Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ - Pdf 12

Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Công trình đợc hoàn thành tại
:
Viện vệ sinh dịch tễ trung ơng Ngời hớng dẫn khoa học :
1. PGS. TS. Nguyễn công khẩn

2. TS. Phạm vân thuý

Phản biện 1
: PGs. TS. Nguyễn Thị H

Phản biện 2 :
GS. TS. Phan Thị Kim

Phản biện 3 :
TS. Phạm Thị Hoa Hồng Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp nhà nớc tổ chức
tại:
Vào hồi giờ ngày tháng năm 200
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia.

danh môc ch÷ viÕt t¾t

BS : Bæ sung
C : Chøng
CT : Can thiÖp
CRP : C- Reactive Protein
CS : Céng sù
Hb : Hemoglobin
n : Sè ®èi t−îng nghiªn cøu
NaFeEDTA : Sodium Iron Ethylendiamintetaracetic (S¾t natri EDTA)
SF : Ferritin huyÕt thanh
T : Thêi ®iÓm
T
0
: Tr−íc can thiÖp
T
18
: Can thiÖp 18 th¸ng
T
36
: Ngõng can thiÖp 18 th¸ng
TfR : Transferrin- Receptor
TMTS : ThiÕu m¸u thiÕu s¾t
VAC : V−ên, Ao, Chuång
WHO : World Health Organization (Tæ chøc Y tÕ ThÕ giíi)
YNTK : ý nghÜa thèng kª

1
Mở đầu


phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt rất đợc quan tâm. Những can
thiệp bằng bổ sung sắt vào thực phẩm đã đợc Ngân hàng thế giới nhận
xét nh một trong số những can thiệp vào sức khoẻ có hiệu quả giá
thành nhất. Nớc mắm là một thực phẩm thông dụng ở nhiều nớc trong

2
khu vực Đông Nam Châu á, trong đó có Việt Nam. Những nghiên cứu
ở Việt Nam cho thấy nớc mắm là thực phẩm tiềm năng thuận lợi cho
việc bổ sung sắt, thông qua đó để phòng chống thiếu máu thiếu sắt. ở
Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về hiệu lực của nớc mắm bổ sung
sắt EDTA. Tuy nhiên đó là nghiên cứu có sự giám sát chặt chẽ của
nghiên cứu viên, trong khi cần có một đánh giá can thiệp trong điều
kiện bình thờng không đòi hỏi giám sát. Mặt khác, cần thiết tìm hiểu
và theo dõi hiệu quả dài hạn của việc sử dụng nớc mắm bổ sung sắt để
nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt một cách bền vững, từ đó
khẳng định vai trò của giải pháp này. Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu: Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nớc mắm bổ sung
sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
với các mục tiêu sau:
1. Đánh giá cảm quan nớc mắm bổ sung sắt EDTA.
2. Tìm hiểu về kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành phòng
chống thiếu máu và sử dụng nớc mắm bổ sung sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.
3. Đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt sau 18
tháng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt và tình trạng dinh dỡng sắt sau
18 tháng ngừng can thiệp.
Những đóng góp mới của luận án
1. Đa ra sự thay đổi nồng độ của những chỉ số sinh hoá tại 3 thời điểm
nghiên cứu
2. Đánh giá đợc hiệu quả của nớc mắm bổ sung sắt trong việc
phòng chống thiếu máu thiếu sắt

