Báo cáo thăm dò nước khoáng tại các lỗ khoan (TD1, TD2) khu vực Tản Đà - xã Tản Lĩnh -Ba Vì -Hà Nội - Pdf 12

CÔNG TY CỔ PHẦN TẢN ĐÀ
BÁO CÁO
THĂM DÒ NƯỚC KHOÁNG TẠI CÁC LỖ KHOAN
(TD1, TD2) KHU VỰC TẢN ĐÀ THUỘC
XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THUYẾT MINH
HÀ NỘI – 2011
CÔNG TY CỔ PHẦN TẢN ĐÀ
Tác giả: TS. Cao Thế Dũng
KS. Lê Tứ Hải
ThS. Phạm Minh Trường
KS. Nguyễn Minh Tuấn
KS. Nguyễn Thị Huế
KS. Hoàng Thị Hiền
BÁO CÁO
THĂM DÒ NƯỚC KHOÁNG TẠI CÁC LỖ KHOAN
(TD1, TD2) KHU VỰC TẢN ĐÀ THUỘC
XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THUYẾT MINH
CHỦ ĐẦU TƯ CƠ QUAN TƯ VẤN CHỦ BIÊN
CÔNG TY
CỔ PHẦN TẢN ĐÀ
LIÊN HIỆP KHOA HỌC
ĐỊA CHẤT NƯỚC KHOÁNG
TS. Cao Thế Dũng
2
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
Trang

24
III.1 Công tác thu thập tài liệu ………………………………………
24
III.2 Công tác lộ trình địa chất - địa chất thủy văn ………………….
25
III.3 Công tác trắc địa ……………………………………………….
27
III.4 Công tác địa vật lý ……………………………………………
29
III.5 Công tác khoan ………………………………………………
32
III.6 Công tác bơm nước thí nghiệm và bơm khai thác thử …………
35
III.7 Công tác nghiên cứu chất lượng nước …………………………
38
III.8 Công tác quan trắc động thái …………………………………
40
III.9 Công tác chỉnh lý tài liệu, lập báo cáo thăm dò ……………….
41
Chương IV Điều kiện địa chất thủy văn khu thăm dò …………………….
43
Chương V Đánh giá chất lượng nước khoáng và tình trạng vệ sinh …
53
Chương VI Đánh giá trữ lượng khai thác nước khoáng ……………………
67
Chương VII Những kiến nghị về khai thác mỏ và bảo vệ môi trường………
83
Chương VIII Hiệu quả công tác thăm dò …………………………………….
84
Kết luận ……………………………………………………….

3- Lựa chọn từ diện phân bố mỏ nước khoáng ra một khoảnh để có thể
khai thác nước khoáng mà không ảnh hưởng tới sự hoạt động của nhà máy
đóng chai nước khoáng đã có. Khoảnh khai thác mới được gọi là mỏ nước
khoáng Tản Đà theo ý tưởng của Chủ đầu tư, vì nó nằm giữa hai địa danh nổi
tiếng là núi Tản Viên và sông Đà Giang.
Ngày 28 tháng 8 năm 2009, Công ty cổ phần Tản Đà nhận được Giấy
phép thăm dò nước khoáng số 1685/GP-BTNMT do Bộ Tài nguyên và Môi
trường cấp. Sau hơn một năm thi công thăm dò, đến nay chúng tôi đã thu thập
đủ dữ liệu để lập Báo cáo thăm dò nước khoáng tại các lỗ khoan (TD1, TD2)
khu vực Tản Đà thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Nội dung báo cáo bao gồm các chương mục sau:
Mở đầu
Chương I: Khái quát về khu thăm dò
Chương II: Cấu trúc địa chất khu thăm dò
Chương III: Phương pháp và khối lượng công tác thăm dò, thí nghiệm
ĐCTV
Chương IV: Điều kiện địa chất thủy văn khu thăm dò
Chương V: Đánh giá chất lượng nước khoáng và tình trạng vệ sinh
4
Chương VI: Đánh giá trữ lượng khai thác nước khoáng
Chương VII: Những kiến nghị về khai thác và bảo vệ môi trường
Chương VIII: Hiệu quả công tác thăm dò
Kết luận
Đi kèm với tập báo cáo còn có các bản vẽ sau:
- Bản vẽ số 1: Bản đồ địa chất khu vực Tản Đà, tỷ lệ 1:10.000.
- Bản vẽ số 2: Bản đồ địa chất thủy văn khu vực Tản Đà, tỷ lệ 1:10.000.
- Bản vẽ số 3: Bản đồ tài liệu thực tế thăm dò nước khoáng vực Tản
Đà, tỷ lệ 1:10.000.
- Bản vẽ số 4: Biểu đồ tổng hợp kết quả bơm nước thí nghiệm lỗ khoan
TD1.

