Giáo trình tâm lý học xã hội - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

1.Khái niệm Tâm lý học xã hội………………………………………
2.Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội………………………
3.Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học xã hội………………………
II.Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Tâm lý học xã hội…
1.Những tiền đề triết học……………………………………………
2.Những trường phái đầu tiên trong Xã hội học và tâm lý học……….
3.Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập
III.Các phương pháp nghiên cứu của Tâm lý học xã hội…………………
1.Những nguyên tắc chủ yếu………………………………………….
2.Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong tâm lý học xã hội………

CHƯƠNG 2. CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ XÃ HỘI

I.Khái niệm chung về hiện tượng tâm lý xã hội……………………………
II.Các hiện tượng tâm lý xã hội cơ bản…………………………………….
1. Tri giác xã hội……………………………………………………
1.1.Khái niệm Tri giác xã hội…………………………………
1.2.Các cơ chế Tri giác xã hội…………………………………
2.Định kiến xã hội……………………………………………………
2.1.Khái niệm Định kiến xã hội………………………………
2.2.Các nguyên nhân hình thành định kiến……………………
2.3.Các mức độ của định kiến xã hội…………………………
2.4.Thay đổi định kiến…………………………………………
1

1

1
1
3

4.4.Các hình thức Liên hệ xã hội………………………………
5.Thái độ xã hội………………………………………………………
5.1.Một số quan điểm về thái độ………………………………
5.2.Bản chất của thái độ………………………………………
5.3.Sự hình thành thái độ……………………………………
5.4.Thái độ và hành vi…………………………………………
6.Dư luận xã hội và tin đồn……………………………………………
6.1.Dư luận xã hội…………………………………………….
6.2.Tin đồn……………………………………………………

CHƯƠNG 3. TÂM LÝ NHÓM NHỎ

I.Khái niệm chung về nhóm…………………………………………………
1.
Định nghĩa nhóm nhỏ……………………………………………….
2.
Đặc trưng của nhóm nhỏ…………………………………………….
II.Quá trình cá nhân gia nhập nhóm……………………………………….
1.Nguyên nhân cá nhân gia nhập nhóm………………………………
2.Xã hội hoá cá nhân…………………………………………………
3.Nhập vai trong xã hội………………………………………………
III.Các hướng nghiên cứu về nhóm nhỏ……………………………………
1.Trường phái xã hội học………………………………………………
2.Trường phái trắc lượng xã hội……………………………………….
3.Trường phái động thái nhóm………………………………………
34
34
34
38
48

3.Nhóm bắt buộc và nhóm tự do………………………………………
4.Nhóm mở và nhóm khép kín………………………………………
5.Nhóm thành viên và nhóm hội viên………………………………….
V.Đặc điểm của nhóm ………………………………………………………
1.Động thái nhóm……………………………………………………
2.Chuẩn mực nhóm……………………………………………………
3.Các hiện tượng áp lực nhóm…………………………………………
4. Thay đổi, va chạm, xung đột nhóm…………………………………
5.Lãnh đạo nhóm………………………………………………………
6.Hoạt động truyền thông trong nhóm và quá trình ra quyết định…….
7.Sự phát triển của nhóm………………………………………………
8.Các mối quan hệ trong nhóm………………………………………
9.Tập thể - một dạng nhóm đặc biệt…………………………………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
81
82
82
83
83
83
84
84
86
89
92
94
100
104
105