lợng sắt mất trung bình hàng ngày là 1,25 mg và khoảng 5% chị em
cao hơn 2,4 mg.
1.2. Sắt trong thức ăn và sự hấp thu sắt của cơ thể
Lợng sắt cung cấp qua ăn uống bình thờng mỗi ngày là 15-20
mg trong đó 5-15% đợc hấp thu, lợng hấp thu khoảng 1mg/1kg thể
trọng. Toàn bộ đờng tiêu hoá đều có thể hấp thu sắt, nhng bộ phận
hấp thu chủ yếu là tá tràng và đoạn trên của hỗng tràng.
Trong thức ăn sắt ở dạng hem và không ở dạng hem, trong tế bào,
hem dới tác dụng của enzym ôxy hóa, sắt từ trong vòng porphyrin tách
rời ra, chuyển vào trong máu tuần hoàn. Do vậy, sự hấp thu của sắt hem
thờng không bị ảnh hởng bởi dịch tiết ra trong dạ dày, ruột và độ pH
nên hấp thu khá tốt những chất protein có nguồn gốc từ động vật (thịt,
cá, thịt gia cầm).
Không giống với sự hấp thu sắt hem, sự hấp thu của sắt không hem

4
chịu ảnh hởng của nhân tố thức ăn ở mức độ rất lớn. Quá trình giải
phóng sắt từ thức ăn là một quá trình phức tạp chịu ảnh hởng của kết
cấu thức ăn, sự chế biến thực phẩm, nấu nớng, tác dụng nội bộ của các
nhân tố trong thức ăn, dịch tiết ra ở dạ dày và ruột. Sắt ở trạng thái ion
đợc giải phóng ra trớc khi đợc hấp thu cũng dễ bị sự kết hợp của các
nhân tố trong thức ăn làm khó đợc hấp thu. Sắt không hem chỉ đợc hấp
thu khoảng 3-10% trong khẩu phần hàng ngày. Đối với ba loại thực
phẩm cơ bản là gạo, ngô và mì, sắt chỉ hấp thu đợc từ 1-7%. Trong
trờng hợp thiếu máu, sự hấp thu sắt có thể tăng lên đến 20%. Sự hấp thu
sắt không hem phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong khẩu phần.
1.3. Một số khái niệm về thiếu máu thiếu sắt
1.3.1. Định nghĩa và phân loại thiếu máu
Theo định nghĩa chung đã đợc thừa nhận, thiếu máu xảy ra khi
lợng Hb lu hành của một cá thể thấp hơn so với những ngời khoẻ

Thiếu máu thiếu sắt không chỉ gây ra những ảnh hởng xấu tới sức
khoẻ mà còn để lại những hậu quả xã hội khác.
1.3.4.1. Đối với phụ nữ có thai: trong thời kỳ có thai, ngời mẹ bị
thiếu máu có mức tăng cân thấp, có nguy cơ đẻ non, sẩy thai hoặc đẻ
con nhỏ, yếu có tỷ lệ chết khá cao ngay sau khi đẻ. Những đứa trẻ bị
thiếu máu trong thời kỳ bào thai, khi ra đời sẽ có nguy cơ suy dinh
dỡng và có biểu hiện bị khuyết tật quá trình myelin hoá, làm chậm dẫn
truyền thần kinh dẫn đến chậm phát triển về trí lực.
1.3.4.2. Đối với phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ
Theo ớc tính của Ngân hàng phát triển châu á, số bà mẹ bị tử vong
do thiếu máu chiếm tới 23% trong số các bà mẹ bị tử vong hàng năm.
1.3.4.3. Đối với phát triển của trẻ
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa sắt và sự phát
triển của cơ thể, đặc biệt là sự tăng cân, chiều cao, điểm học tập kém
1.4. Các giải pháp phòng chống thiếu máu thiếu sắt
ở những nớc đang phát triển, chiến lợc thông dụng nhất trong
việc thanh toán thiếu chất dinh dỡng sắt là: giáo dục sức khoẻ, bổ sung
thức ăn giàu chất sắt, bổ sung viên sắt và bổ sung sắt vào thực phẩm,
phòng chống các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng.
1.4.1. Thông tin, giáo dục, truyền thông: muốn bắt đầu với một
chơng trình mới hoặc tiếp sức cho một chơng trình hiện có, các tác
nhân, từ những thành viên cộng đồng đến các nhà kế hoạch về sức khoẻ
cần phải hành động theo những cách thức mới. Cần nâng cao nhận thức
về phòng chống thiếu máu thiếu sắt cho tất cả các cơ quan liên quan,

