LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp dệt-may có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, vừa là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội, vừa có khả năng
thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động nhất trong các ngành công nghiệp.Từ
những năm qua, dệt-may còn là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai trong
cả nước, công nghiệp dệt-may luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm trong
chính sách phát triển chung của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Ngày nay, các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam không ngừng được
phát triển cả về sản lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị kim ngạch xuất khẩu
trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị
trường thế giới. Những thành tựu của công nghiệp dệt-may đóng góp vào sự
nghiệp kinh tế-xã hội ở nước ta đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp trong sự
nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế hơn,
các sản phẩm dệt may còn nhiều bất cập so với nhu cầu phát triển. Chẳng hạn
như: Chất lượng vải của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, giá cao hơn
so với vải nhập khẩu, giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may thấp…...Hơn nữa,
trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên
ASEAN (5/1995), APEC (11/1998) và đang tiến tới gia nhập tổ chức WTO trong
năm nay. Như vậy, các sản phẩm dệt may của Việt Nam vừa có điều kiện để mở
rộng, xâm nhập thị trường tiêu thụ, vừa chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trong môi
trường cạnh tranh quốc tế.Sau ngày 1/1/2005, Hiệp định dệt may quốc tế ATC
hết hiệu lực hoàn toàn, do đó các nước thành viên WTO không bị ràng buộc về
hạn ngạch, điều này gây khó khăn lớn cho Việt Nam.
Vậy, làm thế nào để không bỏ lỡ cơ hội, vượt qua thử thách, làm thế nào để
khai thác lợi thế, khắc phục mặt yếu kém là nhiệm vụ đặt ra cho ngành dệt may
Việt Nam.Tiến hành đầu tư phát triển là giải pháp hữu hiệu để hoạt động sản xuất
có hiệu quả, nâng cao khả năng phát triển của ngành dệt may. Xuất phát từ vấn đề
đó, em đã quyết định chọn đề tài :”Tình hình đầu tư phát triển trong ngành
dệt may Việt nam”.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế, đề tài của em còn nhiều thiếu sót, rất
mong sự góp ý của các thầy cô giúp đề tài của em hoàn thiện hơn.
2.2. Đầu tư vào nguồn nguyên vật liệu ............................................................................... 25
3. Tình hình đầu tư vào tài sản vô hình ................................................................................... 27
3.1. Đầu tư vào thương hiệu ............................................................................................... 27
3.2. Đầu tư vào nguồn nhân lực .......................................................................................... 29
PHẦN III: ....................................................................................................................................... 31
GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ................ 31
1. Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới. ................................. 31
2. Giải pháp đầu tư .................................................................................................................. 32
2.1. Giải pháp thu hút vốn đầu tư cho ngành dệt may ....................................................... 32
2.2. Đầu tư vào công nghệ, trang bị máy móc. ................................................................... 33
2.3. Đầu tư vào nguyên vật liệu cho ngành dệt may .......................................................... 34
2.4. Đầu tư vào thương hiệu ............................................................................................... 36
2.5. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ................................................................................ 38
......................................................................................................................................................... 39
KẾT LUẬN ..................................................................................................................................... 40
2
PHẦN I:
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
I. Lý luận chung về đầu tư
1. Khái niệm, đặc điểm chung về đầu tư, đầu tư phát triển
1.1. Khái niệm đầu tư, đầu tư phát triển
* Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn), tài sản
vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…)và nguồn nhân lực có
đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội .
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm nhưng hoạt động sử dụng các nguồn lực
hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn
thành quả đầu tư phát triển.
*Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Dó đó, các điều kiện về địa lý, địa
hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng
sau này của các kết qua đầu tư. Chính vì vậy nên trong quá trình nghiên cứu tiền
khả thi và khả thi cần phải tiến hành khảo sát, nghiên cứu một cách cụ thể, tỉ mỉ
địa hình, địa chất, điều kiện tư nhiên của nơi tiến hành đầu tư. Đó là điều kiện
quan trọng để các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển phát huy tác dụng .
* Hoạt động đầu tư phát triển có tính rủi ro cao, đầu tư càng lớn thì tính rủi
ro càng cao nhưng lợi nhuận đem lại cũng lớn. Điều đó đòi hỏi chủ đầu tư cần có
những biện pháp để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư để đem lại hiệu quả
đầu tư cao, đạt được mục đích.
Với những đặc điểm đó, có thể thấy mọi thành quả cũng như hậu quả của
quá trình đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định về mặt thời
4
gian và không gian. Do vậy để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư. Sự chuẩn bị
này được thể hiện qua việc soạn thảo các dự án đầu tư để đem lại chất lượng tốt.
