Phân dạng và phương pháp giải một số bài tập hóa học lớp 9 - Pdf 12

.PHÂN DẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG
BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 9
I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lý
luận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động
nhận thức, học trong hoạt động. HS bằng họat động tự lực, tích cực của mình mà
chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp phần hình
thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo.
Hoá học là bộ môn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn
hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết
thực đầu tiên về hoá học, giáo viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một
kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng cho việc giáo
dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động. Có những
phẩm chất thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa
học, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội có thể hoà hợp với môi tr-
êng thiªn nhiªn.Việc nắm vững các kiến thức cơ bản góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo ở bậc phổ thông, chuẩn bị cho học sinh tham gia các hoạt đông sản xuất và
các hoạt động sau này.
Trong môn hoá học thì bài tập hoá học có một vai trò cực kỳ quan trọng nó là
nguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lí thuyết, giải thích các hiện tượng
các quá trình hoá học, giúp tính toán các đại lượng: Khối lượng, thể tích, số mol ,
giúp giáo viên kiểm tra đánh giá ®îc kết quả học tập của học sinh, Từ đó phân loại
học sinh để có kế hoạch sát với đối tượng. Việc giải bài tập sẽ giúp học sinh được
củng cố kiến thức lí thuyết đã được học, vận dụng linh hoạt kiến thức vào làm bài. Để
giải được bài tập đòi hỏi học sinh không chỉ nắm vững các tính chất hoá học của các
đơn chất và hợp chất đã học, nắm vững các công thức tính toán, biết cách tính theo
phương trình hóa học và công thức hoá học. Đối với những bài tập đơn giản thì học
sinh thường đi theo mô hình đơn giản: Như viết phương trình hoá học, dựa vào các
đại lượng bài ra để tính số mol của một chất sau đó theo phương trình hoá học để tính
số mol của các chất còn lại từ đó tính được các đại lượng theo yêu cầu của bài. Nhưng

I.3.3. Phạm vi của đề tài:
I.3.3.1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 9 trường THCS Thị Trấn Ba chẽ
I.3.3.2. Đối tượng nghiên cứu: Bài tập hóa học lớp 9.
I.3.3.3. Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Thị Trấn ba chẽ
I.4. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÍ LUẬN THỰC TIỄN.
I.4.1. Lí luận:
- Học sinh phân dạng được các dạng bài tập hóa học và có phương pháp giải
các dạng bài tập đó thì việc làm bài tập hóa học không còn là vấn đề khó khăn đối với
các em nữa, các em sẽ tránh được những sai lầm trong khi giải bài, khi gặp bất kể một
2
bài toán hóa học nào các em cũng có thể làm được một cách dễ dàng, không ngần
ngại, giáo viên cũng có nhiều thời gian hơn để đào sâu, mở rộng, nâng cao kiến thức,
đưa ra được nhiều cách giải hay, cách giải nhanh giúp các em học tập tốt bộ môn từ
đó yêu thích và hứng thú với môn hóa học hơn, chất lượng dạy - học sẽ được nâng
lên.
I.4.2. Thực tiễn:
Qua các giờ giảng dạy trên lớp, giờ phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học
sinh khá giỏi GV tổ chức, hướng dẫn học sinh phân dạng bài tập hóa học trong
chương trình hóa học lớp 9 đồng thời hướng dẫn các em xây dựng phương pháp giải
cho các dạng bài tập đó nhằm phát triển kỹ năng làm bài tập hóa học, giúp các em chủ
động giải quyết các bài tập hóa học một cách dễ dàng.
II: PHẦN NỘI DUNG
II.1:CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
II.1. 1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
- Trong những năm gần đây SGK biên soạn theo hướng tích cực hóa hoạt động
của học sinh nên nội dung thường rất ngắn gọn và tương đối khó hiểu, dòi hỏi giáo
viên phải nghiên cứu, tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp đặc biệt là việc phân
dạng và đề ra phương pháp giải các dạng bài tập hóa học, hiện nay khối lượng bài tập
hóa học dành cho học sinh tự luyện ở nhà cũng tăng lên nhiều so với trước đặc biệt là
có đầy đủ các dạng bài tập để học sinh luyện tập tuy nhiên để học sinh tự phân dạng