Trang 1

CHƯƠNG 1
TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI LÀ MỘT KHOA HỌC
I. Bản chất, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học xã hội
1.Khái niệm tâm lý học xã hội
Bản chất của Tâm lý học xã hội:
+ Đó là tâm lý chung của nhiều người. Nó được hình thành từ một hệ thống động
cơ của một nhóm xã hội cụ thể (nhu cầu xã hội, tâm thế, niềm tin xã hội, v.v…)
+ Tâm lý xã hội luôn luôn phản ánh thực tại đời sống của một nhóm người. Tồn
tại nào thì tâm lý ấy.
+ Tâm lý học xã hội có bản chất từ hoạt động và giao tiếp (tính duy vật của tâm lý
học xã hội).
Theo Từ điển tâm lý học Tiếng Anh của Arther S. Rebel and Emily Rebel, tâm lý
học xã hội được định nghĩa là một phân ngành của tâm lý học, nó tập trung nghiên cứu
các khía cạnh của hành vi con người bao gồm các cá nhân, các nhóm, các tổ chức xã
hội và xã hội mang tính tổng thể.
Theo từ điển Tâm lý học xã hội do Vũ Dũng chủ biên, tâm lý học xã hội là một
phân ngành của tâm lý học, nghiên cứu các quy luật khách quan của sự tác động qua lại
giữa các yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động của cá nhân và các nhóm người. Tâm
lý học xã hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các nhóm xã hội, các tầng lớp và các giai
cấp khác nhau trong xã hội, nghiên cứu các đặc tính (giai cấp, dân tộc, v.v) và các quy
luật hình thành những loại hình nhân cách mang tính lịch sử, xã hội, nghiên cứu các cơ
chế quan hệ qua lại về mặt tâm lý xã hội trong các nhóm xã hội khác nhau, nghiên cứu
các hình thức giao tiếp khác nhau trong tập thể.
Tóm lại, theo chúng tôi, tâm lý học xã hội là một phân ngành của tâm lý học, nó
tập trung nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của một nhóm xã hội cụ thể, nảy sinh từ sự
tác động qua lại trong hoạt động và trong giao tiếp giữa các cá nhân ở trong nhóm.
Nó chi phối thái độ, hành vi, cử chỉ của cá nhân khi họ ở trong nhóm đó.


hội là nghiên cứu hành vi cá nhân như là chức năng kích thích xã hội. Ở đây, các tác
giả đã nhấn mạnh đến ảnh hưởng qua lại giữa các cá nhân trong nhóm.

Trang 3

+ Quan điểm của các nhà tâm lý học M. Sherif và C. W. Sherif (1956), Mc David
Harari (1968) ,… cho rằng tâm lý học xã hội cần nghiên cứu kinh nghiệm và hành vi
của cá nhân trong môi trường xã hội nhất định.
+ Quan điểm thứ ba cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu mối
quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và môi trường xã hội (các nhà tâm lý học đại diện như:
Jack H. Curtis Richard Dewey, David G. Myer)
Cách tiếp cận thứ nhất (trường phái tâm lý học Xô viết) mang tính khái quát hơn,
chúng có phạm vi rộng. Cách tiếp cận thứ hai mang tính cụ thể, rõ ràng: nhận thức –
thái độ - tình cảm – hành vi.
Như vậy, có thể hiểu rằng: Đối tượng của tâm lý học xã hội nằm ở bản chất các
hiện tượng tâm lý xã hội đã được phân tích ở trên. Đó là cái tâm lý của những nhóm xã
hội cụ thể, bao gồm những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo
nên từ sự tác động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm. Nó không phải là cái tâm lý
như là sản phẩm hoạt động của chủ thể mỗi người dưới những tác động của hiện thực
khách quan. Nó cũng không phải là cái tổng số đơn giản những đặc điểm tâm lý của tất
cả những cá nhân trong nhóm hợp thành.
3.Nhiệm vụ của Tâm lý học xã hội
Tâm lý học xã hội có hai nhiệm vụ chính là nghiên cứu lý luận và nghiên cứu ứng dụng.
1.Nghiên cứu lý luận
- Xác lập được hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học riêng nằm trong cấu
trúc hợp lý, mang đặc thù của khoa học mình. Hiện nay một số khái niệm, phạm trù
cấu trúc của tâm lý học xã hội còn chưa rõ ràng để có thể phân biệt được ranh giới của
nó với những khoa học lân cận.
- Phát hiện được các quy luật hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý
xã hội, chỉ ra cách sử dụng chúng vào việc phát huy nhân tố con người trong các điều

theo sự đòi hỏi của thực tiễn, cũng như khả năng đáp ứng trong quá trình phát triển của nó.