6
bao gồm các nhà lập chính sách, cán bộ quản lý chơng trình, cán bộ
triển khai, cộng tác viên và đối tợng.
1.4.2. Chơng trình bổ sung viên sắt: theo khuyến cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới và cũng đã có nhiều nghiên cứu đánh giá không chỉ về hiệu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu sắt, thiếu máu thiếu sắt vẫn là
một loại thiếu vi chất dinh dỡng phổ biến nhất trên thế giới ảnh hởng
đến hơn 2 tỷ ngời ở các nớc phát triển, trong đó những đối tợng có
nguy cơ cao nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
1.5.2. Tình hình thiếu máu dinh dỡng ở Việt Nam
Thiếu máu dinh dỡng là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan
trọng ở Việt Nam. Có một số nghiên cứu trớc đây cho thấy tỷ lệ thiếu
máu phổ biến ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, bao gồm cả có thai và không có
thai. ở Việt Nam, cuộc điều tra năm 2000 về chơng trình bổ sung viên
sắt ở 9879 hộ gia đình ở vùng sinh thái tham gia, trong đó có 7135 hộ
gia đình có trẻ em<5 tuổi và mẹ của trẻ đó, 2744 hộ có phụ nữ có thai
đã cho thấy: đối với tỷ lệ thiếu máu chung của cả nớc cho thấy tỷ lệ
phổ biến nhất ở trẻ em<2 tuổi (trên 50%). Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em<5
tuổi là 34,1%, phụ nữ có thai là 32,2%, phụ nữ không có thai 24,3%
trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới là 9,4%.
1.5.3. Tình hình thiếu máu dinh dỡng ở Vơng quốc Campuchia
Tại Vơng quốc Campuchia, thiếu máu cũng đang là một trong
những vấn đề dinh dỡng rộng khắp cả nớc, trở thành gánh nặng đối
với ngành Y tế Campuchia.
Một điều tra tại Campuchia cho thấy trong tổng số 1461 trẻ 6-59
tháng tuổi đợc xét nghiệm, trong đó thiếu máu có tới 63 trờng hợp có
nguy cơ mắc bệnh thiếu máu, tỷ lệ này tơng đơng với mức độ thiếu máu
trong khu vực Nam á. Đối với nhóm trẻ em dới 2 tuổi tỷ lệ thiếu máu
cao hơn, trong đó nhóm nghiên cứu ở độ tuổi từ 10-11 tháng có tỷ lệ bị
thiếu máu cao gần 90%. Nếu xét trên toàn quốc thì tỷ lệ bị thiếu máu cao
nhất là tỉnh Kampong Thum so với những các tỉnh, thành phố khác. Nói
chung trẻ em sống ở vùng sâu vùng xa có tỷ lệ thiếu máu cao hơn so với
những nơi khác. Những đối tợng trẻ em có bố mẹ có trình độ học vấn
khác nhau thì tỷ lệ thiếu máu cũng khác nhau. Tỷ lệ hiện mắc thiếu máu
của đối tợng phụ nữ trong độ tuổi 15-19 cho thấy trung bình tỷ lệ thiếu

tháng 12 năm 2001 đến tháng 6 năm 2003.
- Giai đoạn 2: nghiên cứu đánh giá hiệu quả dài hạn sau 18
tháng ngừng can thiệp đợc tiến hành từ tháng 6 năm 2003 đến tháng
12 năm 2004.
2.4. Chọn cỡ mẫu
2.4.1. Cỡ mẫu

