Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 200 - Pdf 12

Lời nói đầu
Chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn là
một vấn đề cơ bản, cốt lõi của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của bất
cứ một quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nớc nghèo nhất
thế giới
Chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp, hoá hiện đại hóa, phù hợp với
các yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới là một trong những nội dung cơ bản của đờng nối đổi mới kinh tế đất nớc
do Đại hội lần thứ VII, VIII và IX của Đảng đề ra. Mục tiêu phấn đấu đến năm
2005 ở nớc ta có cơ cấu GDP theo ngành là: Tỷ trọng nông, lâm ng nghiệp
khoảng 20 21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38 39%, tỷ
trong dịch vụ khoảng 41 42%. Để đạt đợc mục tiêu đề ra trên đây, góp phần
thực hiện chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hóa, mỗi nhóm ngành phải đạt tốc độ tăng trởng: Nông
nghiệp 4,8%/năm, công nghiệp 13%/năm, dịch vụ 7,5%/năm. Nhằm tìm kiếm
các phơng hớng và giải pháp cơ bản thực hiện chủ trơng và nhiệm vụ quan trọng
này, đã có nhiều công trình nghiên đợc tiến hành và thử nghiệm trong những
năm vừa qua. Nhiều ấn phẩm khoa học đã đợc xuất bản. Qua các kết quả nghiên
cứu đó, nhiều vấn đề lý luận, quan điểm định hớng đã từng bớc đợc luận giải và
làm sáng tỏ, nhiều chính sách, giải pháp... đã đợc triển khai và áp dụng trong
thực tế. Tuy vậy, chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
phù hợp với các yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu
vực và thế giới là một vấn đề có nội dung phong phú và phức tạp, mục tiêu, yêu
cầu và bớc đi của chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đợc xem xét gắn với mỗi giai
đoạn phát triển của nền kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Việt Nam và đờng hớng phát triển kinh
tế của Đảng và Nhà nớc trong thời gian tới. Vì vậy, em đã chọn viết đề tài: Kế
hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nớc ta thời kỳ 2001 2005 . Mặc
dù đã có cố gắng nhiều trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu đề tài, song đây
là một vấn đề phức tạp, nên chắc chắn đề án không tránh khỏi còn những thiếu
sót. Em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy (cô) giáo, các

b. Cơ cấu ngành kinh tế .
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế hợp thành các tơng
quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành và vị trí, tỷ trọng của
mỗi ngành tổng thể kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ
phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của l-
ợng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trng của các nớc đang
phát triển. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia ngời ta thờng phân
tích theo ba nhóm ngành chính:
- Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ng nghiệp.
- Nhóm ngành công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
- Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thơng mại, bu điện, du lịch...
Nhìn vào thực trạng cơ cấu ngành kinh tế nớc ta hiện nay có thể nhận xét:
nớc ta hiện nay về cơ bản còn đang là một nớc nông nghiệp. Xu hớng có tính
quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghĩa là tỷ trọng và vai trò của ngành công
nghiệp và dịch vụ có xu hớng tăng nhanh, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp
có xu hớng giảm. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, muốn chuyển từ một nền
2
kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bớc:
chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40
60%, công nghiệp từ 10 20%, dịch vụ 10 30% ) sang nền kinh tế công ,
nông ( tỷ trọng ngành nông nghiệp 15 25%, công nghiệp 25 35%,dịch vụ
40 50%), để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển ( tỷ trọng
ngành nông nghiệp dới 10%, công nghiệp 35 40%, dịch vụ 50 60%).
c. Cơ cấu lãnh thổ
Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã
hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại đợc hình thành
chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý.
Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thể
thống nhất và đều là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội. Cơ cấu lãnh