năng tính toán v.v
Tạo điều kiện để tư duy phát triển, khi giải một bài toán hoá học bắt buộc phải
suy lý, quy nạp, diễn dịch, loại suy.
. Giáo dục tư tưởng cho học sinh vì giải bài tập hoá học là rèn luyện cho học sinh
tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi sử lý các vấn đề
đặt ra. Mặt khác rèn luyện cho học sinh tính chính xác của khoa học và nâng cao lòng
yêu thích môn học
Phân dạng bài tập hóa học thực chất chính là việc lựa chọn, phân loại các bài
tập có những đặc điểm tương tự nhau, cách giải giống nhau để xếp vào cùng một
nhóm.
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất
định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định do đó phương pháp giải bài tập hóa học
cũng chính là cách thức, là con đường, phương tiện để giải các bài tạp hóa học.
Trong giáo dục đại cương, bài tập được xếp trong hệ thống phương pháp dạy
học, thí dụ phương pháp luyện tập. Phương pháp này được coi là một trong những
phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Đây cũng là
một phương pháp học tập tích cực đối với học sinh. Ở nhà trường THCS, giáo viên
hóa học cần nắm vững các khả năng vận dụng bài tập hóa học, nhưng quan trọng hơn
là cần lưu ý tới việc sử dụng bài tập hóa học sao cho phù hợp, đúng mức nhằm nâng
co khả năng học tập của học sinh nhưng không làm quá tải hoặc nặng nề khối lượng
kiến thức của học sinh. Muốn làm được điều này, trước hết người giáo viên hóa học
phải nắm vững các tác dụng của bài tập hóa học, phân loại chúng và tìm ra phương
hướng chung để giải.
4
II.2.CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
II.2.1 Thực trạng của việc giải bài tập hóa học.
Khi được phân công giảng dạy môn hóa học khối lớp 9 tôi đã tiến hành khảo
sát chất lượng bộ môn và thu được kết quả như sau:
Mức độ Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %

môn hoá nhưng khi hỏi các em có phân dạng và xác định được hướng giải các bài tập
5
hóa học không thì hầu hết các em trả lời là không và tất cả các em học sinh đều muốn
giáo viên giúp các em phân dạng và xác định phương pháp giải. Như vậy có nghĩa là
trong quá trình dạy học người giáo viên ngoài việc truyền thụ đủ kiến thức theo yêu
cầu của chương trình còn cần sáng tạo hơn trong việc truyền tải kiến thức đến học
sinh, cần có những phương pháp tích cực trong quá trình giảng dạy để đến được đích
cuối cùng là học sinh hiểu bài, làm được các bài tập có liên quan và vận dụng tốt
trong học tập, lao động và trong cuộc sống
II.2 2. Nguyên nhân học sinh không phân dạng được bài tập và không xác
đinh được hướng giải các bài tập
- Khả năng nhận thức, phân tích tổng hợp của học sinh còn hạn chế.
- Nhiều học sinh chưa chủ động trong học tập, còn lười làm bài tập ở nhà
- Sách giáo khoa đã đưa dược ra các dạng bài tập hóa học áp dụng với tính chất
là để củng cố lại phần kiến thức đã học trong bài như củng cố tính chất hóa học của
ôxit, axit, bazo, muối mà các dạng bài tập lại không nằm gọn trong một phần kiến
thức nào cả, có thể trong một phần kiến thức rất nhỏ cũng có rất nhiều dạng bài tập để
học sinh luyện tập, điều đó đòi hỏi học sinh phải tích cực, tự giác trong việc tự học ở
nhà, làm đi làm lại nhiều lần để có kỹ năng từ đó mới phân dạng được bài tập và rút ra
được phương pháp giải các dạng bài tập đó.
- Thời gian trên lớp chỉ đủ cho giáo viên truyền thụ hết lượng kiến thức mới mà
chương trình yêu cầu hoặc chỉ giải được rất ít bài tập nên khó khăn cho việc phân
dạng và đưa ra phương pháp giải cho học sinh.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút
kinh nghiệm, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, phân dạng được một số dạng
bài tập hóa học đơn giản và xác định được phượng pháp giải các dạng bài tập đó.
II.3. CHƯƠNG III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
III.1. Đề xuất biện pháp giúp học sinh học tốt bộ môn hóa học
Trước những thực trang và nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đưa ra một số biện
pháp giúp học sinh học tốt bộ môn nhằm nâng cao chất lượng dạy – học đó là:

4

(4)
SO
2

(5)
H
2
SO
3

(6)
Na
2
SO
3
(7) (8)

NaHSO
3
Na
2
SO
4

b) FeCl3 Fe(OH)3 Fe2O3 FeCl3

Fe(NO)3
Bài giải

4
+ H
2
O + SO
2
(5) SO
2
+ H
2
O H
2
SO
3
(6) H
2
SO
3
+ 2NaOH Na
2
SO
3
+ H
2
O
(7) SO
2
+ NaOH NaHSO
3
(8) H
2

O
(4) FeCl
3
+ 3AgNO
3
3AgCl + Fe(NO)
3
(5) Fe(NO
3
)
3
+ 3NaOH Fe(OH)
3
+ 3NaNO
3
(6) Fe
2
O
3
+ 6HCl 2FeCl
3
+ 3H
2
O
Ví dụ 2: Có những chất sau: Na
2
O, Na, NaOH, NaHCO
3
, Na
2

NaCl NaClO
b) Phương trình hóa học:
4Na + O
2
2Na
2
O
Na
2
O + H
2
O 2 NaOH
NaOH + CO
2
NaHCO
3
NaOH + NaHCO
3
Na
2
CO
3
+ H
2
O
Na
2
CO
3
+ H

, NaOH, Fe(OH)
3
, CuSO
4
, NaCl, HCl.
Hãy chọn chất thích hợp điền vào mỗi sơ đồ phản ứng sau và lập phương trình hóa
học:
a) Fe
2
O
3
+ H
2
O
b) H
2
SO
4
+ Na
2
SO
4
+ H
2
O
c) H
2
SO
4
+ ZnSO

+ 2NaOH Na
2
SO
4
+ H
2
O
c) H
2
SO
4
+ Zn(OH)
2
ZnSO
4
+ H
2
O
d) NaOH + HCl NaCl + H
2
O
e) 2NaOH + CO
2
Na
2
CO
3
+ H
2
O

Dạng 3: Nhạn biết mà không dùng thuốc thử ngoài.
VD: Không sử dụng thuốc thư ngoài, nhận biết 5 dung dịch sau:HCl, Na2CO3,
BaCl2, Na2SO4, NaCl.
5. Cách trình bày một bài nhận biết (gồm 4 bước chính).
Cách 1: Dùng phương pháp mô tả.
- Bước 1: Trích mẫu thử( Thường là lấy ra mỗi chất một ít làm mẫu thử).
- Bước 2: Chọn thuốc thử ( tùy thuộc vào yêu cầu đề bài: Thuốc thử không hạn
chế, ạn chế hoặc không dùng thuốc thử ngoài).
- Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được từ đó
tìm ra hóa chất cần nhận biết.
- Bước 4: Viết tất cả các phương trình phản ứng xảy ra.
Cách 2: Dùng phương pháp lập bảng
Cũng qua các bước như cách (1). Riêng bước 2 và 3 thay vì mô tả, gộp lại
thành bảng: Trình tự nhận biết.
Ví dụ:
Chất cần
nhận biết
Thuốc
thử sư dụng
X Y Z
A _
B /// ///
///
Kết luận đã nhận
X Y Z
9
Quy ước: (-): Không có dấu hiệu gì xảy ra( mặc dù có thể có phản ứng), (///)
chất đã nhận biết được.
Ví dụ 1: Hãy phân biệt các lọ mất nhãn đựng các dung dịch: NaCl, Na
2