9
* Nghiên cứu cảm quan nớc mắm bổ sung sắt
Đây là nghiên cứu cắt ngang. Cỡ mẫu ớc tính dựa vào khác nhau về
cảm quan giữa hai nhóm nớc mắm. Theo một số nghiên cứu trớc, dự
tính
1
-
2
= 0,4 điểm, với độ tin cậy 95%, Z=1,96, với lực mẫu 90%,
Z=1,28. Độ lệch chuẩn () về sự khác biệt ớc tính 1 điểm. Theo công
thức: n = 2.
2
21
)ZZ(







+
, mỗi nhóm cần 135 đối tợng, tổng số đối

áp dụng công thức tính cho mỗi nhóm
n =
()( )
[]
222
22


ZNe
NZ
+

n: số mẫu cần điều tra
Z: độ tin cậy đòi hỏi 95% (Z=1,96)
: độ lệch chuẩn của nhiệt lợng trung bình ăn vào (300)
N: tổng số ngời của tổng điều tra (194)
e: sai số cho phép khoảng 100 kcal
Ta có :
n =
222
22
300.96,1194.100
194.300.96,1
+
= 30 x 2 = 60, cộng thêm 15% đối tợng bỏ
cuộc. Tổng số đối tợng là 70 cho cả 2 nhóm nghiên cứu.

10
2.4.2. Chọn mẫu nghiên cứu
Chọn 2 xã ngẫu nhiên trong tất cả những xã trong huyện Vụ Bản,


11
Chơng 3
Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả nghiên cứu 1: Đánh giá về cảm quan
Bảng 3.3. Tỷ lệ (%) đối tợng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt
Tỷ lệ <21 điểm
Tỷ lệ 21 điểm
p
Thời gian
bảo quản
n % n %
6 tháng 11 4,0 267 96,0 0,0001
9 tháng 14 5,0 264 95,0 0,0001
12 tháng 142 51,1 136 48,9 0,72
t-test (so sánh giữa hai nhóm)
Sau 9 tháng bảo quản, tỷ lệ ngời tiêu dùng a thích sử dụng nớc
mắm bổ sung sắt là 95%. Sau 12 tháng do mùi và vị của nớc mắm bổ
sung sắt đã có thay đổi rõ rệt nên tỷ lệ ngời tiêu dùng thích sử dụng chỉ
còn 48,9%. Điều này cũng xảy ra đối với nớc mắm bình thờng
(không có sắt) và có tới 23,7% ngời tiêu dùng không thích sử dụng
nớc mắm loại I bảo quản dài ngày sau 12 tháng.
3.2. Kết quả về kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành
Bảng 3.25. Tổng số điểm về kiến thức
Số câu trả lời đúng n Tỷ lệ (%)
2 6 3,1
3 16 8,2
4 32 16,5
5 74 38,1
6 33 17

trả lời đúng từ 5 câu trở lên, trong đó có tới 89,2% đối tợng trả lời đúng 7
câu trở lên.
3.3. Sự thay đổi các chỉ số sinh hoá, thiếu máu thiếu sắt, khẩu phần
ăn tại 3 thời điểm nghiên cứu và một số tơng quan giữa chỉ số sinh
hoá với lợng sắt ăn vào.
Thông qua cuộc điều tra tại 3 thời điểm khác nhau để đánh giá
việc sử dụng nớc mắm bổ sung sắt cho đối tợng phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ không có thai tại 2 xã, Minh Tân và Kim Thái của huyện Vụ
Bản-Nam Định, chúng tôi thấy rằng: tại 3 thời điểm khác nhau thì
lợng khẩu phần ăn, chỉ số sinh hoá cũng thay đổi. 13
3.3.1. Sự thay đổi các chỉ số sinh hoá, thiếu máu thiếu sắt
25,5
20,4
8,2
22,9
19,8
20,8
0
5
10
15
20
25
30
T0 T18 T36
Nhóm can thiệp Nhóm chứng
(%)

(p>0,05).