TỌA ĐỘ VN2000
X (m) Y (m)
1
23
34 330
05
42 833
2
23
34 330
05
43 833
3
23
33 330
05
43 833
4
23
33 330
05
42 833
Trong diện tích thăm dò, đã khoan hai lỗ khoan thăm dò có tọa độ (hệ
VN2000) như sau:
Bảng I.2: Tọa độ lỗ khoan thăm dò
TT
SỐ HIỆU LỖ KHOAN
TỌA ĐỘ VN2000
X (m) Y (m)
1 TD1

Một số cánh đồng nhỏ được hình thành giữa các quả đồi, thành tạo do
quá trình phong hoá, rửa trôi và tích tụ các vật liệu phong hoá từ các quả đồi
mang đến. Cấu thành nên các cánh đồng này là các loại cát, cát pha sét, sạn.
Trên địa hình này, nhân dân trồng trọt các loại cây lương thực phụ và cấy lúa.
I.3. Dòng chảy và khối chứa nước trên mặt
Mạng thuỷ văn trong khu thăm dò thuộc loại kém phát triển.
I.3.1. Sông
Quanh khu thăm dò có duy nhất sông Bơn. Sông chảy quanh co uốn
khúc ở phía đông khu thăm dò, theo hướng tây nam - đông bắc. Lòng sông
chỗ rộng nhất 10 mét, chỗ hẹp nhất 8 mét. Độ sâu trung bình lòng sông là 3
mét.
Nhiệt độ nước biến đổi trung bình trong khoảng 25 – 27
o
C. Thành phần
hóa học của nước sông ít biến đổi. Độ tổng khoáng hoá dao động 0,09 – 0,1
g/l. Kiểu nước thường là clorua - bicarbonat canxi hoặc bicarbonat - clorua
canxi.
I.3.2. Suối
Có một dòng suối nhỏ chảy phía nam khu thăm dò (dân địa phương còn
gọi là sông Dặt) theo hướng từ tây sang đông rồi đổ vào sông Bơn. Độ cao
tuyệt đối mực nước về mùa mưa là 30,95m (tháng 9/2009); về mùa khô mực
nước hạ thấp chỉ còn 28,62m (theo tài liệu quan trắc động thái). Một vài con
suối không thường xuyên có nước quanh năm nằm ở phía bắc khu thăm dò,
chỉ có nước về mùa mưa.
I.3.3. Hồ
Do mạng sông suối ít phát triển nên chính quyền địa phương đã cho đắp
khá nhiều đập tạo ra các hồ nhân tạo để tích trữ nước phục vụ sản xuất nông
nghiệp. Phía tây bắc khu thăm dò có hồ Mỹ Khê. Phía đông có hai hồ chứa, là
hồ Hang Hùm và hồ Trại Thỏ. Phía nam khu thăm dò lại mới xây dựng một
hồ nữa.

38,
4 38,5
37,
4 37,8 33,9 33,0 28,9 28,4 28,6 26,2 28,6 32,3 38,5
Ngày 24 8 23 20 1 8 16 22 11 23 21 9 8-6
Min 17,3 23,0 24,0 22,9 20,2 17,2 6,7 11,1 5,8 6,5 9,3 17,0 5,8
Ngày 7 14 26 22 21 21 30 1 3 2 1 3 3-1
2008-2009
TB 26,7 27,9 28,3 28,3 27,2 25,3 20,0 16,9
14,
7 21,8 20,4 24,2 23,5
Max 38,7 36,2 36,7 36,0 36,3 33,0 29,2 25,0 25,6 31,8 31,3
34,
4 38,7
Ngày 27 23 21 22 23 4 6 20 21 13 27 19 27-5
Min 20,0 22,9 23,9 24,0 23,0 21,1 9,9 9,2 4,5
14,
9 10,6 16,3 4,5
Ngày 15 29 17 8 30 7 30 1 11 10 15 2 11-1
I.4.2. Lượng mưa
Lượng mưa trung bình tháng mùa mưa từ 93 đến 427,6 mm/tháng. Mùa
khô có lượng mưa trung bình tháng từ 4,3 đến 170 mm. Lượng mưa lớn nhất
thường tập trung vào các tháng 7 - 8 - 9. Cá biệt có tháng lượng mưa đạt tới
427,6 mm (tháng 10 năm 2008). Có tháng hầu như không có mưa (tháng 12
năm 2009).
Bảng I.4: Lượng mưa đo tại trạm Ba Vì, mm
Tháng
Năm /
Đ.Tr.
2007-2008