3
Mẫu còn lại không có hiện tượng gì là NaNO
3
Ví dụ 2: Chỉ dùng nước và khí cacbonnic có thể phân biệt 5 chất bột trắng sau
đây không? NaCl, Na
2
CO
3
, Na
2
SO
4
, BaCO
3
, BaSO
4
. Nếu được hãy trình bày cách
nhận biết.
Bài giải:
Ta có sơ đồ nhận biết:
Chất thử NaCl Na
2
CO
3
Na
2
SO
4
BaCO
3

3
BaCO
3
+ 2NaHCO
3
Ba( HCO
3
)
2
+ Na
2
SO
4
BaSO4 + 2NaHCO
3
CO
2
+ H
2
O + BaCO
3
Ba(HCO
3
)
2
Ví dụ 3: Không dùng hóa chất khác, nhận biết: HCl, K
2
CO
3
, NaCl, Na

CO
2
(x) - - BaCO
3
NaCl - - (x) - -
Na
2
SO
4
- - - (x) BaSO
4
Ba(NO
3
)
2
- BaCO
3
- BaSO
4
(x)
10
- Dung dich không tạo hiện tượng gì là NaCl
- Dung dịch tạo CO
2
với một dung dịch khác là dung dịch HCl.
- Dung dịch tạo kết tủa trắng với một dung dịch khác là Na
2
SO
4
- Dung dịch tạo kết tủa trắng với hai dung dịch khác là Ba(NO

2
Fe +2HCl FeCl
2
+ H
2
Ví dụ 2: Bột kim loại sắt có lẫn nhôm. Hày nêu phương pháp làm sạch sắt.
Bài giải:
Cho hỗn hợp bột vào dung dịch NaOH dư, nhôm tn hoàn toàn trong dung dịch,
còn lại sắt nguyên chất.
2Al + 2NaOH +2H
2
O 2NaAlO
2
+ 3H
2
Ví dụ 3: Có hỗn hợp khí CO
2
và O
2
. làm thế nào có thể thu được khí O
2
ừ hỗn
hợp trên? Trình bày cách làm và viết phương trình hóa học
Bài giải:
Dãn hỗn hợp vào dung dịch nước vôi trong dư, lúc đó CO
2
bị hấp thụ hoàn toàn
theo phản ứng:
CO
2

3
BaCO
3
+ 2NaCl
Lọc tách BaCO
3
, rồi cho tác dụng với dung dịch HCl:
BaCO
3
+ 2HCl BaCl
2
+ CO
2
+ H
2
O
Dạng 4: BÀI TẬP HỖN HỢP
Phương pháp:
Dựa vào tính chất của hỗn hợp, chúng ta có thể chia các bài tập hỗn hợp thành
3 dạng chính như sau:
1) Dạng 1: Hỗn hợp gồm các chất có tính chất khác nhau
* Tổng quát :
( khoâng pö )
X
A AX
B B
+
→

* Cách giải : Thường tính theo 1 PTHH để tìm lượng chất A lượng chất B

lượng B mới sinh ra trong phản ứng với chất A
4) Một số điểm cần lưu ý khi giải toán hỗn hợp:
* Nếu hỗn hợp được chia phần có tỉ lệ ( gấp đôi, bằng nhau … ) thì đặt ẩn x,y …
cho số mol từng chất trong mỗi phần.
* Nếu hỗn hợp được chia phần không có quan hệ thì đặt ẩn (x,y,z …)cho số mol
mỗi chất ở một phần và giả sử số mol ở phần này gấp k lần số mol ở phần kia.
12
Ví dụ 1: Hòa tan 20 g hỗn hợp 2 ôxit CuO và Fe
2
O
3
cần vừa đủ 200ml dung dịch
HCl 3.5M
a, Viết phương trình phản ứng xảy ra, tính thành phần % theo khối lượng của mỗi ôxit
trong hỗn hợp.
b, Tính khối lượng muối sinh ra sau phản ứng.
(Biết Cu = 64; Fe =56; O = 16; Cl = 35,5)
Bài giải:
n
HCl
= 3.5x0.2 = 0.7 mol
a) CuO + 2HCl CuCl
2
+ H
2
O (1)
x 2x x
b) Fe
2
O