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu ngành kinh
tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phân công lao động xã hội, sự
phát triển của lực lợng sản xuất và các nhu cầu phát triển khác của xã hội.
Sức ép của nhu cầu thị trờng và yêu cầu phát triển kinh tế, đòi hỏi phải
thay đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế còn gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành.
Có một số quan niệm sau đây cần phải quán triệt:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế là sự thay đổi có mục đích, có
định hớng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng
với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành từ
trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn.
b. Đặc điểm
- Chuyển dịch cơ cấu ngành phải đợc coi là điểm cốt tử, một nội dung cơ
bản, lâu dài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu xác định phơng
hớng và giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo có hiệu quả kinh tế xã hội cao
trong sự phát triển. Ngợc lại, sẽ phải trả giá đắt cho những sự phát triển về sau.
- Trong thời đại ngày nay, sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trờng
và tiến bộ khoa học công nghệ, ở tất cả các nớc đều đặt ra vấn đề chuyển dịch
cơ cấu ngành. Riêng ở các nớc đang phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành phải
luôn luôn gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là tạo lập cơ cấu ngành phù
hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Yêu cầu đặt ra là phải
định vị đợc một cơ cấu các ngành kinh tế, xác định hợp lý các ngành, vùng
trọng điểm, mũi nhọn cho phù hợp với mỗi giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụ
thuộc rất nhiều vào khâu quyết định chủ trơng chuyển dịch và tổ chức thực hiện
các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. ở đây, Nhà nớc có vai trò quyết định trong
việc hoạch định chủ trơng và chính sách kinh tế vĩ mô còn các doanh nghiệp thì
có vai trò quyết định việc thực thi phơng hớng, nhiệm vụ chuyển dịch
3. Các đặc điểm của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá để

lý.Trong giai đoạn này, một số yếu tố của cơ chế mới từng bớc đợc hình thành,
song cần có thời gian để củng cố khẳng định, các yếu tố của cơ chế cũ vẫn còn
hiện diện và phát huy vai trò của nó trong nền kinh tế , nhiều yếu tố quản lý ở
tầm chiến lợc còn cha đợc định hình rõ nét. Trong hoàn cảnh đó, có thể và cần
tìm các giải pháp và các bớc đi có tính quá độ để thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đất nớc.
Một điều khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta hiện nay là
trong khi cần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế , sớm hình thành cơ cấu mới
tích cực để hội nhập thì lại thiếu nguồn lực cơ bản cho sự phát triển: thiếu vốn,
trình độ kỹ thuật công nghệ thấp kém, lao động trình độ thấp... Bởi vậy, các khó
khăn bất cập xảy ra thờng xuyên trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu là điều tất
yếu và đòi hỏi chúng ta phải có các giải pháp và điều kiện điều chỉnh thích hợp.
Việt Nam đi vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trùng với
thời điểm thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn về chính trị và kinh tế. Xu
thế hoà bình và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc; toàn
cầu hoá và khu vực hoá đời sống kinh tế đã trở thành một trong những xu thế
phát triển chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học
công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác
giữa các quốc gia làm cho lực lợng sản xuất đợc quốc tế hoá ngày càng cao.
Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành tin học, đã dẫn tới
hình thành mạng lới toàn cầu nh : xa lộ thông tin, thơng mại diện tử. Đặc
điểm này đòi hỏi các nớc phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh
chính sách theo hớng mở cửa. Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập khu vực và
quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế,
5
củng cố an ninh chính trị giữ gìn bản sắc dân tộc. Quán triệt đặc điểm này là
yếu tố quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hớng và có hiệu quả.
II. Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1. Cơ sở lý luận của mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và quá trình
phát triển kinh tế.