Số ngày 17 17 18 15 16 16 7 6 6 7 20 15 160
8
I.4.3. Lượng bốc hơi
Độ bốc hơi thay đổi phụ thuộc vào mùa khá rõ rệt. Về mùa khô độ bốc
hơi trung bình các tháng từ 31 đến 65 mm, còn về mùa mưa thì từ 45 đến 80
mm. Cá biệt có tháng độ bốc hơi lên tới 87,7 mm (tháng 5/2007).
BảngI.5: Lượng bốc hơi tại trạm Ba Vì, mm
Tháng
Năm / Đ.Tr.
2007-2008
Tổng 87,7 80,6 84,8 57,5 52,2 57,8 65,6 46,0 35,8 38,5 51,8 45,1 703,4
Max 9,4 6,7 4,9 3,8 4,0 3,6 3,3 3,6 3,4 2,7 3,9 2,9 9,4
Ngày 23 8 23 19 20 20 30 8 14 9 4 29 23-5
Min 0,6 1,0 0,5 0,7 0,3 0,3 0,4 0,1 0,0 0,1 0,4 0,2 0,0
Ngày 4 11 1 22 4 5 1 27 22 18 16 3 22-1
2008-2009
Tổng 62,3 48,6 60,4 51,5 45,6 40,1 44,9 46,5 48,7 42,3 31,8 46,3 569,0
Max 4,7 2,7 6,3 3,1 2,6 2,7 2,7 2,6 2,9 2,9 2,4 3,1 6,3
Ngày 14 26 22 6 23 6 30 5 10 16 14 22 22-7
Min 0,4 0,4 0,6 0,4 0,6 0,3 0,0 0,2 0,4 0,1 0,2 0,2 0,0
Ngày 19 18 6 2 4 31 1 28 26 2 4 2 1-11
I.4.4. Độ ẩm tương đối của không khí
Theo số liệu đo tại trạm Ba Vì, độ ẩm trung bình về mùa khô là 81 – 93
%, còn về mùa mưa là 81 – 88 %. Nhìn chung chênh lệch giữa hai mùa là
không rõ rệt.
Bảng I.6: Độ ẩm tương đối của không khí tại Ba Vì
Tháng
Năm / Đ.Tr.
2007-2008
TB 81 84 83 88 88 88 84 86 88 82 86 90 86

Hoạt động công nghiệp tại khu thăm dò cũng có, nhưng chỉ là những nhà
máy nhỏ sản xuất thực phẩm: Nhà máy Đóng chai Nước khoáng Tản Viên
trực thuộc Liên hiệp công đoàn tỉnh và Nhà máy Sản xuất Chè búp với bốn
chục công nhân. Xa hơn về phía đông có một số nhà máy quốc phòng chế tạo
và sửa chữa cơ khí.
Nhìn chung đời sống kinh tế đủ ăn, trình độ văn hoá tương đương với
dân cư đồng bằng Bắc Bộ, các xã trong vùng đều có trường học cấp 1, 2.
Mạng điện lưới quốc gia đã phủ kín cả xã. Nguồn nhân lực tại chỗ đủ cho các
hoạt động khai thác nước khoáng sau này.
I.7. Lịch sử nghiên cứu địa chất và địa chất thủy văn
Khu thăm dò nằm ngay cửa ngõ phía tây Thủ đô qua nhiều chế độ nên
hoạt động nghiên cứu địa chất ở đây cũng khá phong phú. Chúng tôi chỉ xin
điểm qua một số công trình quan trọng nhất.
I.7.1. Về địa chất
Theo thời gian có thể kể ra những công trình:
* Địa chất miền Bắc Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 do Dovjikov chủ biên,
xuất bản năm 1964.
* Địa chất và khoáng sản 1:200.000 tờ Hà Nội F-48-XXVIII do Hoàng
Ngọc Kỷ chủ biên, hoàn thành năm 1973.
* Bản đồ địa chất và khoáng sản miền Bắc Việt Nam 1:500.000 do Lê
Văn Cự và Lê Thạc Xinh chủ biên, xuất bản 1978.
* Báo cáo Trầm tích Thứ Tư vùng đồng bằng tờ Hà Nội (F-48-XXVIII)
tỉ lệ 1:200.000 do Nguyễn Đức Tâm chủ biên, năm 1977.
* Báo cáo Địa chất và khoáng sản 1:50.000 nhóm tờ Thành phố Hà Nội
(F-48-103-B; 103-D; 92-C; 104-A; 104-B; 104-C; 104-D; 105-C; 116-A; 116-
10
C) do Ngô Quang Toàn chủ biên, năm 1989.
* Báo cáo Địa chất và Khoáng sản nhóm tờ Hà Nội tỉ lệ 1:50.000 do Ngô
Quang Toàn chủ biên năm 1994.
Ngoài ra còn nhiều công trình khác nữa liên quan đến một số mặt của