O
3
=
16
100 80%
20
x =
c) m
CuCl2
= 0.05x 135 = 6.75g

m
FeCl3
= 0.2 x 16205 = 32.5g
Ví dụ 2: Cho 10.5 gam hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loàng
dư người ta thu được 2.24 lit khí (đktc).
a) Viết phương trình hóa học.
b) Tính khối lượng chất rắn còn lại sau phản ứng.
Bài giải:
a) Chỉ có Zn phản ứng theo phương trình hóa học:
Zn + H2SO4 ZnSO4 + H2
b) Từ tỉ lệ phản ứng ta có: n
Zn
= n
H2
=
2.24
22.4
= 0.1 (mol)
Suy ra: m

36.5
36.5
= 1 mol
Phương trình phản ứng: NaOH + HCl NaCl + H2O
Theo phương trình: 1 mol 1 mol
Theo dầu bài: 1.25 1 mol 1 mol
Lập tỉ số:
1.25
1
>
1
1
=> n
NaOH

Phản ưng: 1 mol 1 mol 1 mol
Theo phương trình phản ứng trên và dữ kiện của đề bài ta thấy n
NaOH
dư nên tính
n
NaCl
theo n
HCl
( nghĩa là tính m
NaCl
theo m
HCl
)
n
NaCl

NaOH
=
20
0.5
40
=
(mol)
FeCl
2
+ 2NaOH

Fe(OH)
2
+ 2NaCl
Theo ĐB: 1 mol 2 mol
Theo PT: 0.2mol 0.5 mol
Xét tỉ lệ:
0.2
1
<
0.5
2
Vậy sau phản ứng NaOH d, FeCl
2
phản ứng hết
Theo PTPU (1) và (2) chất rắn sau khi nung là FeO
n FeO = n Fe(OH)
2
= n FeCl
2

, SO
2
) <
n
( NaOH, KOH)
Phng trỡnh:
CO
2
+ 2NaOH

d
Na
2
CO
3
+ H
2
O
SO
2
+ 2KOH

d
K
2
SO
3
+ H
2
O

O.
Vỡ CO
2
d nờn CO
2
tip tc phn ng vi mui to thnh:
15
CO
2
+ Na
2
CO
3
+ H
2
O 2NaHCO
3
.
* Trng hp3:
Nu bit th tớch hoc khi lng ca oxit axit v dung dch kim thỡ trc ht
ta phi tớnh s mol ca c 2 cht tham gia ri lp t s.
a, Nu:
n
n
2 2
(NaOH,KOH)
(CO ,SO )
1
Kt lun: Sn phm to ra mui axit v CO
2

(NaOH,KOH)
(CO ,SO )
2 ( khụng quỏ 2,5 ln)
Kt lun:Sn phm to ra mui trung ho do
n
NaOH,
n
KOH d.
Phng trỡnh phn ng:(ch xy ra 1 phn ng).
CO
2
+ 2NaOH Na
2
CO
3
+ H
2
O. (1)
c, Nu:
1 <
n
n
2 2
(NaOH,KOH)
(CO ,SO )
< 2
Kết luận :Sản phẩm tạo ra là hỗn hợp hai muối:Muối axit và muối trung hoà .
Phng trỡnh phn ng
Vớ d: CO
2

O 2NaHCO
3
. (II)
Hoc:
CO
2
+ NaOH NaHCO
3
NaHCO
3
+ NaOH Na
2
CO
3
+ H
2
O (III)
Nhn xột :
- Trong cỏch vit phn ng (II) ta vit phn ng to thnh Na
2
CO
3
trc, sau ú
d CO
2
mi to thnh mui axit.
- Cỏch ny l ỳng nht vỡ lỳc u lng CO
2
sc vo cũn rt ớt, NaOHd do
ú phi to thnh mui trung ho trc.