Nguyên nhân thứ hai là sự phát triển kinh tế làm cho năng suất lao động nói
chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng đợc tăng lên, do vậy tỷ trọng trong
ngành nông nghiệp có xu hớng giảm.
Tuy tất cả các nớc đều có xu thế chuyển dịch cơ cấu nh nhau, nhng tốc độ
chuyển dịch lại hoàn toàn không giống nhau vì bị chi phối bởi nhiều yếu tố
khác. Quá trình chuyển dịch diễn ra nh thế nào phụ thuộc vào các yếu tố nh quy
6
mô kinh tế, dân số của một quốc gia, các lợi thế về tự nhiên, nhân lực, điều kiện
kinh tế, văn hoá...Không có bất cứ một con đờng sẵn có, một liệu pháp cho tất
cả các nền kinh tế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu. Có hai nhân tố quan
trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, đó là quá trình chuyên môn hoá và
thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật (theo Tomich và Kilby). Quá trình chuyên
môn hoá mở đờng cho việc trang bị kyc thuật hiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp
dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng suất lao động. Chuyên môn hoá cũng
tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới. Điều đó làm cho tỷ trọng các
ngành truyền thống giảm trong khi đó thì tỷ trọng của các ngành dịch vụ kỹ
thuật mới càng đợc tăng trởng nhanh chóng, dần dần chiếm u thế. Chuyển dịch
cơ cấu tạo ra những tiền đề cho sự phát triển và hoàn thiện của các thị trờng yếu
tố sản xuất và ngợc lại, việc hoàn thiện và phát triển của thị trờng đó lại thúc
đẩy quá trình phát triển, tăng trởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình
chuyển dịch cơ cấu. Hai thị trờng lao động và tài chính và hai yếu tố lao động
và vốn có sự liên hệ chặt chẽ với quá trình chuyển dịch cơ cấu. Không thể có
một chính sách chuyển dịch cơ cấu đáng kể nếu không có các điều kiện hỗ trợ
cần thiết về mặt tài chính và nguồn lực con ngời.
b. Khả năng ứng dụng vào Việt nam
2. Kinh tế học thuộc trào lu chính
a. Điểm xuất phát, kế thừa của kinh tế học cổ điển
Kinh tế học thuộc trào lu chính là một trong những trờng phái kinh tế
lớn nhất hiện nay. Nó có cội nguồn từ kinh tế học cổ điển. Vì đối tợng của kinh
tế học thuộc trào lu chính là các nền kinh tế thị trờng phát triển nên về phơng

xã hội đã xuất hiện tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới, kết cấu hạ tầng
sản xuất, nhất là giao thông, đã phát triển. Bắt đầu hình thành những khu vực
đầu tầu có tác động lôi kéo nền kinh tế phát triển .
3/ Giai đoạn cất cánh: Với những dấu hiệu quan trọng nh tỷ lệ đầu t so
với thu nhập quốc dân đạt mức 10%, xuất hiện những ngành công nghiệp chế
biến có tốc độ tăng trởng cao, có những chuyển biến mạnh mẽ trong thể chế xã
hội, thuận lợi cho sự phát triển của khu vực sản xuất hiện đại và kinh tế đối
ngoại.
4/ Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi kinh tế: Là giai đoạn mà tỷ lệ đầu
t trên thu nhập quốc dân đạt mức cao 10- 20% và xuất hiện nhiều cực tăng trởng
mới.
5/ Kỷ nguyên tiêu dùng hành loạt: là giai đoạn kinh tế phát triển cao, sản
xuất đa rạng hoá, thị trờng linh hoạt và có hiện tợng xuy giảm nhịp độ tăng tr-
ởng.
Theo lý thuyết phân kỳ phát triển này, hầu hết các nớc đang phát triển
đang tiến hành công nghiệp hoá hiện nay nằm ở giai đoạn 2 và 3, tuỳ theo mức
độ phát triển của từng nớc. Ngoài những dấu hiệu kinh tế xã hội khác, về
mặt cơ cấu, phải bắt đầu hình thành một số ngành công nghiệp chế biến có khả
năng lôi kéo toàn bộ nền kinh tế tăng trởng. Đồng thời, cùng với sự chuyển tiếp
từ giai đoạn 2 sang 3 là sự thay đổi của những lĩnh vực đóng vai trò đầu tàu.
Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự u tiên phát triển những lĩnh
vực có thể đảm trách vai trò đó qua mỗi giai đoạn phát triển cụ thể.
b. Lý thuyết nhị nguyên
Lý thuyết nhị nguyên do A. Lewis khởi xớng, tiếp cận vấn đề từ đời sống
kinh tế của các nớc đang phát triển. Ông đã có những kiến dải khá cụ thể về
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện nay. Lý
thuyết nhị nguyên cho rằng ở các nền kinh tế này có hai khu vực kinh tế song
song tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và
8
khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại, du nhập từ bên ngoài. Khu vực truyền

xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vậy còn giúp tránh đợc ảnh hởng
tiêu cực của những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độ phụ
thuộc vào nền kinh tế khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiếu
hụt.
- Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là nền
tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thế giới thứ ba
chống lại chủ nghĩa thực dân.
Tuy nhiên, thực tế đã dần dần cho thấy những yếu điểm rất lớn của mô
hình lý thuyết này. ở đây có hai vấn đề đặc biệt cần đợc xem xét lại là:
9
Thứ nhất , việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa nền
kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng
những ngợc với xu hớng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện
đại là khu vực hoá và toàn cầu hoá, mà trong lúc ngăn ngừa những tác động tiêu
cực của thị trờng thế giới, đã bỏ qua những ảnh hởng tích cực do bên ngoài
mang lại.
Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không có đủ khả năng về nhân,
tài, vật lực để có thể thực hiện đợc những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.
Cả hai yếu tố này đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo
hớng công nghiệp hoá gặp khó khăn, bởi lẽ cách tiếp cận vấn đề trên đã làm
phân tán các nguồn lực phát triển rất có hạn của quốc gia.
d. Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các cực tăng
trởng
Ngợc lại với quan điển phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân đối khép
kín nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối cho rằng không
thể và không nhất thiết phải bảo đảm tăng trởng bền vững bằng cách duy trì cơ
cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia, với những luận cứ chủ yếu sau:
- Việc phát triển cơ cấu không cân đối gây nên áp lực, tạo ra sự kích thích
đầu t. Trong mối tơng quan giữa các ngành, nếu cung bằng cầu thì sẽ triệt tiêu

bản và phỏng theo công nghệ chế tạo từ các nớc công nghiệp phát triển. Ngoài
việc nâng cấp và mở rộng một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu, nhìn toàn cục
giai đoạn 2 mang dáng dấp của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
đối với nhiều ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng.
Giai đoạn 3: Là giai đoạn mà những sản phẩm công nghiệp thay thế nhập
ở giai đoạn 2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu. Những sản phẩm đầu t tr-
ớc đây phải nhập giờ đây đã có thể dần dần thay thế bằng nguồn khai thác và
sản xuất trong nớc. Nh vậy, khoảng cách kỹ thuật giữa các nớc đi sau với các n-
ớc công nghiệp phát triển không còn xa cách bao nhiêu. Vì vậy số lợng và quy
mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng. Cơ cấu công nghiệp đã trở nên đa
rạng hơn do có nhiều khả năng về kỹ thuật để lựa chọn và lợi dụng các lợi thế
so sánh so với trớc đây.
Giai đoạn 4: Là giai đoạn việc xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng bắt
đầu giảm xuống, nhờng chỗ cho việc xuất khẩu các loại hàng hoá đầu t vốn đã
bắt đầu phát triển ở giai đoạn 3. Về mặt kỹ thuật, nền công nghiệp đã đạt mức
ngang bằng với các nớc công nghiệp phát triển và chuyển giao một số ngành
sản xuất công nghiệp tiêu dùng sang các nớc kém phát triển hơn.
III. một số mô hình và kinh nghiệm chuyển dịch cơ
cấu ngành ở một số nền kinh tế
1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong một số mô hình công
nghiệp hoá.
a. Mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển
Nhóm nớc công nghiệp hoá kiểu cổ điển đi tiên phong trong cuộc cách
mạng công nghiệp và ngày nay là những nớc công nghiệp phát triển nhất. Đó là
Anh và Pháp, sau đó Mỹ, Đức, Nga và Nhật Bản. Thực ra, những nớc công
nghiệp hoá muộn hơn có nhiều điểm khác biệt so với những nớc công nghiệp
hoá đầu tiên. Song trên những nét khái quát, những điểm tơng đồng về điều
11
kiện, cách thức và trình tự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công
nghiệp hoá vẫn rất đậm nét và nổi trội. Những điều kiện chung của quá trình