2. Vai trò của đầu tư phát triển
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lý thuyết kinh tế, cả lý
thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng
trưởng. Vai trò này của đầu tư được thể hiện ở các mặt sau đây :
2.1. Trên giác độ vĩ mô
2.1.1 . Đầu tư vừa tác động đến tổng cung , vừa tác động đến tổng cầu
- Về mặt cầu : Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư phát triển
thường chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế
giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn.Với tổng cung chưa kịp
thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng làm sản lượng cân bằng
thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn
vốn đầu tư . Nếu không có sự đầu tư thoả đáng sẽ không có tăng trưởng kinh tế.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Ở các nước phát triển,
ICOR thường lớn, từ 5- 7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều
để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các
nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên cần sử
dụng lao động để thay thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiêụ quả đâu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ
thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường ICOR trong
nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ
chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp
thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp.
6
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đề
đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư đủ để được một tỉ lệ tăng thêm sản phẩm quốc
dân dự kiến. Thực tế đã được chứng minh ở nhiều nước đang phát triển, phát
triển về bản chất được coi là vần đề đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư đủ dể được
một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến. Thực tế đã được chứng minh ở
nhiều nước, đầu tư đóng vai trò như một “cú huých ban đầu”, tạo đà cho sự cất
cánh của nền kinh tế (các nước NICs, các nước Đông Nam Á). Rõ ràng hoạt động
đầu tư đã đóng góp tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mức tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư là chủ yếu.
2.1.4 . Đầu tư với tăng cường khả năng khoa học và công nghệ đất nước
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay .
Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ
của Việt Nam lạc hậu so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, Việt Nam đang
chất-kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả các hoạt động
và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
3. Nguồn vốn đầu tư phát triển
Nguồn vồn đầu tư là tập chung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh
tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. Xét về bản chất, nguồn
hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể
huy động được để dưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao
gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
3.1. Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và
phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước
và của xã hội. Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết
kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái
sản xuất xã hội.
3.1.1 . Nguồn vốn nhà nước
8
* Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà
nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các
dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án
của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho
công tác lập và thực hiện các dự án qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hôi
vùng, lãnh thổ, qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
* Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới
và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng
kể trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát
triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn
trực tiếp của nhà nước. Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục
vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu
tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế- xã hội của ngành,
phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Đây được coi là một
lợi thế mà không một phương thức huy động vốn nào có thể làm được.
3.2. Nguồn vốn nước ngoài
3.2.1 . Nguồn vốn ODA
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. ODA có các điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian cho vay dài, khối lượng vốn vay tương đối lớn
và ODA còn có yếu tố không hoàn lại. Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi
này thường đi kèm các điều kiện tương đối khắt khe ( tính hiệu quả của dự án,
thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…)Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp
dẫn này, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không
việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành một gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền
kinh tế.
3.2.2 . Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn
vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng
buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường
10
là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở
ngại không nhỏ đối với các nước nghèo. Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng
thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu và
thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư
phát triển. Tỷ trọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền
kinh tế là lâu dài đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa.
3.2.3 . Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các
nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển. Nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là
việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì
nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng
Để tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, doanh nghiệp cần tiến hành
qua 3 bước: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
trong đó hoạt động xây dựng, lắp đặt nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
4.1.2. Đầu tư mua sắm tài sản cố định cho sản xuất
Một doanh nghiệp muốn sản xuất ra sản phẩm, cần phải có máy móc, thiết bị
để phục vụ cho quá trình sản xuất. Do đó cần tiến hành hoạt động mua sắm tài
sản cố định chứ không thể tự sản xuất ra được. Việc xác định thời gian và sản
lượng mua sắm tài sản cũng phụ thuộc điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
Trong một số trường hợp, hàng hoá mua sắm về mới lập tức đưa vào sử dụng,
một số khác thì được mua sắm ở thị trường sau đó vận chuyển đến doanh nghiệp.
Thông qua việc mua sắm này, doanh nghiệp có thể đảm bảo cho quá trình sản
xuất ra một cách liên tục, giảm một cách hợp lý nhiều khoản chi phí, cho phép
mua nguyên vật liệu một cách hợp lý, kinh tế nhất
4.1.3. Đầu tư sửa chữa lớn tài sản cố định
Sau một thời gian hoạt động, tài sản cố định có thể bị hư hỏng làm ảnh hưởng
đến quá trình sản xuất. Để doanh nghiệp hoạt động bình thường, ta cần đầu tư vào
việc chỉnh sửa, thay thế phụ tùng, thiết bị…Đồng thời do tính thay đổi của khoa
hoc công nghệ cũng như thị trường công nghệ mà nhiều tài sản cố định cần nâng
cấp sao cho phù hợp với công nghệ hiện đại,giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả trong
12
sản xuất kinh doanh cũng như trong công tác quản trị doanh nghiệp. Hiện đại hoá
tài sản cố định liên quan mật thiết đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
nhiều khi nó còn là yếu tố quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp.