II.Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Tâm lý học xã hội
Tâm lý học xã hội đã ra đời và phát triển được gần một thế kỷ. Song, những tiền
đề để ra đời ngành khoa học này thì đã xuất hiện từ rất sớm. Nói về sự hình thành và
phát triển của Tâm lý học xã hội, trước hết phải tìm hiểu những tiền đề để ra đời ngành
tâm lý học này.

Trang 5

1. Những tiền đề triết học.
Cũng giống như sự ra đời của tâm lý học, sự hình thành Tâm lý học xã hội có sự
đóng góp rất quan trọng của các tư tưởng triết học. Có thể đưa ra một số những tiền đề
cơ bản sau:
1.1. Quan điểm của một số nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Khi nói về quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại có ảnh hưởng tới sự ra
đời của Tâm lý học xã hội, chúng ta chú ý nhiều hơn đến quan điểm về xã hội và con
người của Platon và Aristotle.
- Platon (427 – 374 TCN) trong luận thuyết về đạo đức xã hội và trong phác thảo
về một xã hội lý tưởng của mình, ông đã rất chú ý đến các quan hệ liên nhân cách. Ông
cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của các cá nhân đến sự ổn định của nhà nước.
Trong các tác phẩm của mình, Platon đã quan tâm đến các kiểu loại nhân cách xã
hội. Theo ông, trong xã hội có ba kiểu nhân cách cơ bản: a/Những người luôn luôn cố
gắng làm vừa lòng người khác (người hướng tới xúc cảm), b/Những người say sưa theo
đuổi quyền lực và sự nổi danh (người hướng đến quyền lực) và c/Những người luôn có
khao khát hiểu biết (người hướng đến tri thức). Ba kiểu nhân cách trên phản ánh ba yếu
tố tâm lý của con người: tình cảm, ý chí và trí tuệ.
- Aristotle (354 – 322TCN) là một người mở đường vĩ đại của khoa học xã hội. Ông
đánh giá cao yếu tố tình cảm. Theo ông, có 3 động lực của sự liên kết con người: tình bạn,
sở thích, và đồng nhất. Trong đó, tình bạn là động cơ của đa số các nhóm xã hội.

quan hệ giữa xã hội và cá nhân.
Học thuyết về sự thoả thuận xã hội của Hobber được phát triển dựa trên 3 yếu tố:
- Định đề: bản năng con người bị hạn chế và cô lập từ những người cùng tầng lớp
hoặc từ tầng lớp đối lập của xã hội.
- Nguyên nhân hoặc thiết lập các nguyên nhân: Tại sao con người tự đặt mình vào
các mối liên kết với người khác.
- Thiết lập các quy tắc đạo đức từ hai lý do trên.
Locke không tin rằng có tồn tại một nhà nước thời kỳ tiền xã hội. Ông đưa ra
quan điểm cho rằng con người luôn sống trong xã hội, nhà nước trở thành phương tiện
để chấn chỉnh sai trái, bất công và bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người về cuộc
sống, tự do và sở hữu.
So với học thuyết về thoả thuận xã hội của Hobber và Locke thì học thuyết về sự
thoả thuận xã hội của Rousseau được đánh giá cao hơn. Cũng giống như Hobber, ông
bắt đầu bằng việc tìm hiểu những hành vi bản năng của con người, sau đó nghiên cứu
mối tương tác giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội. Ông cho rằng, trật tự xã

Trang 7

hội là điều bất khả xâm phạm. Nó được xây dựng trên cơ sở lợi ích của đa số mọi
người. Cái trật tự này không thể bắt nguồn từ bản năng của con người mà cần phải
được xây dựng trên sự thoả thuận.
2. Những trường phái đầu tiên trong xã hội học và tâm lý học.
2.1. Các trường phái xã hội học
Vai trò của xã hội học trong việc hình thành Tâm lý học xã hội được thể hiện qua
sự ảnh hưởng của các quan điểm của một số nhà xã hội học.
- Auguste Comte (1790 – 1857)
Comte đã phân chia tâm lý học theo hai khía cạnh: sinh học và xã hội học. Sự
phân chia này có giá trị nhất định trong Tâm lý học xã hội.
Khi nói về nhân cách con người, ông đã thiên về khía cạnh bản năng. Theo ông,
bản năng con người chia thành 2 loại chính: sự ích kỷ và lòng vị tha. Tính vị tha của

