văn Đồng. Sđd). Lời nhận xét,
đánh giá của đồng chí Phạm Văn Đồng có thể coi nh một kim chỉ nam cho
việc tiến hành thực thi Phơng pháp dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm.
Theo quá trình này, phơng pháp dạy học lấy HS làm trung tâm có bốn
đặc trng cơ bản:
1) Ngời học là chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức bằng
hành động của chính mình.
2) Ngời học tự thể hiện mình, hợp tác với các bạn, học bạn.
3) Thầy giáo là ngời tổ chức, hớng dẫn mọi hoạt động của HS.
4) Ngời học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Vn dạy văn học hiện đại đặt vấn đề đọc - hiểu văn bản lên hàng
là quá trình không kém phần gian khổ: Từ quan sát - ghi nhận - chọn lọc -
9
phản ánh để cuối cùng tạo nên một chỉnh thể trung tâm là văn bản tác
phẩm(VBTP). VBTP nh một tế bào, là bộ mặt của đời sống văn học, là cơ sở,
là chiếc cầu nối giữa tác giả đối với cuộc sống và với ngời đọc. Ngời đọc chỉ
có thể hiểu đợc t tởng, tình cảm của tác giả thông qua đọc VBTP. Chính vì thế
giai đoạn sáng tạo của nhà văn đợc khép kín trong chu kỳ: Cuộc sống
nhà
văn
tác phẩm
độc giả
Liên hệ quá trình sáng tạo ra tác phẩm tự sự dân gian, cụ thể là truyện
cổ tích ta thấy có điểm tơng đồng. Các tác giả dân gian là những nghệ sĩ thực
sự tài năng, có trí tởng tợng phong phú, óc sáng tạo đã thêu dệt lên những hình
tợng nghệ thuật vô cùng đẹp đẽ. Thế giới mà tác giả dân gian quan sát cũng
đầy phức tạp, đầy xung đột. Qua cách lý giải và phản ánh trong tác phẩm dân
gian, ngời đọc thấy chất hồn nhiên và hiện thực bị khúc xạ đi do có sự đan xen
của yếu tố thần kỳ. Một điều khác biệt là trong quá trình sáng tác, các tác giả
dân gian không cầu kỳ, cách tân các công trình nghệ thuật của mình, chính vì
thế mà tác phẩm truyện ra đời rất tự nhiên, nó cha ghi lại đợc dấu ấn phong
cách riêng của tác giả.
Để tiếp nhận tác phẩm tự sự dân gian, cụ thể là truyện cổ tích, việc xem
xét, khai thác chúng theo đặc trng thể loại là rất thiết thực và cần thiết. Trên
cơ sở những đặc điểm thi pháp, ngời tiếp nhận có thể lần lợt mở ra từng lớp ý
nghĩa của tác phẩm.
Có thể nói, lý thuyết tiếp nhận văn học có ý nghĩa rất lớn đối với ngi
c, giúp độc giả nhận thức, tiếp nhận văn học nh một quá trình, định hớng b-
là hiểu con ngời, hiểu sự sống. Hiểu là sáng tạo. Nó là sự bừng sáng trong
khoảnh khắc (giác ngộ, bừng ngộ) sau khi đã nghiền ngẫm, là sự phát hiện cái
ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn và diễn đạt bằng lời của ngời đọc.
Nh vậy, đọc hiểu là một thuật ngữ có hai phạm trù khác nhau là đọc
và hiểu nhng lại có quan hệ mật thiết, gắn bó liên kết với nhau trong quá
11
trình lĩnh hội, tiếp nhận VBTP văn học. Đọc là một hoạt động; Hiểu là
mục đích. Đọc để làm gì? Đọc để hiểu biết, để làm giàu vốn tri thức, vốn
sống, vốn văn hoá, hoàn thiện tâm lý và nhân cách sống cho bản thân ngày
càng tốt hơn. Đọc để hiểu về các kỹ năng, phơng pháp làm việc khoa học sáng
tạo, để đạt hiệu quả cao trong các công việc của mình.
Để việc dạy đọc hiểu đạt hiệu quả cao, GV cần phải:
Một là: Giúp HS phát hiện những chỗ không hiểu, đối thoại để HS
bộc lộ chỗ cha hiểu, bởi quá trình hiểu đi từ không hiểu đến hiểu. Giúp HS
phát hiện những chỗ mâu thuẫn, phi lí, phi lôgic, khó hiểu trong văn bản. Phải
tìm ra cái cha hiểu thì mới kích thích hứng thú tìm hiểu của HS.
Hai là: Những điều HS đã hiểu mà cũng nêu vấn đề thì thực vô ích và
nhàm chán. Vì thế, không đòi hỏi cái gì cũng dạy, cần tập trung vào chỗ HS
khó hiểu hay không hiểu, tô đậm hay lạ hoá những chỗ ấy, tạo thành vấn đề
cho HS.