thăm dò. Đó là các lỗ khoan số 1, 2, 4. Lỗ khoan 2A là khoan lại của lỗ khoan
2, khoan cạnh nhau nên không kể đến.
* Trong báo cáo của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước mã số 44-04-01-04
với tên gọi “Nước khoáng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” kèm theo
bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 do Cao Thế Dũng chủ biên năm 1989, nguồn nước
11
cũng đã được nói đến.
* Nguồn nước cũng được liệt kê trong cuốn “Danh bạ các nguồn nước
khoáng và nước nóng Việt Nam” do TS Võ Công Nghiệp chủ biên, Cục Địa
chất và Khoáng sản xuất bản năm 1998.
12
CHƯƠNG II
CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC THĂM DÒ
Vùng thăm dò chiếm một diện tích nhỏ hẹp ở phần tây nam đới sông
Hồng. Tham gia thành tạo cấu trúc địa chất vùng có đất đá tuổi từ Paleozoi
đến Kainozoi, các hệ thống đứt gãy cùng các nếp uốn biến vị là những dấu
hiệu nói lên vùng này đã trải qua những giai đoạn, những thời kỳ hoạt động
kiến tạo tương đối phức tạp.
Trên cơ sở khảo sát lộ trình địa chất, địa chất thủy văn, tài liệu khoan
thực tế ở hai lỗ khoan thăm dò TD1, TD2 và những tài liệu thu thập được,
chúng tôi chia thành các phân vị địa tầng từ cổ đến trẻ ở vùng Ba Vì - Hà Nội
như sau:
II.1. Địa tầng
II.1.1. Giới Paleozoi
Hệ Permi thống thượng
Hệ tầng Viên Nam (P
3
vn)
Hệ tầng Viên Nam được Phan Cự Tiến xác lập (1977) với mặt cắt đặc
trưng từ núi Viên Nam đến làng Cổ Đông, huyện Ba Vì. Thành phần chủ yếu

thấy aglomerat nằm trong andesit dacit hoặc dacit sáng màu dạng
khối, chiều dày 16 - 20 m.
2. Tuf xen thấu kính hoặc dòng mỏng của dacit trachyt porphyr, dày
20 - 30 m.
3. Dacit cấu tạo đặc xít, dacit porphyr xen thấu kính tuf và dòng mỏng
trachyt porphyr. Trong đá có nhiều mạch thạch anh và quặng pyrite
xâm tán, bề dày tập khoảng 20m.
4. Chủ yếu aglomerat, các vòm phun nghẹn của dacit, trachyt, dăm kết
dung nham tướng họng núi lửa, dày khoảng 50 m.
Tổng chiều dày của hệ tầng đạt khoảng 900 m.
Do diện tích khảo sát của đề án hẹp nên trong quá trình khảo sát địa
chất, địa chất thủy văn chúng tôi chưa gặp đá gốc của hệ tầng Viên Nam mà
chủ yếu là các đá đã bị phong hóa dở dang và phong hóa hoàn toàn. Đá của hệ
tầng Viên Nam thể hiện khá rõ ở bờ phải sông Dặt trong khuôn viên của công
ty cổ phần Tản Đà. Tuy nhiên, các đá này trên mặt cũng đã bị phong hóa, đá
gốc chỉ gặp ở độ sâu 17-18m, đá có màu xám lục sẫm. Các tuf aglomerat đôi
chỗ lộ diện ở phía nam bản đồ, chúng cũng đã bị phong hóa.
Trong quá trình khoan thăm dò nước khoáng chúng tôi có gặp đá basalt
của hệ tầng Viên Nam trong lỗ khoan thăm dò mang số hiệu TD2. Đi từ trên
xuống đến 79m chủ yếu là đá phun trào dacit, ryodacit màu xám lục, xám lục
sẫm xen thạch anh ám khói đoạn từ 13,5 đến 19m. Trong đá có xâm tán pyrit.
Từ 79m trở xuống đến 124m là các đá ryodacit dạng porphyr, andesit,
andesito-basalt. Các đá bị ép đến phiến lục hóa có màu xám, xám lục. Đoạn
105-110m có chứa nhiều mạch đa kim. Nhất là đoạn 108,6-109m các mạch đa
kim tiêm nhập dưới dạng biến dạng dẻo. Có lẽ đây là ranh giới của hai pha
phun trào của hệ tầng Viên Nam?
Quan hệ địa tầng và tuổi: Hệ tầng Viên Nam nằm phủ bất chỉnh hợp
trên các đá tuổi Permi thượng và nằm chỉnh hợp dưới hệ tầng Cò Nòi (Tân
Lạc) tuổi Trias hạ.
Theo Đào Đình Thục quan sát tại moong khai thác than ở Ninh Sơn thì