5.1
17.3
21.4
22.8
26.0
21.9
0
5
10
15
20
25
30
T0 T18 T36
Nhóm can thiệp Nhóm chứng
(%)
Thời
gian

Hình 3.6. Tỷ lệ (%) hụt giảm dự trữ sắt (SF<12 mcg/l) của hai nhóm
tại 3 thời điểm

T
0
T
18
T
36

2
8.2
9.2
9.4
6.3
7.3
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
T0 T18 T36
Nhóm can thiệp Nhóm chứng
(%)
Thời
gianHình 3.7. Tỷ lệ cạn kiệt dự trữ sắt (TfR8,5 mg/l) giữa hai nhóm
tại 3 thời điểm
Hình 3.7 cho thấy, tại thời điểm T
0
và T
36

T
0
T
18
T
36

Chất dinh
dỡng
Nhóm CT Nhóm C Nhóm CT Nhóm C Nhóm CT Nhóm C
Protein (g)
51,514,6 50,513,0 56,415,2 55,213,9 55,413,4 46,314,4
Lipit (g)
24,511,3 21,112,6 22,811,6 20,312,8 26,312,0 22,98,8
Gluxit (g)
313,245,4
304,832,2 296,973,2 322,956,2 312,162,4 311,953,1
Năng lợng
(Kcal)
1608,6511,3 1694,2320,1 1660,3401,3 1797,3432,7 1754,1333,6 1742,1451,6
Ca (mg)
436,0439,8 384,8274,5 1785,02300,5 1558,41511,8 391,4140,8 386,4457,6
P (mg)
803,5797,7 642,6182,5 817,4268,1 804,1245,0 758,5186,7 652,7187,4
Fe (mg)
9,93,6 9,12,9 11,44,4 10,03,2 10,52,7 9,52,9
Caroten
1,51,6 1,51,7 2,93,6 2,92,7 2,33,3 1,52,6
A (mg)
0,20,3 0,10,1 0,31,3 0,31,4 0,20,3 0,10,2

,
83
Hb (g/l)

16
chiều có YNTK với lợng sắt ăn vào, có nghĩa là khi lợng sắt ăn vào
tăng lên thì lợng Hb cũng tăng lên. Tơng quan này đợc biểu thị bằng
phơng trình hồi quy tuyến tính Y=76,49 + 4,66X, r=0,83 (Y là nồng
độ Hb sau 18 tháng can thiệp, X là lợng sắt ăn vào), p<0,001.

Lợng sắt ăn vào
Hình 3.11. Tơng quan giữa nồng độ SF trong huyết thanh
với lợng sắt ăn vào của nhóm can thiệp tại thời điểm T
18

Hình 3.11 cho thấy, ở nhóm can thiệp, nồng độ SF của đối tợng
nghiên cứu trong thời gian can thiệp có mối tơng quan thuận chiều có
YNTK với lợng sắt ăn vào, có nghĩa là khi lợng sắt ăn vào tăng lên thì
lợng SF cũng tăng lên. Tơng quan này đợc biểu thị bằng phơng
trình hồi quy tuyến tính Y=28,22 + 4,62X, r=0,77 (Y là nồng độ SF sau
18 tháng can thiệp, X là lợng sắt ăn vào), p<0,001. Hình 3.12. Tơng quan giữa nồng độ TfR trong huyết thanh với lợng
sắt ăn vào cơ thể của nhóm can thiệp tại thời điểm T
18
.
r = 0,77
SF (mcg/l)
TfR (mg/l)

nhóm can thiệp là 8,2% thấp hơn hẳn so với nhóm chứng 20,8%, sự
khác nhau đó đủ lớn có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Tại thời điểm nghiên cứu T
36
thì tỷ lệ đối tợng có nồng độ Hb<120
mg/l là gần bằng nhau giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng, sự khác
biệt đó là rất nhỏ không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Cũng qua hình 3.5 thấy rằng tỷ lệ đối tợng trong nhóm sử dụng
nớc mắm bổ sung sắt tại 3 thời điểm nghiên cứu đều có sự thay đổi rõ
ràng. Đặc biệt chú ý là tại T
18
tỷ lệ thiếu máu giảm xuống từ 25,5% tại