Ba là: Vận dụng những điều đã cung cấp, đã biết để lý giải chỗ không
hiểu đó. Không bao giờ cung cấp sẵn ngay kết quả đọc hiểu cho HS.
Tóm lại: Với một đối tợng riêng, một phạm vi nghiên cứu và những chức
năng cụ thể, đọc hiểu là một trong những cách thức khá cần thiết và quan
trọng giúp HS khám phá, khai thác VBTP trong nhà trờng Tiểu học.
1.4 Th loi truyn c tớch
Núi n vn hc dõn gian cựng vi nhng giỏ tr vnh hng ca nú khụng th
khụng nhc n truyn c tớch. õy l mt th loi t s dõn gian, s dng
phng thc h cu lu gi nhng yu t thn kỡ v kin to nờn mt th
gii lung linh, huyn o sc mu, õm vang bao nim thng cm
Grimm xem truyện cổ tích là "những mảnh vỡ của thần thoại cổ". Các nhà
nghiên cứu so sánh chú ý đến sự trùng hợp các sơ đồ cốt truyện và motip
riêng lẻ trong truyện cổ tích của các dân tộc khác nhau.
Bên cạnh đó, những người theo trường phái nhân loại học (hay còn gọi là tiến
hóa luận) ở Anh nửa sau thế kỷ 19, như E. Tylor, A. Lang, J. Frazer xây dựng
lý thuyết về cơ sở thế sự và tâm lý của cái mà họ gọi là "các cốt truyện tự sinh
của truyện cổ tích", nhấn mạnh rằng truyện cổ tích trùng hợp đồng thời với sự
tồn tại của hoang dã. Theo trường phái thần tượng học mà đại biểu là Mar
Müller, Gaston Paris, Angelo de Gubarnatic, trong cổ tích có sự lan truyền
của thần bí cổ đại, thần thoại về mặt trời, thần thoại về bình minh. Trường
phái văn hóa với các đại biểu như Benfey, Consquin lại đi tìm nguồn gốc cổ
tích dân gian ở Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái nghi thức chủ nghĩa gồm
nhiều các nhà bác học Anh cho rằng cổ tích là những nghi thức cổ truyền còn
tồn tại dấu vết đến ngày nay.
Nhà nghiên cứu Lazăn Săireanu người Rumani phân loại truyện cổ tích của
các dân tộc Roman nói chung và truyện cổ tích Rumani nói riêng thành hai
nhánh chính là truyện thần thoại hoang đường và truyện tâm lý. Trong mỗi
nhánh ông lại phân chia thành nhiều ngành và dưới các ngành lại là các thể
loại, các kiểu, chẳng hạn ngành "ba anh em trai", gồm kiểu anh em sinh đôi
và kiểu anh em kết nghĩa; ngành "đàn bà trong lốt cây cỏ", ngành "thú vật trả
nghĩa" v.v.
1.4.3. Ph©n lo¹i
14
Truyện cổ tích bao gồm nhiều thứ: truyện nói về người, truyện nói về vật; về
ma quỷ, về Tiên Phật, cả những truyện về Thần Thánh nữa. Nhưng không nên
dựa vào đấy mà phân loại. Thực ra đối với cổ tích và ngay cả đối với truyện
cổ dân gian nói chung, bất kỳ một sự phân loại nào cũng chỉ có ý nghĩa chính
xác tương đối. Nếu cần phải chia, thì theo ý chúng tôi nên chia làm ba loại sau
đây:
1. Truyện cổ tích thần kỳ.
xảy ra trong cuộc sống đa dạng của xã hội loài người. Đấy là những truyện
như Của trời trời lại lấy đi Trộm lại gặp trộm, Ông già họ Lê, Trọng nghĩa
khinh tài, những truyện mang đề tài kiện cáo, chiến tranh, những truyện phiêu
lưu v.v hoặc cả những truyền thuyết rất gần với sự thật kiểu Sự tích dưa
hấu, Sự tích ông đầu rau Truyện cổ tích thế sự chẳng những không làm cho
người nghe, người đọc quên mất cõi đời trước mắt mà lại dẫn họ xuyên sâu
vào mọi ngõ ngách cuộc đời. Nó không nói đến những cái phi thường, nhũng
cái "quái đản bất kinh", nhưng trong cái tầm thường, cái bình dị của các tình
tiết, vẫn ẩn giấu một khả năng gây hứng thú mạnh mẽ, hoặc một điều gì đáng
thương đáng cảm rất mực
.Nếu có những truyện mà nhân tố ảo tưởng được đem dùng để mở nút hay kết
thúc câu chuyện nhưng toàn bộ mạch truyện vẫn không chút xa lạ với lô-gích
của đời sống, như truyện Sự tích chim hít cô chẳng hạn, thì vẫn có thể xếp vào
cổ tích thế sự. Thật ra, tuy kết cục của truyện Sự tích chim hít cô có nói đến
một đứa bé hóa thành chim, song mạch sống của toàn câu chuyện vẫn không
16
hề chịu chi phối bởi một yếu tố thần kỳ nào. Tác giả vẽ một bức tranh xã hội
vẫn thường thấy trong thời đại cũ: hình ảnh thảm thiết của hai cô cháu nhà
nghèo giữa tình cảnh đói kém trầm trọng. Tất nhiên, cũng cần phân biệt nó
với loại truyện thời sự nói trên kia: một bên là sự thật, một bên là mô phỏng,
nhào nặn lại sự thật
.Trong kho tàng truyện cổ tích Việt-nam có khá nhiều truyện loại này. Đây là
một đặc điểm mà chúng ta sẽ nói ở phần sau.
● Cổ tích lịch sử là những truyện vốn dựa vào một nhân vật lịch sử hoặc một
sự kiện lịch sử nào đấy nhưng lại được phát triển thành một câu chuyện hoàn
chỉnh, độc lập đối với sự kiện lịch sử ban đầu. Có khi chỉ mới là một truyền
thuyết, một sự tích. Có khi là một truyện hoàn toàn tưởng tượng nhưng nhân
vật chính trong đó lại được đội tên của một nhân vật lịch sử. Cũng có thể đấy
là một sự thật trăm phần trăm, nhưng không ai bảo đảm phần chính xác. Cố
nhiên, cái cốt lịch sử trong truyện phải mang một ít nét đặc biệt phi thường,
loại hình khác trên những nét căn bản. Theo chúng tôi, có ba đặc điểm đáng
chú ý hơn cả để nhìn nhận loại hình cổ tích:
Một là, tính chất cổ của sự việc. Truyện cổ tích được xác định trước tiên ở
phong cách cổ của nó. Gần như bất cứ cổ tích nào cũng không ra ngoài những
quy ước về màu sắc cổ của nhân vật và không khí cổ của câu chuyện. Không
khí truyền kỳ hoang đường của một số truyện cổ tích, xét cho cùng cũng xuất
phát từ tính chất cổ. Giá thử ngày nay có người phỏng theo cổ tích dựng lên
18
một câu chuyện thậm chí rất hoang đường nhưng lại có những nhân vật ăn
mặc theo lối tân thời, đi ô-tô hay xe đạp chẳng hạn, thì dù không hiểu đặc
trưng cổ tích thế nào đi nữa, chắc cũng khó có ai ngờ nghệch nhận đây là một
truyện cổ tích được. Dù cho phạm vi hai khái niệm "cổ" và "kim" trong cổ
tích không khỏi có lúc lẫn lộn, nhưng mỗi nhân vật, mỗi tình tiết mỗi hình ảnh
của cổ tích đều nhất thiết phải là một nhân vật, một tình tiết, một hình ảnh vốn
có trong truyền thống nghệ thuật xa xưa của văn học dân gian, được nhân
dân coi là quen thuộc, đã thấm sâu vào tiềm thức mọi người. Cũng giống như
những miếng trò kiệt tác trong tuồng hay chèo cổ luôn luôn được các đời sau
sử dụng lắp đi lắp lại, những mô-típ nghệ thuật đã trở thành tiêu biểu của văn
học dân gian, nhất là nghệ thuật vần vè hay truyện kể, cũng thường xuyên
được tái sinh có chuyển dịch ít nhiều trong nhiều thời đại, làm thành kiểu tư
duy nghệ thuật đặc trưng của văn học dân gian, và đó là điều kiện thuận lợi
để truyện cổ tích sinh sôi nẩy nở theo phương thức ứng diễn và tìm thấy mối
liên hệ loại hình với nhau.
Như vậy, vấn đề xác định tính cổ của truyện cổ tích là căn cứ chủ yếu vào
phương thức cấu tạo hình tượng, sự sắp xếp, xâu chuỗi cốt truyện và mô-típ,
mà không nhất thiết căn cứ vào thời điểm lịch sử của câu chuyện. Những
truyện như Vợ ba Đề Thám tuy cách ta trên nửa thế kỷ và mang thề tài cổ tích
rõ rệt nhưng trong đó có những tên giặc râu xồm, mũi lõ, có súng trường,
súng lục nên vẫn chưa thể nào thừa nhận là truyện cổ tích.