ràng buộc quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có những
thay đổi căn bản nên không nhất thiết phải lặp lại mô hình cổ điển. Song, tuyệt
nhiên không phải vì vậy mà có thể tiến hành những bớc đi tuỳ tiện trong việc
chuyển dịch cơ cấu. Sự thay đổi của các điều kiện vừa tạo ra những cơ hội đi
nhanh hơn, lại vừa gây ra những thách thức to lớn hơn. Tuy nhiên, chúng không
làm thay đổi mục tiêu căn bản của công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu. Nó
chỉ có nghĩa rằng dựa trên hình mẫu chuẩn mực cổ điển, điều kiện mới làm
nảy sinh những yếu tố thay thế, cho phép rút ngắn đáng kể quá trình công
nghiệp hoá đã phải kéo dài hàng trăm năm.
b. Mô hình công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
12
Mô hình chuyển dịch cơ cấu ngành kiểu kế hoạch hoá tập trung đợc khởi
đầu ở Liên Xô và sau đó hàng loạt nớc xã hội chủ nghĩa trong những thập niên
sau chiến tranh thế giới thứ II. Sự khác biệt lớn nhất giữa mô hình công nghiệp
hoá XHCN với mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển là thể chế. Việc tập trung
mọi nguồn lực kinh tế vào tay Nhà nớc đã tạo điều kiện cho các nớc theo mô
hình kế hoạch hoá tập trung tiếp cận vấn đề công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ
cấu hoàn toàn khác với mô hình cổ điển. Ngoài ra, quá trình công nghiệp hoá
theo mô hình kế hoạch hoá tập trung còn diễn ra trong những điều kiện bên
trong và bên ngoài rất khác do với kiểu cổ điển.
Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của mô
hình kế hoạch hoá tập trung có những biểu hiện đặc trng là:
1/ Tập trung u tiên cao độ cho sự phát triển công nghiệp nặng ngay trong
giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá .
2/ Các chỉ tiêu hiện vật đợc xem là cơ sở quan trọng nhất của việc duy trì
tính cân đối giữa các ngành của quá trình công nghiệp hoá .
3/ Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc đẩy
nhanh bằng cách áp dụng nhiều biện pháp phi kinh tế .
Từ những điểm trình bày trên, có thể nhận xét rằng, nhìn toàn cục, logic
của tiếp cận vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công

bảo vệ thị trờng nội đại cho sản xuất công nghiệp trong nớc, giúp hình thành
những ngành công nghiệp non trẻ, tiết kiệm ngoại tệ. Liên quan trực tiếp đến
chính sách bảo hộ là hàng rào thuế quan cao và chế độ hạn ngạch nhập
khẩu.
- Chính sách tỷ giá hối đoái: Để khuyến sản xuất và tiêu dùng hàng hoá
nội địa, các chính phủ thờng duy trì tỷ giá hối đoái theo hớng nâng cao giá trị
đồng tiền bản địa nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của hàng ngoại trên thị
trờng nội địa. Chính sách này thờng đợc lý giải là do chất lợng hàng hoá sản
xuất trong nớc thấp nên sức cạnh tranh kém, trong khi cần nâng đỡ để chúng
có thể phát triển đợc. Xét trên phơng diện này, chính sách duy trì tỷ giá hối
đoái cao là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách bảo hộ mậu dịch.
Tóm lại, quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô
hình thay thế nhập khẩu tỏ ra có kết quả trong giai đoạn đầu tiên và đợc áp
dụng rộng rãi. Song, nó đã không chịu đựng nổi thử thách của thời gian. Các
chế độ thay thế nhập khẩu đã đa đến một loạt tác động tơng hỗ mà sau một quá
trình dài làm tăng cờng sự phụ thuộc vào nhập khẩu và trì hoãn những thay đổi
về cơ cấu cần thiết cho sự phát triển tự lực cánh sinh. Chính vì thế, ngay từ
nhiều thập niên về trớc, nó đã bị nghi ngờ. Một mô hình công nghiệp hoá khác,
hớng về xuất khẩu đã thay thế nó.
d. Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu.
Với t cách là mô hình công nghiệp hoá mang những đặc điểm khác với
những chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, chính sách hớng về
xuất khẩu ngày càng đợc biết đến do kết quả tăng trởng kinh tế thần kỳ của
một nhóm ít nớc thực hiện chính sách này. Trong số này, đặc biệt suất sắc là
nhóm Nics Đông á, bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore,
với những đặc điểm là quy mô nhỏ, thị trờng trong nớc không lớn, nghèo tài
nguyên nhng nguồn lao động dồi dào và chất lợng cao. Nhiều nhà kinh tế học,
khi khảo cứu mô hình này, đã kết luận rằng chính những khó khăn trên đã đẩy
các quốc gia này đến chỗ phải lựa chọn con đờng hớng về xuất khẩu. Từ thập
niên 1980, mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu đợc coi là triển vọng