4.2. Đầu tư phát triển tài sản vô hình
Cũng như đầu tư vào tài sản cố định hữu hình, đầu tư vào tài sản vô hình
cũng có vai trò quan trọng. Nó là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối
tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
4.2.1. Đầu tư vào tài sản trí tuệ
Có thể hiểu nó bao gồm công nghệ và bí quyết công nghệ. Công nghệ là một
công cụ nhằm biến đổi nguồn lực tự nhiên thành sản phẩm hữu hình. Công nghệ
*Thương hiệu là các dấu hiệu hay một loại dấu hiệu hoặc tổng hợp các dấu
hiệu này gắn với hàng hóa hoặc dịch vụ, là biểu hiện bên ngoài. Dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ của một (hay một nhóm) người này với hàng hoá, dịch vụ
của một (hay một nhóm) người khác.
Hiện nay, trên thị trường có quá nhiều sản phẩm, nhiều công ty do đó xây
dựng cho mình một thương hiệu tức là xây dựng được sự thành công cho doanh
nghiệp. Thương hiệu là phương tiện để cạnh tranh, nó thông báo sự hiện diện của
nó với hàng hoá, dịch vụ cùng loại khác, tạo ấn tượng ban đầu cho người mua.
Đồng thời, thương hiệu định hướng khách hàng, duy trì phát triển khách hàng.
Đa số người tiêu dùng quen mua hàng hoá quen thuộc, một nhãn hiệu uy tín sẽ
chiếm được cảm tình của người mua. Mặt khác, thương hiệu mang lại những lợi
ích nổi bật cho doanh nghiệp, nó đem lại thu nhập lớn hơn so với sản phẩm cùng
loại không có thương hiệu, nó thu hút được vốn đầu tư, có ưu thế trong định giá.
Do đó, để phát triển sản xuất có hiệu quả, doanh nghiệp phải xây dựng cho
mình một thương hiệu vững chắc, tạo hình ảnh đặc biệt trong tâm trí khách hàng.
*Nội dung của đầu tư xây dựng và phát triển thương hiệu:
- Xây dựng thương hiệu:
+ Đầu tư cho sản phẩm: nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo mẫu mã sản
phẩm, bao bì cho sản phẩm.
14
+ Đầu tư cho xúc tiến thương mại: đầu tư cho khâu bán hàng, cho khâu tiếp
thị, quảng cáo
+ Đầu tư nâng cao uy tín cho doanh nghiệp chi cho các hoạt động xã hội, bảo
vệ môi trường…
- Bảo vệ thương hiệu:
+ Đầu tư cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp, kiểm tra, dự báo, định
hướng cho sự phát triển của thương hiệu.
+ Chi cho theo dõi phát triển các hoạt động xâm phạm sở hữu trí tuệ và các
biện pháp xử lý khắc phục khi có vi phạm.
4.2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
được doanh nghiệp chú ý nhưng trong thực tế nó có vai trò khá quan trọng trong
sản xuất. Vì khi người lao động có điều kiện làm việc tốt họ mới yên tâm làm
việc, phát huy hết khả năng của mình trong công việc giúp doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả hơn. Trong đó, tiền lương tăng sẽ khuyến khích người lao động
hăng hái hơn trong công việc, người lao động tăng khả năng chi trả cho các nhu
cầu cuộc sống từ đó có thể yên tâm làm việc. Mặt khác, bảo hộ lao động giúp
người lao động an tâm làm việc tránh được rủi ro trong lao động.
4.2.4. Đầu tư vào tài sản vô hình khác
Đầu tư vào tài sản vô hình khác có thể được hiểu gồm nội dung sau:
- Đầu tư vào quyền sử dụng đất: là toàn bộ chi phí doanh nghiệp chi ra liên
quan đến việc sử dụng đất gồm chi phí thuê, đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí
san lấp, lệ phí trước bạ.
- Chi phí mua các bằng phát minh, sáng chế
- Chi phí thành lập doanh nghiệp gồm: thăm dò, lập dự án, chi phí liên quan
đến khai trương, quảng cáo…
II. Lý luận chung về ngành dệt may Việt Nam
1. Vai trò, đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam
1.1. Vai trò của ngành dệt may Việt Nam
Ngành sản xuất các sản phẩm dệt may ở nước ta là một trong những
ngành nghề có truyền thống lâu đời nhất, gắn liền với quá trình hình thành và
16