Thực trạng việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 25

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, trong tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, giá trị kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm
gạo chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, nhưng trong thời gian vừa qua giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam trên thế giới luôn biến động thất thường, điều này ảnh hưởng rất
lớn đến thu nhập của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và ảnh hưởng lớn nhất là đến
những người sản xuất lúa gạo của Việt Nam.
Hiện nay các doanh nghiệp, thậm chí cả người nông dân sản xuất nông sản,
trong đó có sản xuất lúa gạo ở các nước phát triển đã sử dụng các hình thức giao
dịch của thị trường giao sau như là một công cụ để phòng ngừa rủi ro biến động giá
nông sản. Nhưng hình thức giao dịch này hiện nay rất ít các doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh lúa gạo của Việt Nam áp dụng.
Đề tài này nghiên cứu về thị trường giao sau và cách thức sử dụng hợp đồng
giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Phân
tích sự biến động đối với giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua,
phân tích thực trạng việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro
biến động giá gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, xác định các nguyên
nhân và từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của Việt
Nam.
2. Mục tiêu của đề tài
Luận giải cơ sở khoa học về thị trường giao sau và cách thức sử dụng các
hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu.
Nghiên cứu sự biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian
vừa qua, từ đó đưa ra kết luận có cần thiết phải phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo
xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam hay
không? Và cách thức, công cụ để phòng ngừa rủi ro này?
Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng các hợp đồng giao sau để phòng ngừa

nghiệp tại các vùng sản xuất lúa gạo lớn. Với lý do đó, chúng tôi chọn mẫu điều tra
là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo tại Thành phố Hồ Chí Minh và
một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
3 4.2. Thu thập số liệu, thông tin cần thiết
Điều tra sơ cấp, từ các doanh nghiệp mà chúng tôi chọn làm mẫu điều tra, để
thu thập các thông tin liên quan đến tác động của biến động giá gạo xuất khẩu đến
thu nhập của doanh nghiệp, việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong lĩnh vực xuất
khẩu gạo tại các doanh nghiệp.
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ nguồn số liệu của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, trên mạng internet.
4.3. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài khẳng định các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt
Nam có thể sử dụng các các hợp đồng giao sau như là một công cụ trong phòng
ngừa rủi ro biến động giá nông sản; đề xuất các giải pháp phát triển thị trường giao
sau gạo của Việt Nam.
Với những nội dung nghiên cứu của đề tài này chúng tôi hy vọng kết qủa
nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lyù Nhà nước
trong việc xây dựng chính sách liên quan đến phát triển thị trường giao sau gạo.
Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam muốn sử dụng các hợp đồng giao
sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo.
6. Kết cấu của luận văn

5

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG GIAO SAU

1.1. Một số khái niệm về hợp đồng và thị trƣờng
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng giao ngay
Hợp đồng giao ngay là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà
việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là hai hoặc ba ngày
làm việc kể từ khi hợp đồng mua bán được ký kết.
1.1.2. Khái niệm về hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà việc
chuyển giao hàng hóa được thực hiện sau một thời hạn nhất định với giá cả đã đồng
ý ngày hôm nay.
1.1.3. Khái niệm về hợp đồng giao sau
Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa đã biết
theo một mức giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao
hàng hóa được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi Sở giao
dịch giao sau.
1.1.4. Khái niệm về thị trường giao sau
Thị trường giao sau là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán giao sau.
1.2. So sánh sự khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn/giao ngay và hợp đồng giao
sau
HỢP ĐỒNG KỲ HẠN/GIAO NGAY HỢP ĐỒNG GIAO SAU
- Người mua và người bán giao dịch
trên cơ sở thỏa thuận cá nhân
- Các điều khoản hợp đồng có thể
thương lượng được

Giá thị trường hình thành công khai và minh bạch: Khi các thông tin về
nguồn cung cầu xuất hiện, người mua và bán sẽ đưa các thông tin này vào trong thị
trường. Khi người mua và người bán đạt đến thỏa thuận thì một giao dịch được thực
hiện và giá thị trường được công bố. Giá cả được hình thành thông qua hệ thống
đấu giá công khai như thế chính là biểu hiện cụ thể của cơ chế giá được hình thành
do các tác động của lực cung và cầu. Thay đổi trong giá giao sau mỗi ngày là sự
đồng thuận của người mua lẫn của người bán vào ngày hôm đó.
Quản lý rủi ro biến động giá: Khả năng bù trừ của hợp đồng giao sau cho
phép những người phòng ngừa rủi ro hòa vốn, có nghĩa là thiệt hại trên thị trường
giao sau sẽ bù bằng lợi nhuận trên thị trường giao ngay. Điều này đã cho phép
những người tham gia vào hợp đồng giao sau quản lý được các rủi ro do những bất
ổn gây ra trong giá cả. Đây là nhân tố chính của hợp đồng giao sau hấp dẫn những
người phòng ngừa rủi ro.
7