cuốn sách này ông đã phân tích rất sâu sắc về tâm lý đám đông – một hiện tượng tâm lý
rất đặc thù của Tâm lý học xã hội. Với cuốn sách này, ông đã trở thành người mở
đường về vấn đề “hành vi tập thể” hiện đại.
- Charles Horton Cooley (1863 – 1929)
Cooley là nhà xã hội học Mỹ, người có quan điểm hiện đại về mối quan hệ giữa
xã hội và cá nhân. Ông nhấn mạnh, không thể tách rời yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân
trong cuộc sống của con người.
Ông đã viết ba cuốn sách nổi tiếng về vấn đề này: Bản chất con người và trật tự
xã hội; Tổ chức xã hội; Sự phát triển xã hội. Cooley bị ảnh hưởng bởi học thuyết “bắt
chước” của Tarde, quan điểm về đồng nhất của Schaffle và tâm lý học của W.James.
- E.A. Ross (1866 – 1951)
Ross là nhà xã hội học người Mỹ, người đã viết cuốn sách Tâm lý học xã hội
(1908) – một trong những cuốn sách giáo khoa đầu tiên về ngành khoa học này. Nếu
Cooley nhấn mạnh hơn đến khía cạnh tập thể thì Ross lại chú ý đến cả khía cạnh xã hội
và khía cạnh cá nhân trong nghiên cứu quan hệ giữa xã hội và cá nhân.
Theo ông, vai trò của xã hội thể hiện qua sự ảnh hưởng của nhóm tới cá nhân và
vai trò của cá nhân thể hiện qua sự ảnh hưởng của cá nhân tới nhóm. Các vai trò này
xảy ra trong các hoàn cảnh xã hội. Quan điểm này của Ross đã bị ảnh hưởng bởi quan
điểm của Tarde về “sự bắt chước” trong đời sống xã hội.
2.2.Các trường phái Tâm lý học
- Thuyết hành vi của Watson:
Thuyết hành vi ra đời vào năm 1913 trong bối cảnh Tâm lý học nội quan bước
vào thời kỳ khủng hoảng và một số nhà tâm lý học cho rằng cần phải xác định lại đối
tượng nghiên cứu của tâm lý học.

Trang 9

Thuyết hành vi là cơ sở để tâm lý học đầu thế kỷ XX từ bỏ di sản của trường phái
nội quan và đưa Tâm lý học xã hội hiện đại đến chỗ tìm hiểu con người thông qua các
hoàn cảnh xã hội và trước hết là nghiên cứu hành vi của con người.

to Social Psychology) của Mc. Dougall. Trong cuốn sách này tác giả đã lý giải sự giống
nhau về hành vi giữa cá nhân trong nhóm xã hội thông qua sự bắt chước.
Tính đến năm 1954, đã có 52 cuốn sách giáo khoa về Tâm lý học xã hội xuất bản,
đến năm 1968 con số này đã tăng lên gần 100 cuốn và tính đến năm 1980, số sách giáo
khoa về Tâm lý học xã hội đã lên tới gần 150 cuốn, gần chục tạp chí về tâm lý học xã
hội và một số lượng lớn các tuyển tập bài viết, các sách tham khảo có giá trị về ngành
khoa học này được hoàn thành. Trong gần một thế kỷ vừa qua, người ta có thể nhận
thấy hai xu hướng phát triển của Tâm lý học xã hội: Tâm lý học xã hội phương Tây và
Tâm lý học xã hội Xô viết. Hai xu hướng này có sự khác biệt nhất định.
Tâm lý học xã hội Xô viết chú ý nhiều đến nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của
nhóm, trong đó đặc biệt là tập thể (một loại nhóm chính thức) và các nhóm lớn như giai
cấp, dân tộc, Tâm lý học xã hội phương Tây lại quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên
cứu kinh nghiệm và hành vi xã hội. Tính thực tiễn, ứng dụng trong các nghiên cứu của
Tâm lý học phương Tây được thể hiện rất rõ nét.
Ở nước ta, Tâm lý học xã hội là một ngành còn rất non trẻ. Song, trong thời gian
gần đây, ngành khoa học này đã có những bước phát triển quan trọng. Tâm lý học được
giảng dạy ở nhiều trường Đại học, học viện và trường cao đẳng. Nhiều công trình
nghiêu cứu về Tâm lý học xã hội đã được dịch và biên soạn. Tính đến nay chúng ta đã
có hàng chục cuốn sách giáo khoa, nhiều tài liệu tham khảo đã được các nhà Tâm lý
học Việt Nam biên soạn và xuất bản nhằm phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu Tâm lý học xã hội.
III.Các phương pháp nghiên cứu của Tâm lý học xã hội