Nó là câu chuyện đã qua nhưng chưa hoàn toàn "cổ". Nó thuộc về loại những
Đặc điểm này cắt nghĩa tại sao khi một truyện cổ tích của dân tộc này truyền
vào một dân tộc khác, thì phải chuyển hóa thành một truyện mới, hay ít nhất
cũng phải mang những mô-típ mới, những màu sắc quen thuộc hoặc gần như
20
quen thuộc với điều kiện sinh hoạt, với tâm hồn của dân tộc mới.
Cần phải nói thêm là truyện cổ tích thường giàu tính cộng đồng. Giá thử trong
truyện có in dấu cá tính của người sáng tác thì cá tính đó cũng phải phù hợp
hoặc không phương hại gì đến tính chất chung của tập thể. Có thế, nó mới
được tập thể thừa nhận và lưu truyền. Tính cộng đồng tuy không đồng nhất
nhưng có quan hệ khăng khít và là cơ sở của tính dân tộc. Tất nhiên, trong
cùng một giai đoạn lịch sử, giữa các dân tộc khác nhau, các tập đoàn người
khác nhau vẫn có những ước mơ, hy vọng giống nhau, cho nên thế giới trong
truyện cổ tích Đông Tây vẫn thường có những nét gần nhau. Mặc dù thế,
truyện cổ tích của mỗi dân tộc vẫn phản ánh xã hội, đất nước, cuộc sống,
phong tục, những vấn đề lịch sử cụ thể của dân tộc mình. Dân tộc tính đối với
cổ tích quả là một tiêu chuẩn khá quan trọng.
Ba là, truyện cổ tích ít nhiều phải thể hiện tính tư tưởng và tính nghệ thuật.
Nay ta kể cho nhau nghe một câu chuyện rất xưa về ma. Một con ma gốc đề
hiện hình lè lưỡi nhát người chẳng hạn. Câu chuyện ấy sẽ không bao giờ trở
thành truyện cổ tích được nếu trong đó không bao hàm một ý nghĩa gì về cuộc
đời, về con người, hay không có những tình tiết gợi hứng cảm cho người
nghe. Không những truyện ma mà ngay cả truyện người, truyện thần, truyện
vật cũng chưa hẳn là cổ tích nếu chúng không hướng đến một mục đích nhân
sinh cao cả, hoặc có mục đích nhân sinh nhưng lại không tan biến vào trong
từng tình tiết của truyện để trở thành một mục đích tự thân, một nhận thức
thẩm mỹ sâu sắc. Rõ ràng, truyện cổ tích không phải là một loại truyện suông
vô ý nghĩa, cũng không phải là một loại truyện "ngụ ý" tầm thường. Nếu là
một truyền thuyết theo nghĩa rộng như trên đã nói, thì lại khác. Truyền thuyết
không bắt buộc truyện nào cũng phải có yêu cầu nhân sinh hoặc thẩm mỹ đó.
Tất nhiên, nếu là truyện có ý nghĩa mà lại chỉ đơn thuần chép lại sự thật như
thuật tự sự truyền miệng, trước khi chuyển sang giai đoạn toàn thịnh của văn
xuôi tự sự trong nền văn học viết.
Đôi khi, kết thúc có hậu như một đặc trưng của truyện cổ tích cũng khiến khái
niệm cổ tích trong tiếng Việt được tính từ hóa, mà những phát ngôn sau là ví
dụ: cứ như cổ tích, đúng là cổ tích!.
2. C¬ së thùc tiÔn.
Cuộc điều tra ở một trường Tiểu học lớn tại Hà Nội ( trường Tiểu học Dân
lập Lê Qúy Đôn) cho thấy mức độ yêu thích của học sinh đối với những bài
tập đọc các tác phẩm truyện cổ tích trong nhà trường.
PHIẾU ĐIỀU TRA
Tr-
êng……………………………………………………………………
23
Họ và tên:.
Lớp:
1. Em có thích đọc, nghe truyện cổ tích không?
- Vì sao? ( Truyện cổ tích giúp mọi ngời thơng yêu nhau, đặc sắc và có
nhiều nhân vật, chi tiết thần kì, bổ ích, có cốt truyện rõ ràng giúp các
em kể lại truyện dễ dàng, từ ngữ rất lạ và rất hay, hấp dẫn, lôi cuốn)
2. Qua các truyện cổ tích em học tập ở các nhân vật trong truyện
những tính cách nào? (Yêu đất nớc, yêu thơng mọi ngời say mê học tập,
trung thực, giả dối, tham lam, dũng cảm, yêu lao động).
3. Qua các truyện cổ tích mà em biết, em có mơ ớc gì?
yêu thơng nhau hơn và biết thêm nhiều sự tích.
+ Với câu hỏi:Qua truyện cổ tích, các em học tập ở các nhân vật trong
truyện các tính cách nào?.
25