Cách viết (I) chỉ được dùng khi khẳng định tạo thành hỗn hợp hai muối, nghĩa là :
n
CO
2
<
n
NaOH < 2
n
CO
2

Hay:
1 <
n
n
2 2
(NaOH,KOH)
(CO ,SO )
< 2
Ví Dụ: Dẫn khí CO
2
điều chế được bằng cách cho 100 g đá vôi tác dụng với
dung dịch HCl dư, đi qua dung dịch chứa 60 g NaOH.Tính khối lượng muối tạo
thành:
Bài giải

n
CaCO
3
=

2
CO
NaOH
= 1,5 < 2
Kết luận:Sản phẩm tạo ra 2 muối ta có phương trình phản ứng.
*Cách 1:
CO
2
+ NaOH  NaHCO
3
( 2 )
NaHCO
3
+ NaOH  Na
2
CO
3
+ H
2
O (3)
Theo (2)
n
NaOH =
n
NaHCO
3
=
n
CO
2

Sau khi tính số mol lập tỉ số khẳng định sản phẩm tạo ra hai muối:
Ta có thể viết phương trình theo cách sau:
Phương trình phản ứng:
2NaOH + CO
2
 Na
2
CO
3
+ H
2
O (4)
17
CO
2
+ NaOH  NaHCO
3
( 5 )
Gọi x,y lần lượt là số mol CO
2
tham gia phản ứng (4),(5) (hoặc có thể đặt số
mol của hai muối tạo thành ).
Ta có:
Phương trình: x + y = 1 (I)
Theo (4) =>
n
NaOH = 2
n
CO
2

2
CO
3
+ H
2
O (5)
Số mol Trước P/ư 1,5 1

các chất Phản ứng 1,5
1
2
.1,5
1
2
.1,5
Sau P/ư 0 0,25 0,75
Vì CO
2
dư nên tiếp tục phản ứng với Na
2
CO
3
theo phương trình:
CO
2
+ N a
2
CO
3
+ H

(H
3
PO
4
)
Tuỳ thuộc vào tỉ lệ số mol: Có thể có nhiều trường hợp xảy ra:

n
n
3 4
NaOH
H PO
= T (*)
Do ta có tỉ lệ (*) vì khi cho P
2
O
5
vào dung dịch KOH, dung dịch NaOH thì P
2
O
5
sẽ
phản ứng trước với H
2
O.
PT: P
2
O
5
+ 3 H

4
PT: 3NaOH + 2H
3
PO
4


 NaH
2
PO
4
+ Na
2
HPO
4
+ 3H
2
O.
Nếu: T = 2 thì sản phẩm tạo thành là Na
2
HPO
4
PT: 2NaOH + H
3
PO
4
 Na
2
HPO
4

4
và NaOH dư
PT: 3NaOH + H
3
PO
4
 Na
3
PO
4+ 3H
2
O.
Ví dụ: Đốt cháy hoàn toàn 6,2 g phôtpho thu được chất A.Cho chất A tác dụng với
800 ml dung dịch NaOH 0,6 M . Thì thu được muối gì? Bao nhiêu gam?
Bài giải
n
P =
6,2
31
= 0,2 (mol)
n
NaOH = 0,8 . 0,6 = 0,48 (mol).
Các phương trình phản ứng :
4P + 5O
2
 2P
2

H
3
PO
4
= 2
n
P
2
O
5
= 2.0,1 = 0,2 (mol)
Xét tỉ lệ:
2 <
n
n
3 4
NaOH
H PO
=
0,48
0,2
= 2,4 < 3 .
*Kết luận:sản phẩm tạo ra là hỗn hợp hai muối.
Phương trình phản ứng :
5NaOH + 2H
3
PO
4
 Na
2