vùng còn gặp ở các lỗ khoan cũ: 1, 2, 2A, 3, 4, 6, 10. Thành phần trầm tích
của hệ tầng Đồng Giao gặp trong lỗ khoan TD1 cũng như các lỗ khoan khác
chủ yếu là: đá vôi màu xám, xám sáng, xám đen, đôi chỗ bị tái kết tinh. Phần
trên là đá vôi màu xám kẹp sét và có nhiều mạch calcite xuyên cắt. Đây là
tầng chứa nước khoáng mà trong đề án thăm dò chọn làm đối tượng nghiên
cứu.
Quan hệ địa tầng và tuổi: Hệ tầng Đồng Giao nằm chỉnh hợp trên hệ
tầng Cò Nòi tuổi Trias sớm và chỉnh hợp dưới hệ tầng Nậm Thẳm tuổi Ladin,
quan sát thấy rõ ở cấu trúc Sơn La và cấu trúc Ninh Bình. Tuy nhiên, tại khu
vực thăm dò hệ tầng Đồng Giao nằm bất chỉnh hợp dưới hệ tầng Sông Bôi và
chưa quan sát được quan hệ dưới của địa tầng.
Các hóa thạch trong trầm tích Đồng Giao khá phong phú như: Tay cuộn
Mentzelia mentzelii, Chân rìu Pseudomonotis(?) michaeli, Enantiostreon cf.
difforme, Daonella enlongata, Daonella sturi, Costatoria sp., Cúc đá
Paraceratites subtrinodosus, Cuccoceras cuccense đều cho tuổi Trias trung
bậc Anisi. Trong hệ tầng Đồng Giao còn tìm thấy hóa thạch động vật có
xương sống trong đá vôi phân lớp mỏng thuộc phần dưới của hệ tầng tại rừng
15
Cúc Phương; hóa thạch được xác định là Placodontia (Trịnh Dánh và nnk,
2000).
II.1.2.2. Hệ Trias thống trung thượng
Hệ tầng Sông Bôi (T
2
l-T
3
c

sb)
Hệ tầng Sông Bôi do Dovijkov A.E. và nnk. (1965) xác lập khi ông mô
tả mặt cắt Sông Bôi. Hệ tầng gồm trầm tích thuần lục nguyên phân dải mỏng

vb)
Hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố hạn chế trong khu vực thăm dò, chúng chỉ
xuất lộ ở góc phía đông bắc của bản đồ. Thành phần thạch học của hệ tầng
gồm cuội, sỏi, tảng kết dạng thấu kính, cát bột kết, than linhit màu đen, bột
kết, sét kết màu xám bẩn, phân lớp xen chéo, càng đi lên trên thành phần bột
tăng dần. Các hóa thạch tìm thấy trong hệ tầng đều cho tuổi Pliocen như hóa
16
thạch bào tử phấn hoa: Liquidambar, Quercus, Castanea, Ilex, Stenochlanae
laurifolia,…; hóa thạch Trùng lỗ bám đáy: Ammonia beccari, A. papillosa, A.
japonica, Pseudorotalia-Asterorotalia, Quinqueloculina,…; hóa thạch Trùng
lỗ trôi nổi: Globigerina bulloides, Gl. margaritae, Gdes. rubber, Gdes.
conglobatus,…; hóa thạch thân mềm: Dosina cf, Corbula cf. eburnean,
Lentidium sp., Cardium sp., Brotia cf. variabilis,….
Tổng bề dày của hệ tầng khoảng 250 m.
Hệ tầng Vĩnh Bảo phủ bất chỉnh bợp trên hệ tầng Sông Bôi và bị phủ
bất chỉnh hợp bởi các thành tạo bở rời Đệ Tứ.
II.1.3.2. Hệ Đệ Tứ (Q)
Trầm tích hệ Đệ Tứ không phân chia có nguồn gốc tàn tích, sườn tích
phủ hầu hết diện tích vùng nghiên cứu. Chúng tôi chỉ khoanh và thể hiện (ed)
khi đạt chiều dày ≥ 5 mét.
Trầm tích (edQ) phủ lên các trầm tích hệ tầng Viên Nam, Sông Bôi,
Vĩnh Bảo thường phân bố trên các dải đồi sườn thoải, có độ cao 15 - 50 m.
Độ dày các thành tạo này thường không lớn. Chiều dày quan sát được qua các
lỗ khoan và công trình khai đào trong vùng cho thấy: chiều dày của chúng
phụ thuộc vào thành phần đá gốc phong hoá, sườn dốc địa hình. Nơi có chiều
dày địa tầng mỏng thường gặp ở địa hình khá dốc; có nơi chiều dày lớn hơn
thường ở chân đồi hoặc trũng giữa núi.
Tại lỗ khoan 2, lỗ khoan 5 dày 9m, trung bình lỗ khoan 8 dày 5,0 mét,
mỏng nhất lỗ khoan 9 dày 1,0 mét.
Thành tạo (edQ) nằm trên đất đá hệ tầng Viên Nam phân bố với diện