1.Những nguyên tắc nghiên cứu
1.1.Phải đảm bảo tính chất khách quan
Nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan, trước hết là phải nghiên cứu từ chính
bản thân sự vật, hiện tượng, phải xem xét sự vật, hiện tượng như chúng vốn có trong
thực tế, ghi nhận mọi chi tiết, mọi biểu hiện của chúng.
1.2.Phải nghiên cứu sự vật và hiện tượng trong các mối liên hệ của chúng
Tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều liên hệ, tác động qua lại với

kiểm tra giả thuyết. Các tình huống quan sát có thể là tình huống tự nhiên
hoặc tình huống thực nghiệm (do người quan sát chủ động) tạo nên
• Đối tượng quan sát: là những hành động ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ của con
người trong nhóm hay liên nhóm. Cụ thể là:

Trang 12

- Hành động nói (hành động ngôn ngữ). Ở đây cần chú ý quan sát tính định
hướng, tần số, cường độ, mức độ diễn cảm, đặc điểm của ngôn từ, ngữ pháp,
cách phát âm.
- Những hành động diễn cảm thể hiện qua nét mặt, thái độ, hành động.
- Cử chỉ di chuyển, trạng thái đứng im của con người, khoảng cách giữa người
này với người khác, tốc độ, phương hướng vận động, sự va chạm…
• Một số ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm: Nó được sử dụng rộng rãi, chiếm ưu thế trong việc thu thập các biểu
hiện của tâm lý xã hội. Trong phương pháp này, nhà khoa học có thể sử dụng
những máy móc hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim để ghi lại
những hiện tượng cần nghiên cứu, khi cần có thể quan sát lại nhiều lần bảo
đảm tính khách quan.
- Hạn chế: phương pháp này còn có hạn chế là nó đòi hỏi nhiều thời gian; nó
chỉ cung cấp những tài liệu về các biểu hiện bề ngoài có tính cảm tính. Bởi
vậy, khi dùng phương pháp này nhà khoa học phải thu thập tài liệu với số liệu
đủ lớn để có thể chọn lọc trong đó những tài liệu cần thiết.
2.2.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Sản phẩm hoạt động bao giờ cũng mang đậm nét những đặc điểm tâm lý của
nhóm người tạo ra nó, bao gồm sản phẩm vật chất và tinh thần. Các sản phẩm vật chất
như: nhà cửa, vật dụng thông thường,… các sản phẩm tinh thần như âm nhạc, phong
tục, tập quán,… Qua sản phẩm hoạt động, nhà khoa học có thể tìm hiểu về trình độ
nhận thức, mức độ kỹ xảo, nội dung tình cảm, đặc điểm tính cách của các nhóm người
khác nhau.