18
thời điểm T
0
còn 8,2%, (p<0,05). Trong đó tại thời điểm T
36
thì tỷ lệ
thiếu máu lại tăng lên tới 20,4%, sự khác biệt đó có YNTK, (p<0,05).
ắ Hình 3.6 cho thấy, tại 3 thời điểm nghiên cứu, dựa trên ngỡng
lợng SF<12 mcg/l, đối tợng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt tại thời
điểm T
0
có lợng SF<12 mcg/l là 21,4% so với nhóm đối tợng không
sử dụng nớc mắm bổ sung là 21,9% và sự khác biệt đó không có ý
nghĩa thống kê với p>0,05. Trong khi đó tại thời điểm T
18
, đối với
ngỡng SF<12 mcg/l thì đối tợng từng sử dụng nớc mắm bổ sung sắt

thì tỷ lệ thiếu máu trong nhóm đó đã giảm xuống từ lúc ban đầu 50,3%
xuống còn lại 17,5% trong thời gian 6 tháng và tỷ lệ đó xuống còn 8,7%
sau 1 năm sử dụng xì dầu bổ sung sắt. Trong khi đó đối với nhóm chứng

19
(nhóm không sử dụng xì dầu bổ sung sắt) trong độ tuổi từ 19-30 sau
thời gian một năm nghiên cứu thì tỷ lệ thiếu máu chỉ giảm xuống từ
35% xuống còn 31,3% so với lúc ban đầu.
Theo Maria Nieves Garcia-Casal vào năm 1993 đã làm một cuộc
nghiên cứu bổ sung sắt vào ngô cho đối tợng trong những đối tợng
7-15 tuổi cho thấy rằng nhóm sử dụng ngô bổ sung sắt thì những đối
tợng đó có tỷ lệ thiếu máu cũng giảm xuống đáng kể dựa trên nồng
độ Hb từ 19% tại năm 1992 xuống còn 10% vào năm 1994. Cũng nh
nghiên cứu trên, Mayang Sari và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về
việc bổ sung sắt vào kẹo đối với trẻ em 4-6 tuổi tại miền đông Jakata,
Indonesia. Kết quả cho thấy sau 12 tuần sử dụng bánh kẹo bổ sung sắt
thì tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt giảm xuống rõ rệt từ 50,9%
tại thời điểm trớc khi can thiệp xuống còn 8,8% đối với những đối
tợng trong nhóm bổ sung (p<0,05). Trong khi đó tỷ lệ thiếu máu thiếu
sắt trong nhóm chứng chỉ giảm xuống từ 43,3% tại thời điểm ban đầu
xuống còn 26,7% tại tuần thứ 12.
4.2.2. Mối liên quan giữa các chỉ số sinh hoá (Hb, SF, TfR) tại 3 thời
điểm nghiên cứu với lợng sắt ăn vào
Qua phân tích về khẩu phần ăn của các đối tợng nghiên cứu tại 3
thời điểm khác nhau (bảng 3.37), không có biến động nhiều trong thời
gian nghiên cứu, đặc biệt đối với đối tợng trong nhóm can thiệp, lợng
tiêu thụ thực phẩm tại thời điểm can thiệp còn thấp hơn so với 2 thời điểm
còn lại (thời điểm ban đầu và sau 18 tháng ngừng can thiệp).
Nh vậy có thể kết luận đợc rằng sau 18 tháng ngừng sử dụng
nớc mắm bổ sung sắt (T