trong vùng đều thuộc hệ thống đứt gãy sâu Sông Hồng và có phương tây bắc -
đông nam. Hầu hết là các đứt gãy phân chia những tầng đất đá có tuổi khác
nhau.
Vùng nghiên cứu bị các lớp tàn tích, sườn tích phủ hầu hết diện tích.
Qua các điểm lộ địa chất, các công trình khoan sâu và các điểm dị thường địa
vật lý chúng tôi nêu lên hai hệ thống đứt gãy chính sau đây:
II.2.2.1. Hệ thống đứt gãy cổ: có phương gần tây bắc - đông nam
- Đứt gãy F1: Đứt gãy F1 phân bố từ LK6 qua LK4 - TD1 - LK2 - LK2A
đến LK10, qua sông Bơn đến đầu mút phía đông tờ bản đồ tỷ lệ 1:10.000. Đứt
gãy có dạng uốn lượn, chiều dài khoảng hơn 3 km. Toàn bộ đứt gãy hầu như
bị phủ bởi lớp tàn tích, sườn tích hệ Đệ Tứ.
Tại LK4 đã khoan qua phạm vi đới huỷ hoại của đứt gãy, đất đá lấy lên
bị vò nhàu vụn nát. Từ độ sâu 62 đến 120 mét: gặp đá vôi bị phá hủy vỡ vụn
nhiều.
Tại lỗ khoan TD1 gặp ở độ sâu từ 70 đến 108m, mẫu đá bị nứt nẻ dập
vỡ nhiều.
Tại LK 2A khoan qua đới huỷ hoại ở độ sâu 122 – 140m. Dăm kết vôi
màu đen, thành phần dăm là đá vôi sắc cạnh, đá bị vỡ vụn, có nhiều mạch
thạch anh mỏng xuyên cắt.
Tại LK10 đã khoan qua đới huỷ hoại của đứt gãy ở độ sâu 31 đến
99,5m gồm dăm kết vôi màu xám xi măng đến xám trắng, dăm sắc cạnh, kích
thước thay đổi từ 0,1 đến 2cm. Trong lớp này còn gặp đá phiến sét bị vò nhàu,
huỷ hoại vụn nát với nhiều mạch thạch anh xuyên cắt.
Ngoài các lỗ khoan nói trên chúng tôi còn bắt gặp đới phá huỷ kiến tạo
cùng các bãi thạch anh vỡ vụn nhiều kích thước: các tảng lớn thường phát
triển nhiều khe nứt chồng chéo ở các điểm lộ. Mặt khác đứt gãy còn được xác
định dựa trên dị thường điện trở suất của tài liệu đo sâu điện địa vật lý.
Đây là đứt gãy thuận có hướng cắm về phía đông bắc đến 80 – 85°.
18
- Đứt gãy F2: Phân bố phía tây nam bản đồ, theo hướng gần đông - tây

mạo dự đoán đứt gãy F5 là đứt gãy thuận cắm về phía tây bắc với góc dốc từ
65° đến 75°.
- Đứt gãy F6: phân bố từ phía đông nam bản đồ, chạy dọc theo sông Bơn
qua LK10. Đứt gãy có dạng tuyến kéo dài, chiều dài khoảng 2km. Đứt gãy
hầu hết bị lớp tàn tích, sườn tích, bồi tích hệ Đệ Tứ phủ kín. Qua tài liệu lộ
trình địa chất, tài liệu lỗ khoan khoan vào đới huỷ hoại, kết hợp với tài liệu
địa vật lí đo sâu điện đứt gãy có phương kéo dài đông bắc - tây nam.
Quan sát thực tế cho thấy đây là thung lũng hẹp có phương gần như
đông bắc - tây nam. Phía đông nam và phía tây bắc địa hình cao hơn. Mặt
19
khác trên sơ đồ địa vật lí cho thấy sự có mặt của dị thường thấp cùng phương
với phương của đứt gãy.
Dựa vào các đặc điểm địa hình, địa mạo kết hợp với các tài liệu thu
thập được, dự đoán đứt gãy F6 là đứt gãy thuận, có hướng cắm tây bắc với
góc dốc 75°.
II.3. Lịch sử phát triển địa chất
Địa chất khu vực Ba Vì chịu ảnh hưởng chung của toàn khu vực sông
Hồng. Tuy nhiên, trong khu vực Ba Vì chỉ còn dấu hiệu của 2 giai đoạn phát
triển địa chất như sau:
- Giai đoạn Paleozoi muộn - Kainozoi sớm
- Giai đoạn tân kiến tạo
II.3.1. Giai đoạn Paleozoi muộn - Kainozoi sớm
Thời kỳ Paleozoi muộn - Mezozoi: thời kỳ này quá trình phát triển địa
chất diễn ra khá mạnh mẽ, các đứt gãy kiến tạo sâu hoạt động mạnh lên và
kèm theo phun trào mafic của hệ tầng Viên Nam (P
3
vn). Hoạt động kiến tạo
của các đứt gãy sâu gây nên tính phân dị mạnh của các thành hệ phun trào và
theo đó phun trào basalt, trung tính, axit thuộc hệ tầng Viên Nam tràn lên dọc
theo các đứt gãy. Sau giai đoạn phun trào tạo núi này là giai đoạn bóc mòn