• Cách thức trình bày bảng hỏi:
Để bảng hỏi được trả lời tốt, khi xây dựng chúng ta cần chú ý đến một số khía
cạnh sau:
- Ở trang đầu của bảng hỏi ghi rõ cơ quan, tổ chức tiến hành điều tra.
- Tiếp theo là lời mở đầu (nêu mục đích, yêu cầu của bảng hỏi). Trong lời mở
đầu cần cam kết giữ bí mật tên, tuổi cho người được hỏi. Nên viết ngăn gọn,
lịch sự.
- Ở phần cuối bảng hỏi nên có lời cảm ơn người được hỏi.
- Cần chú ý đến hình thức trình bày bảng hỏi: kiểu chữ, cách trình bày,

Trang 14

• Những ưu điểm và hạn chế
- Ưu điểm: Cho phép tiến hành nghiên cứu trên một địa bàn rộng với số lượng
lớn khách thể nghiên cứu. Có thể thu được thông tin về nhiều sự kiện khác
nhau trong thời gian ngắn. Không chỉ thu thập được thông tin trong hiện tại
mà trong cả quá khứ và tương lai.
- Hạn chế: Số liệu điều tra chủ yếu dựa vào đánh giá của khách thể. Độ tin cậy
của thông tin phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, khả năng tự trình bày các vấn
đề của khách thể. Ngoài ra, độ tin cậy của thông tin còn phụ thuộc vào khả
năng thiết kế bảng hỏi của người nghiên cứu, vào sự hợp tác của khách thể
Để bổ sung phương pháp điều tra, người ta đã dùng phương pháp phỏng vấn kèm
theo. Phương pháp phỏng vấn hay trò chuyện có mục đích giúp cho người điều tra
thâm nhập vào cuộc sống xã hội mà họ muốn nghiên cứu, có được thông tin ban đầu về
xã hội ấy. Qua trò chuyện sẽ gây được không khí tự nhiên, gần gũi giữa người điều tra
và người được điều tra khiến họ có thể thông cảm hơn, tích cực hưởng ứng và trả lời
chính xác.
Phỏng vấn cũng bị hạn chế là tốn thời gian, nên chỉ có thể tiến hành trong một
diện hẹp, có lựa chọn, thông thường là những người lãnh đạo, những cá nhân tiêu biểu.
2.4.Phương pháp thực nghiệm

 Các giai đoạn thực hiện trắc nghiệm xã hội
*Các giai đoạn thực hiện
- Xác định nhiệm vụ, khách thể nghiên cứu
- Xác định các giả thuyết nghiên cứu cơ bản
- Xây dựng bảng hỏi
Bảng hỏi của trắc nghiệm xã hội gồm các câu hỏi liên quan đến những khía cạnh
cảm xúc của các quan hệ tương hỗ giữa các cá nhân trong nhóm. Đòi hỏi những người
tiến hành trắc nghiệm phải thể hiện được mối quan hệ thân ái, gần gũi, cởi mở với các
khách thể làm trắc nghiệm. Vì quan hệ như vậy sẽ kích thích được lòng nhiệt tình, tinh
thần trách nhiệm của khách thể nghiên cứu.
*Các hình thức lựa chọn mẫu trong trắc nghiệm
- Sự lựa chọn không hạn chế
Nếu trong nhóm có 12 thành viên thì mỗi người trong nhóm sẽ lựa chọn 11 người
còn lại của nhóm (trừ bản thân mình) để thực hiện trắc nghiệm.

Trang 16

Công thức lựa chọn ở đây là: N – 1, trong đó N là số lượng các thành viên của nhóm
thực nghiệm. Như vậy, sẽ có (N – 1) người được lựa chọn để tham gia thực nghiệm.
Ưu điểm: khả năng lựa chọn như nhau đối với các thành viên. Nó có thể làm cho
các thành viên bộc lộ được cảm xúc của mình. Đây có thể là lát cắt qua mối liên hệ liên
nhân cách phức tạp trong cấu trúc nhóm.
Nhược điểm: kỹ thuật tính toán khá phức tạp, khó khăn khi nhóm trắc nghiệm có
nhiều thành viên. Một nhược điểm khác là xác suất nhận được từ sự lựa chọn ngẫu
nhiên là rất lớn. Ví dụ, ta có thể nhận được câu trả lời “Tôi chọn tất cả”
- Sự lựa chọn hạn chế
Ở đây các khách thể được phép chọn số lượng hạn chế các thành viên của nhóm
(số lượng này theo quy định của người làm trắc nghiệm). Ví dụ, trong nhóm trắc
nghiệm có 25 người thì mỗi thành viên được lựa chọn 4 người.
Ưu điểm: có độ tin cậy cao hơn vì nó sẽ làm người thực hiện trắc nghiệm có ý