2
O (5)
Gọi x,y lần lượt là số mol của Na
2
HPO
4
và Na
3
PO
4
Theo (4) =>
n
NaOH = 2
n
Na
2
HPO
4
= 2x (mol)
=>
n
H
3
PO
4
=
n
Na
2
HPO

n
H
3
PO
4
= 0,2 (mol) = x + y (II)
19
Dođó ta có :
2x +3y = 0,48 (I) => x = 0,12 (mol)
x + y = 0,2 (II) y = 0,08 (mol)
Vậy khối lượng muối:
m
Na
2
HPO
4
= 0,12 . 142 = 17,04 (g)

m
Na
3
PO
4
= 0,08 . 164 = 13,12 (g)
3- Cho oxit axit (SO
2
, CO
2
) vào dung dịch kiềm hoá trị II (Ca(OH)
2

*Trường hợp 2: Nếu đề bài cho CO
2
, SO
2
từ từ vào dung dịch Ca(OH)
2
, Ba(OH)
2
đến dư cho sản phẩm duy nhất là muối axit.
Phương trình phản ứng:
2SO
2 dư
+ Ba(OH)
2
 Ba(HSO
3
)
2
Hoặc: Ví dụ;
CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O
CaCO
3

2
O
* Nếu :
n
2
n
2 2
CO
(Ba(OH) ,Ca(OH) )
≥ 2 (không quá 2,5 lần)
Kết luận: Sản phẩm tạo thành là muối axit.
Phương trình phản ứng:
2CO
2 dư
+ Ca(OH)
2
 Ca(HCO
3
)
2
Hoặc:
CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O

2
O
CaCO
3
↓ + CO
2
+ H
2
O  Ca(HCO
3
)
2

tan
Cách 2: CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O
2CO
2 dư
+ Ca(OH)
2
 Ca(HCO
3
)

2
từ từ vào dung dịch nước vôi trong thì lúc đầu thấy xuất hiện kết tủa
trắng và lượng kết tủa tăng dần.
- Nếu tiếp tục sục CO
2
thì thấy lượng kết tủa lại giảm dần và tan hết tạo dung dịch
trong suốt.
- Nếu đun nóng dung dịch sau phản ứng thì ta lại thấy xuất hiện kết tủa trắng
* Giải thích:
- Lúc đầu khi mới sục CO
2
thì lượng CO
2
ít lượng Ca(OH)
2
dư khi đó chỉ xảy ra
phản ứng
CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O
Vậy kết tủa trắng xuất hiện là: CaCO
3
lượng kết tủa này tăng dần đến khi


)
2
tan nên lượng kết tủa giảm dần đến khi lượng kết
tủa tan hết thì tạo dung dịch trong suốt
Lúc đó :
n
CO
2
=2
n
Ca(OH)
2
sản phẩm trong ống nghiệm chỉ là Ca(HCO
3
)
2

- Nhưng nếu ta lấy sản phẩm sau phản ứng đun nóng trên ngọn lửa đèn cồn thì lại thấy
xuất hiện kết tủa trắng là do
Ca(HCO
3
)
2

to
CaCO
3
↓ + CO
2
+ H

Ca(OH)
2
=
n
CaO = 0,05 (mol)
Xét tỉ lệ: 1 <
n
2
n
2
CO
Ca(OH)
=
0,075
0,05
= 1,5 < 2.
*Kết luận:Vậy sản phẩm tạo ra là hỗn hợp hai muối. Muối trung hoà và muối axit.
Các phương trình phản ứng :
CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O (2)
2CO
2 dư
+ Ca(OH)

2
n
CO
2
=
1
2
y (mol)
Mặt khác: Σ
n
Ca(OH)
2
= 0,05(mol).do đó ta có .
x +
1
2
y = 0,05 (II)
Kết hợp (I) và (II) ta được
x + y = 0,075 (I)
=> x = 0,025 (mol)
x +
1
2
y = 0,05 (II) y = 0,05 (mol)
Theo (2):
n
CO
2
=
n