cấp cơ sở hạ tầng kinh tế và pháp lý; xây dựng các khu chế xuát, khuyến khích
đầu t nớc ngoài; trợ giúp đào tạo nhân lực; tổ chức các cơ sở nghiên cứu khoa
học kỹ thuật và khuyến khích áp dụng kỹ thuật công nghệ; cung cấp các thông
tin cần thiết về thị trờng v.v...
Với những chính sách nêu trên, thực tiễn mấy chục năm gần đây cho thấy
rằng những quốc gia đi theo mô hình hớng về xuất khẩu đã đạt đợc tốc độ tăng
trởng kinh tế và thay đổi cơ cấu hết sức nhanh chóng.
2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kỳ công nghiệp
hoá ở một số n ớc
a. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội ở Trung
Quốc
Năm 1949, nhà nớc mới thành lập, nền kinh tế bị ảnh hởng nghiêm trọng
do hậu quả của chiến tranh kéo dài và lạm phát cao. Chính phủ đã định ra
những chính sách nhằm củng cố quyền lực, khôi phục trật tự xã hội và khắc
15
phục tình trạng thất nghiệp và nạn đói. Đến năm 1952, hầu hết những vấn đề
trên đã đợc giải quyết. Sau đó chính phủ quyết định sửa đổi cơ cấu nền kinh tế,
áp dụng mô hình kế hoạch hoá tập trung của Liên Xô. Giảm mức đầu t nớc
ngoài vào nông nghiệp, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tập trung vào xây dựng
công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, phần lớn các trang thiết
bị đợc nhập từ Liên Xô. Từ năm 1957, Trung Quốc đạt mức tăng trởng đáng kể
(5,7% hàng năm). Nhiều chơng trình thử nghiệm của cuộc đại nhẩy vọt
(1958 1960) nh tập thể hoá nông thôn, loại bỏ các hình thức khuyến khích về
tiền lơng, v.v... đã đem lại hậu quả là cuộc xuy thoái đầu những năm 60. Thời
kỳ này cũng là thời kỳ Liên Xô cắt viện trợ và rút chuyên gia về nớc do xảy ra
mối bất hoà giữa hai nớc Xô - Trung. Trung Quốc đã nhấn mạnh chính sách tự
lực tự cờng và giành đầu t lớn cho nông nghiệp. Tiếp ngay sau đó là cuộc cách
mạng văn hoá ( 1966- 1976) và hậu quả của nó đã làm hại nền kinh tế, phá hoại
nền ngoại thơng và gần nh đóng cửa các cơ sở giáo dục đào tạo.
Năm 1975, chính phủ Trung Quốc đã vạch ra một loạt các mục tiêu kinh tế