r=0,77 (Y là nồng độ SF tại thời điểm T
18
, X là lợng sắt ăn vào tại
thời điểm T
18
), p<0,05.
Nồng độ TfR tại thời điểm T
18
khác với nồng độ Hb và SF, nồng độ
TfR giảm xuống rõ rệt so với thời điểm ban đầu. Trong khi đó qua biểu đồ và
phơng trình tuyến tính giữa nồng độ TfR với lợng sắt ăn vào cho thấy, có
mối tơng quan nghịch giữa nồng độ TfR với lợng sắt ăn vào tại thời điểm T
18

của nhóm sử dụng nớc mắm bổ sung sắt. Y= 8,09-0,32X, r=-0,37 (Y là nồng
độ TfR tại thời điểm T
18
, X là lợng sắt ăn vào tại thời điểm T
18
), p<0,05.
4.2.3. Về khẩu phần ăn
Trong nghiên cứu của đề tài cho thấy lợng sắt trong khẩu phần ăn
của nhóm can thiệp là 9,93,6 trong thời điểm T
0
, tại T
18
thì lợng sắt
tăng lên so với lúc ban đầu (11,44,4), nhng sau khi 18 tháng ngừng
sử dụng nớc mắm bổ sung sắt thì lợng sắt giảm xuống so với lợng
sắt trong lúc can thiệp (10,52,7). Nếu so sánh với bảng giới hạn an

cứu của đề tài cũng cho thấy, có sự tăng lên năng lợng trong khẩu phần
ăn tại 3 thời điểm khác nhau trong nhóm đối tợng sử dụng nớc mắm
bổ sung sắt (tại thời điểm ban đầu thì tiêu thụ năng lợng 1608,6511,3,
tại thời T
18
là 1660,3401,3, còn thời điểm T
36
là 1754,1333,6). Vậy
năng lợng tại 3 thời điểm nghiên cứu của đề tài nếu so sánh với tổng
điều tra của Viện Dinh Dỡng năm 2000 đối với đối tợng nông thôn
cho thấy lợng năng lợng tiêu thụ hàng ngày vẫn thấp hơn so với
điều tra trên.
4.2.4. Kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành
Qua kết quả nghiên cứu về kiến thức, cho thấy, sau 18 tháng ngừng
can thiệp đối với hầu hết các nội dung phỏng vấn tìm hiểu về kiến thức
thì các đối tợng có câu trả lời đúng chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó tổng
số đối tợng có câu trả lời trên 5 câu đúng chiếm tỷ lệ tới 72,2%.
Về niềm tin và thực hành: Một trong những mục đích quan trọng
nhất của giáo dục sức khoẻ, xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ nhân dân là
cải thiện hành vi sức khoẻ của từng cá nhân, tập thể và cộng đồng trong
xẫ hội. Qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, sau 18 tháng ngừng
can thiệp thì ở hầu hết cấc đối tợng đều có câu trả lời đúng.
Tóm lại sau 18 tháng ngừng can thiệp thì đại đa số đối tợng trong
nhóm nghiên cứu của đề tài đều có kiến thức, niềm tin và thực hành tốt đối

22
với bệnh thiếu máu thiếu sắt nói chung và trong việc bổ sung sắt nói riêng.

Kết luận
1. Đặc điểm về cảm quan nớc mắm bổ sung sắt sau 6, 9, 12 tháng

36
), tỷ lệ này tăng trở lại là 17,3%.
Tỷ lệ cạn kiệt dự trữ sắt sắt cũng có sự thay đổi theo chiều hớng
tơng tự: từ 9,2% (T
0
) xuống còn 2,0% (T
18
) và tăng trở lại 8,2% (T
36
).
Tóm lại sau khi ngừng can thiệp, tỷ lệ thiếu máu tăng lên trở lại ban
đầu. Điều này cũng thể hiện rõ rệt qua các chỉ tiêu đánh giá dự trữ sắt
(SF) và vận chuyển sắt (TfR) thấy rằng, nếu không đợc sử dụng nớc
mắm bổ sung sắt liên tục, tình trạng giảm dự trữ sắt sẽ xảy ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status