Tính thanh khoản: Đây là một chìa khóa cho bất cứ thành công nào của hợp
đồng giao sau. Tất cả thành viên tham gia thị trường đều kỳ vọng các biến động giá
cả là nhẹ nhàng hoặc có thể dự báo được. Điều này cho phép họ dễ dàng gia nhập
hoặc rút lui ra khỏi thị trường với một số lượng lớn các giao dịch. Số lượng các giao
dịch càng lớn nhưng không gây tác động đến giá thì thị trường càng được gọi là “có
tính thanh khoản”.
Tính hiệu quả: Thị trường giao sau tạo khả năng cho tất cả những người tham
gia giao dịch với khối lượng lớn với chi phí giao dịch tương đối thấp. Tính hiệu quả
này thật sự hấp dẫn những người mua và người bán.
Tổng lợi nhuận bằng zero: Giao dịch giao sau thường có tổng lợi nhuận bằng
không, bất cứ lợi nhuận nào của những người tham gia thị trường cũng chính là
khoản lỗ của một người khác trong thị trường. Đối với những người phòng ngừa rủi
ro, điều này không là mối bận tâm vì lợi nhuận hoặc thua lỗ của họ được bù trừ trên
thị trường giao ngay.
Những người phòng ngừa rủi ro: Các nhà quản lý, những người sản xuất và

người phòng ngừa rủi ro sử dụng thị trường giao sau để bù đắp rủi ro về giá trên thị
trường giao ngay. Mối quan hệ này được đo lường bằng basic, đó là chênh lệch giữa
giá giao ngay và giá giao sau có liên quan.
Basic thường không phải là hằng số bất biến. Nhận thức rõ được điều này rất
quan trọng vì nó giúp cho bạn xác định tính hiệu quả của bất kỳ hoạt động phòng
ngừa rủi ro nào. Bạn cần một basic tương đối ổn định hoặc có thể dự đoán được để
đoan chắc rằng lợi nhuận (hoặc thua lỗ) trên thị trường giao sau và thị trường giao
ngay có thể bù đắp lẫn nhau được.
Thị trường giao ngay: Các thị trường địa phương nơi những người mua và
người bán điều chỉnh song phương về số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm và thời
gian giao hàng. Hàng hóa thực sự được trao đổi giữa người mua và người bán.
Thị trường giao sau: Người mua và người bán trao đổi hợp đồng trong đó
có xác định trước về số lượng, chất lượng, địa điểm và thời gian giao hàng cho một
hàng hóa cụ thể. Thị trường giao sau được xem như là một thị trường “giấy” vì
hàng hóa cụ thể ít khi được trao đổi giữa người mua và người bán. Giá giao sau
được dùng như một chuẩn mực cho giá giao ngay.
9

Sự đe dọa về giao nhận hàng: Giá giao ngay và giá giao sau có xu hướng
biến động cùng chiều, mặc dù không luôn luôn cùng một mức độ. Sở dĩ như vậy là
do các cam kết hợp đồng giao sau có thể hoặc là được thực hiện bởi một động tác
giao nhận hàng hóa xảy ra thật sự giữa hai bên hoặc là xảy ra dưới các thanh toán
tiền mặt tiêu biểu cho giá trị lô hàng.
Quá trình giao nhận hàng diễn ra trong suốt tháng giao hàng của hợp đồng
giao sau tại một thời điểm giao hàng cụ thể. Người mua hợp đồng giao sau phải
đồng ý thanh toán và chi trả ngay lập tức cho lô hàng hóa. Các chi phí như chi phí
lưu kho và lãi vay đã được phản ánh hết trong giá giao sau và người mua phải gánh
chịu tất cả các chi phí này.
Nếu như người mua trên thị trường giao ngay chào giá thấp hơn so với giá
giao sau thì người bán hàng trên thị trường giao ngay (người sở hữu hàng hóa) có