Thời kỳ sau: Thời kỳ này bắt đầu từ cuối Pliocen cho đến nay. Đây là
thời kỳ nâng lên kèm theo các hoạt động xâm thực bóc mòn mạnh mẽ tạo nên
các trầm tích Đệ Tứ bở rời aluvi, eluvi, deluvi như ngày nay.
20
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP VÀ KHỐI LƯỢNG
CÔNG TÁC THĂM DÒ, THÍ NGHIỆM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN
III.1. Công tác thu thập tài liệu
III.1.1. Mục đích
- Tìm hiểu đặc điểm khí hậu, thủy văn khu thăm dò.
- Tìm hiểu đặc điểm địa hình, cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn khu
thăm dò.
III.1.2. Khối lượng và phương pháp đã tiến hành
Để tìm hiểu về đặc điểm khí tượng, thủy văn vùng thăm dò, chúng tôi đã
tiến hành thu thập các tài liệu tại Trung tâm Tư liệu Khí tượng thủy văn Quốc
gia thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tài liệu thu thập gồm: nhiệt độ, độ
ẩm, lượng mưa, lượng bốc hơi. Chúng tôi chỉ thu thập những tài liệu thuộc ba
năm gần đây là các năm 2007 – 2008 – 2009. Tài liệu thu được là những bản
in trên giấy do Trung tâm cấp cho chúng tôi.
Để viết về địa chất, địa chất thủy văn, nước khoáng chúng tôi thu thập
các tài liệu tại Lưu trữ Địa chất, gồm các báo cáo:
* Báo cáo Địa chất và Khoáng sản nhóm tờ Hà Nội tỉ lệ 1:50.000 do Ngô
Quang Toàn chủ biên năm 1994. Kí hiệu Bđ205.
* Báo cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Ba Vì của Đoàn 64 do Hoàng
Văn Chức chủ biên năm 1984. Kí hiệu Nc57.
* Báo cáo Địa chất thủy văn - địa chất công trình 1:50.000 thành phố Hà
Nội do Trần Minh chủ biên năm 1993. Kí hiệu Nc180.
* Báo cáo thăm dò sơ bộ nước khoáng vùng Ba Vì do Lương Văn Chiến
chủ biên năm 1987. Kí hiệu Nc115.
* Báo cáo của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước mã số 44-04-01-04 với

1:10.000.
III.2.2. Khối lượng và phương pháp tiến hành
Chúng tôi đã tiến hành đo vẽ địa chất, địa chất thủy văn tổng hợp với
khối lượng 1,5 tháng/tổ quanh vị trí khu mỏ theo đúng đề án đã được phê
duyệt. Ngoài ra trong trong quá trình khoan thăm dò chúng tôi vẫn bố trí kiểm
tra thêm những khu vực địa chất, địa chất thủy văn chưa được rõ ràng. Chúng
tôi đã bố trí các tuyến khảo sát theo đường mòn dân sinh và cắt ngang các cấu
trúc địa chất, địa chất thủy văn. Tại mỗi điểm khảo sát, chúng tôi đều mô tả
thành phần thạch học, đặc điểm địa chất thủy văn và đo các thông số địa chất
thủy văn, thủy văn.
Khối lượng công tác lộ trình địa chất được thể hiện trong bảng III.1.
22
Bảng III.1: Khối lượng đo vẽ tổng hợp
TT
Tuyến khảo
sát
Điểm
khảo sát
Điểm đo
GPS
Ghi chú
1 Tuyến 1 13 12
Đi hướng đông bắc, xác định phân
bố đứt gãy F4, F5
2 Tuyến 2 12 12
Đi hướng tây bắc, xác định các đứt
gãy F1, F4
3 Tuyến 3 8 8
Vòng qua hồ Hang Hùm, xác định
các đứt gãy F1, F6