*Cách 2: Sau khi tính số mol lập tỉ số xác định được sản phẩm tạo ra là hỗn hợp hai
muối ta viết phương trình phản ứng như sau:
CO
2
+ Ca(OH)
2
 CaCO
3
↓ + H
2
O (4)
Số mol Trước P/ư 0,075 0,05
Các chất Phản ứng 0,05 0,05 0,05
Sau P/ư 0,025 0 0,05
Theo phương trình phản ứng (4)
n
CO
2
dư nên tiếp tục phản ứng với sản phẩm
CaCO
3
theo phương trình:
22
CO
2
+ CaCO
3
↓ + H
2
O  Ca(HCO

Phương pháp:
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải dạng bài tập này, giáo viên phải
đưa ra những bước giải chung, hướng dẫn các em giải một số bài. Sau đó chỉ
giải đáp những thắc mắc khi các em gặp khó khăn ở bước giải nào đó. Cuối mỗi
tiết học giáo viên phải dành ra từ 10 đến 15 phút để hướng dẫn học sinh giải
bài tập.
Bước 1: Tìm khối lượng mỗi nguyên tố

2
c co
m =(m .12):44

2
H H O
m =(m .2):18
Khi đốt cháy một hợp chất hữu cơ mà sản phẩm thu được chỉ gồm có
CO
2
và H
2
O, thì hợp chất đó có chứa 2 nguyên tố ( cacbon, hiđro) hoặc 3
nguyên tố (cacbon, hiđro và oxi).
Nếu đề bài đã cho biết rõ chất hữu cơ đem đốt cháy chỉ chứa 2 nguyên
tố hoặc chất hữu cơ đó là một hiđrocacbon thì chỉ cần xác định khối lượng
cacbon và hiđro.
Nếu chất hữu cơ đem đốt cháy không nói rõ chứa những nguyên tố nào
thì ta phải xác định xem chất đó có chứa thêm nguyên tố oxi hay không :
Nếu m
O
= m

H
= m
H
: M
H
23
Bước 3: Lập tỷ lệ số mol
C O
H
C H O
C H O
m m
m
n :n :n = : = =x:y:z
M M M
Bước 4: Công thức thực nghiệm (C
x
H
y
O
z
) n = M
A
Bước 5: Viết công thức phân tử.
Ví dụ 1: Phân tử hợp chất hữu cơ A có 2 nguyên tố. Đốt cháy hoàn toàn
3 gam chất A thu được 5,4 gam H
2
O. Hãy xác định công thức phân tử của A. Biết
khối lượng mol của A là 30 gam.
Ví dụ 2: Đốt cháy hoàn toàn một hợp chất hữu cơ A chỉ chứa 2 nguyên tố thu được

Bài giải:
Cách 1:
Vì A là hợp chất hữu cơ nên A phải chứa nguyên tố cacbon.
Chất hữu cơ A chỉ chứa 2 nguyên tố, khi đốt A (A hóa hợp với khí oxi trong không
khí) thu được 5,4 g H
2
O như vậy trong A có nguyên tố hiđro.
Bước 1: Tìm Khối lượng mỗi nguyên tố:
m
H
= (5,4. 2) : 18 = 0,6 (g)
m
C
= 3- 0,6 = 2,4 (g)
Bước 2: Tìm số mol nguyên tử mỗi nguyên tố:
n
C
= 2,4:12 = 0,2 (mol )
n
H
= 0,6 : 1 = 0,6 (mol)
Bước 3: Lập tỷ lệ số mol:
n
C
: n
H
= 0,2 : 0,6 = 1:3
Bước 4: Công thức thực nghiệm: (CH
3
) n = 30 ( n là số nguyên dương)

4C
x
H
y
+ (4x + y) O
2

→
0
t
4xCO
2
+ 2yH
2
O
4 mol 2y mol
0,1 mol 0,3 mol
Tỉ lệ
4 2y
=
0,1 0,3
Giải ra ta được: y = 6
Mặt khác M
A
= 12x + y = 30 (*)
Thay y = 6 vào (*) ta có:x = 2
Công thức phân tử của hợp chất hữu cơ A là C
2
H
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status