thành viên trong nhóm theo danh sách ở phần cột lựa chọn.
Các câu hỏi trắc nghiệm được chia thành hai nhóm:
+ Nhóm I: Người được trắc nghiệm đưa ra sự lựa chọn của mình về các thành
viên của nhóm.
+ Nhóm II: Người được trắc nghiệm đánh giá xem ai trong số các thành viên của
nhóm sẽ chọn mình vào vị trí đó. Tức là đánh giá về khả năng lựa chọn của nhóm đối
với bản thân anh ta.
Trên đây là một số những phương pháp nghiên cứu cơ bản trong tâm lý học xã hội. Các
phương pháp này được sử dụng kết hợp với nhau tuỳ theo mục đích của nhà nghiên cứu.
Trang 18

CHƯƠNG 2
CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ XÃ HỘI
I.Khái niệm chung về hiện tượng tâm lý xã hội
Con người luôn sống trong một môi trường xã hội nhất định: gia đình, trường
học, công ti, xí nghiệp, … Trong quá trình đó các cá nhân có sự tác động qua lại lẫn
nhau. Sự tác động này đã điều chỉnh thái độ, hành vi của cá nhân và nhóm dẫn đến quá
trình xã hội hoá cá nhân, hình thành nên những hiện tượng tâm lý đặc trưng của nhóm.
Tâm lý xã hội bao gồm những hiện tượng tâm lý chung của một nhóm xã hội nảy
sinh từ tác động qua lại trong hoạt động và giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm,
chi phối thái độ hành vi của các cá nhân khi hiện diện trong nhóm.
Những hiện tượng tâm lý xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau, chi phối lẫn
nhau. Nó có diễn biến rất phức tạp mặc dù được hình thành và phát triển có quy luật
Khi xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp và

Ấn tượng ban đầu là hình ảnh tổng thể mà chúng ta có được về một người khác
hoặc về nhóm xã hội dựa trên một sự nhìn nhận, đánh giá một cách chung chung thông
qua những biểu hiện về diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt,… Sau lần tiếp
xúc ban đầu ta sẽ có một ấn tượng nhất định về đối tượng của mình.
Thông thường sau lần gặp gỡ đầu tiên (tri giác, nhận thức), về mặt vô thức, trong
đầu chúng ta hiểu về người đó: liệu có chơi được hay không? người này có thích mình
không? Chúng ta quy lại một nhân cách chung, do đó nó chi phối rất nhiều trong quá
trình tri giác lần sau.
Ấn tượng ban đầu được hình thành trên cơ sở:
 Đặc điểm trung tâm
Trong quá trình ứng xử xã hội, giao tiếp thông thường ở mỗi cá nhân có nổi lên
một đặc điểm nào đó và chúng ta đã lấy nó để suy luận về họ.
Nhà tâm lý học Mỹ, Asch Solomon, nghiên cứu về ấn tượng ban đầu đã tiến hành
thí nghiệm như sau:
Cho hai nhóm sinh viên hai bảng ghi các đặc điểm tính cách. Nội dung của hai
bảng như nhau, chỉ khác một điểm: “tính nồng nhiệt” của người A thay thế bằng “tính
lạnh lùng” của người B.

Trang 20

Ngừơi A Người B
Thông minh Thông minh
Khéo léo Khéo léo
Cần cù Cần cù
Nồng nhiệt Lạnh lùng
Kiên quyết Kiên quyết
Thực tế Thực tế
Thận trọng Thận trọng
Ông yêu cầu hai nhóm sinh viên đưa ra nhận định của mình về người có những
đặc điểm trong bảng. Các sinh viên nhận xét người A là một người tin tưởng vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status