năng chứa nước và chất lượng nước của các tầng chứa nước phía trên cùng
trong trầm tích Đệ Tứ và các trầm tích trước Đệ Tứ lộ ra trong vùng nghiên
cứu. Việc khảo sát địa chất thủy văn cũng là một tiền đề cho việc tìm kiếm
nước khoáng (tổng độ khoáng hóa cao, nhiệt độ nước mặt nóng hơn nhiệt độ
không khí…).
Nói chung, công tác lộ trình khảo sát địa chất - địa chất thủy văn đã đạt
được yêu cầu đề ra của đề án. Kết quả công tác lộ trình khảo sát địa chất - địa
chất thủy văn tạo tiền đề cho các công tác khảo sát thăm dò, tìm kiếm nước
khoáng trong khu vực nghiên cứu.
23
III.3. Công tác trắc địa
III.3.1. Mục đích
Xác định tọa độ các điểm nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn thông
qua quá trình khảo sát nghiên cứu ngoài thực địa. Các điểm nghiên cứu này
được đưa lên bản đồ thực tế thi công.
III.3.2. Khối lượng và phương pháp đã tiến hành
III.3.2.1. Lưới khống chế mặt bằng
Để đo chuyền tọa độ về khu vực này chúng tôi thành lập một lưới khống
chế gồm 01 điểm địa chính cơ sở và 02 điểm GPS mới (Các điểm này đo
bằng công nghệ GPS). Tọa độ của các điểm này là hệ tọa độ nhà nước, lấy
điểm 103514 có tọa độ (X= 2334804,531m, Y = 541234,807m, H = 34,770m)
với hệ tọa độ VN2000 kinh tuyến 105 múi 6° do Trung tâm Lưu trữ thuộc
Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước cung cấp làm điểm gốc nhưng nay theo yêu
cầu chính xác và thống nhất nên dùng hệ tọa độ VN2000 kinh tuyến 105 múi
3°. Chúng tôi dùng phần mềm GeoTools – version 1.2 để chuyển tọa độ mới
của điểm 103514 có tọa độ múi 3°: (X = 2335505,253m, Y = 541247,182m,
H = 34,770m).
Các điểm GPS lập mới được đánh số hiệu như sau: GPS - 01; GPS - 02.
Để đo tọa độ các điểm GPS chúng tôi sử dụng máy định vị Trimble - R3 do
Mỹ sản xuất.

- Sai số vị trí điểm lớn nhất: 0,001 m; Điểm (GPS-01)
III.3.2.3. Phát triển hệ đường chuyền cấp 2
Sau khi xây dựng xong 02 điểm GPS, chúng tôi tiến hành phát triển
xuống đường chuyền cấp 2.
+ Chọn điểm:
Trên khu vực dự án, căm cứ thực địa, chúng tôi tiến hành chọn vị trí
điểm để được 14 vị trí phù hợp, ổn định, để đảm bảo việc dẫn chuyển tọa độ
vào từng vị trí dự án
+ Xây mốc và đo đạc:
Lưới đường chuyền cấp 2 được thiết kế bao gồm 14 điểm, được đánh số
từ DCII-01 đến DCII-02…… DCII-14. Các mốc này được đánh dấu dọc
theo đường dẫn vào khu đo vẽ bằng đinh ổn định.
+ Định vị đo đạc vị trí công trình:
Từ các điểm đường chuyền cấp 2, chúng tôi tiến hành đo đạc 6 vị trí lấy
tọa độ và độ cao như bên dưới.
III.3.3. Kết quả
Công tác trắc địa đã xác định được tọa độ và cao độ các điểm khoan, các
trạm quan trắc đã thiết kế, từ đó định vị trí trên bản đồ một cách chính xác.
Kết quả đó cũng giúp cho việc xác định phương dòng chảy của nước khoáng.
Kết quả đo đạc được trình bày (trong các bảng sau).
Bảng III.4: Kết quả đo tọa độ các điểm nghiên cứu múi chiếu 3
°
STT Ký hiệu X(m) Y(m) Độ cao, m
1 LK2 2334554,150 543928,709 28,443
2 TD1 2334622,103 543688,054 30,743
3 Giêng ông Lải 2334628,441 543645,151 30,633
4 TD2 2334537,574 543511,798 33,093
5 Giếng Tản Đà 2334078,404 543456,511 33,483
6 Sông Dặt 2333945,699 543494,985 31,653
Để thuận tiện cho việc liên kết với các điểm trên bản đồ tỉ lệ 1:50.000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status