chẽ giữa các khu vực nhà nớc với các khu vực t nhân.
Từ năm 1963 đến năm 1978, GNP thực tế của Hàn Quốc tăng với tốc độ
hàng năm gần 10%, trong khi đó tốc độ gia tăng dân số giảm xuống còn 1,5%,
tạo ra mức tăng gấp 35 lần về GNP theo đầu ngời ( từ 100 USD năm 1963 đến
3500 USD trong những năm gần đây). Sau những biến động về chính trị trong
nớc và giá cả thế giới, các nhà hoạch định kinh tế Hàn Quốc đã chuyển chiến l-
ợc trọng tâm từ tăng trởng cao sang tăng trởng vững chắc. Những năm 1986-
1988 đợc xem là những năm thành công nhất của Hàn Quốc, do xuất khẩu bùng
nổ nên tăng trởng hàng năm lên tới 15%. Hàn Quốc trở thành một lực lợng quan
trọng trong nền kinh tế thế giới và là một trong những nớc công nghiệp hoá mơí
hùng mạnh trong thế giới thứ ba. Tuy nhiên, cũng có một số chính sách về tài
chính cha đợc đảm bảo, Hàn Quốc phải trả một giá đắt trong khủng hoảng tài
chính vừa qua, và thiệt hại không phải là nhỏ. Để giải quyết có hiệu quả những
mâu thuẫn chính trị đang nổi nên trong nớc và đòi dân chủ ngày càng cao của
dân chúng, chính phủ Hàn Quốc phải có các chính sách và biện pháp thiết thực
nhằm ổn định nền kinh tế vốn xa nay vẫn đợc coi là mạnh có hạng ở khu vực.
c. Chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế ở Đài Loan
Đài Loan là một hòn đảo ở Tây Thái Bình Dơng, có diện tích gần 36 ngàn
Km2 với dân số khoảng 20 triệu ngời. Đài Loan đợc coi là hình mẫu cho các
quốc gia và lãnh thổ đang phát triển bởi sự thành công to lớn trong việc tạo ra
sự tăng trởng kinh tế nhanh và khoảng cách trong thu nhập tơng đối thấp và đợc
coi là một nớc NICs.
Từ một nền kinh tế cực nghèo khó trong những năm 1940, trải qua ba thập
kỷ, Đài Loan trở thành một lãnh thổ công nghiệp hoá. Trọng tâm sản xuất đã
thay đổi từ mặt hàng công nghiệp nhẹ cho xuất khẩu sang hàng công nghiệp
nặng tinh vi và hàng công nghiệp công nghệ tiên tiến, trong thập kỷ 1973-
1982, tổng GDP thực tế tăng trung bình hàng năm 9,5%. Sau cấm vận dầu lửa
năm 1973, Đài Loan đã tìm cách vợt qua tình trạng xuất khẩu công nghiệp trì
trệ bằng cách thực hiện chơng trình ổn định kinh tế thành công. Mời dự án cơ sở
hạ tầng đa ra để khuyến khích hoạt động kinh tế. Những nhà hoạch định chính

khác, góp phần đáng kể tăng trởng kinh tế .
Sau những năm 1981- 1982, các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của
Malaysia giảm giá, làm giảm thu nhập và đầu t. Nhà nớc Malaysia đã tìm cách
kích thích nền kinh tế và đẩy nhanh tăng trởng công nghiệp bằng việc tăng đầu
t vào một số dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng. Chi tiêu chính phủ tăng
bằng cách đi vay nợ nớc ngoài để mau các cổ phần của các công ty nớc ngoài
với mục đích có điều kiện kiểm soát các công ty lớn của nớc ngoài. Do vậy nợ
nớc ngoài của Malaysia tính đến năm 1984 đã tăng tới 15 tỷ đô la. Năm 1985-
1986, do ảnh hởng của giá dầu mỏ và dầu cọ trên thế giới giảm nhanh, sản lợng
GNP theo đầu ngời giảm xuống còn 1600 USD bình quân đầu ngời, thâm hụt
lớn trong ngân sách nhà nớc. Chính phủ đã phải thay đổi một số chính sách nh
bãi bỏ một vài mục tiêu và chỉ tiêu tăng trởng trong kế hoạch lần thứ 5 (1986-
1990), chú trọng hơn về khu vực t nhân, t nhân hoá một số công ty quốc doanh
và chính phủ; công ty vận tải quốc gia và hàng không quốc gia đợc bán một
phần thông qua các nhà đầu t thông qua thị trờng chứng khoán.
Nền kinh tế Malaysia bắt đầu đợc phục hồi từ năm 1987 liên tục đến năm
1989 nhờ sự cải thiện về giá cả hàng hoá và tăng trởng trong sản xuất công
nghiệp. GDP thực tế tăng 4,7% năm 1987, 9,5% năm 1988 và 7,7% năm 1989.
Hàng xuất khẩu chiến hơn 3/4 tăng trởng, dẫn tới cán cân thanh toán d thừa, đầu
t nớc ngoài tăng lên, nợ nớc ngoài giảm.
18

Trích đoạn Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn. Định hớng phát triển cho một số ngành kinh tế cơ bản thời kỳ 2001- Những giải pháp nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của n ớc ta thời kỳ 2001 2005.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status