Trong mỗi trường hợp, giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ về với nhau
khi thời hạn thanh toán cuối cùng đến gần.
1.4.5. Đóng vị thế một hợp đồng giao sau
Nghĩa vụ của một hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thông qua quá
trình giao hàng hoặc là thông qua bù trừ. Trong trường hợp hợp đồng được thanh
toán bằng tiền mặt, sẽ không có các cuộc giao nhận xảy ra. Trong trường hợp có
giao nhận hàng giữa hai bên, những người tham gia hợp đồng nên làm quen với các
điều kiện giao nhận hàng vốn dĩ luôn luôn thay đổi để đoan chắc rằng việc giao
nhận hàng hóa diễn ra theo ý mình mong muốn. Trong trường hợp thanh toán bù trừ
người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ thực hiện một vị thế bằng nhau nhưng trái
ngược với vị thế giao sau hiện tại.
Nếu bán (1) Giao hàng hóa và chấp nhận thanh toán theo các quy định về
thời hạn và địa điểm giao hàng và (2) Mua một số lượng tự hợp đồng giao sau (bù
trừ vị thế ban đầu).
Nếu mua (1) Nhận hàng hóa và chi trả đầy đủ theo các quy định về thời hạn
và địa điểm giao hàng và (2) Bán lại một số lượng tương tự hợp đồng giao sau (bù
trừ vị thế ban đầu). 11

1.4.6. Cơ chế của phòng ngừa đơn
Phòng ngừa thông qua hợp đồng giao sau cho phép các nhà sản xuất thiết lập
một mức giá cố định. Do bản chất bù trừ của hợp đồng giao sau và hợp đồng giao
ngay, nên bất kỳ khoản lỗ (hoặc lãi) nào trong một thị trường này sẽ được bù trừ
bằng một khoản lãi (hoặc lỗ) trong thị trường khác. Vấn đề quan trọng và cũng là
kết quả cuối cùng của việc tham gia vào một hợp đồng giao sau là nhà sản xuất sẽ
có khả năng chốt lại mức giá cố định cho mình và hiệu ứng cuối cùng đối với nhà
sản xuất như thế nào, sẽ phụ thuộc vào basic.
Phòng ngừa vị thế bán: Giả dụ bây giờ đang là thời điểm ở tháng 2 và nhà

vào $20 khoản lỗ trên thị trường giao sau. Hình 1.2 cho chúng ta nhận diện được cơ
chế này. Hình 1.2. Lỗ vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay
tăng $20.
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[467].
Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau, chúng sẽ xác định
hiệu quả của phòng ngừa trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có được bù
trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông qua hợp
đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động tăng lên hay
giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng chiều hướng
và với cùng một mức độ giống như giá giao sau. Trong ví dụ của chúng ta, basic là
Tháng 2 Tháng 10
440
420
400
Vị thế
bán lỗ
$20
Giao ngay
Vị thế mua
lãi $20
Giao sau
13

một hằng số nên giá xem như đã được cố định là $400, chính vì thế các khoản lãi và
lỗ hoàn toàn bù đắp cho nhau.
Không nên quan tâm đến lợi nhuận ở thị trường giao ngay khi tham gia vào

14

Phòng ngừa vị thế mua: Khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế
mua, kết quả sẽ ở một vị thế trái ngược với người phòng ngừa vị thế bán. Các kết
quả này được thể hiện ở cột thứ ba trên bảng 1.1

Bảng 1.1 Các kết quả phòng ngừa vị thế bán và vị thế mua giao sau
Phòng ngừa vị thế bán Phòng ngừa vị thế mua

Mở cửa giao dịch giao sau Bán giao sau Mua giao sau
Đóng cửa giao dịch giao sau Mua giao sau Bán giao sau
Giao ngay Mua Bán
Sụt giảm trong giá giao sau Lãi Lỗ
Gia tăng trong giá giao sau Lỗ Lãi
Sụt giảm trong giá giao ngay Lỗ Lãi
Gia tăng trong giá giao ngay Lãi Lỗ
Hình 1.4. Phòng ngừa vị thế mua-Giá giao sau giảm $0,35
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[469].
Để cho các bạn dễ hình dung hơn, bây giờ chúng ta hãy lấy ví dụ trường hợp
của một chủ trại chăn nuôi gia súc. Bây giờ là tháng 2 và giá bắp giao sau tháng 9
được giao dịch với giá $3,25/tạ, vì thế giá giao ngay được kỳ vọng trong tháng 9 là
$3,25/tạ. Chủ chăn nuôi gia súc quyết định chốt giá mua vào đối với khẩu phần chi
3,25
2,90
Tháng 2 Tháng 9
Vị thế mua

tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng
một chiều hướng và cùng một mức độ giống như giá giao sau.
16
Hình 1.5. Lỗ vị thế mua giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay
giảm $0,35
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[470].
1.5. Rủi ro basic
1.5.1. Khái niệm
Basic là thước đo nói lên mối quan hệ giữa hợp đồng giao sau và hợp đồng
giao ngay, basic thể hiện chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau. Basic sẽ là
âm khi giá giao ngay thấp hơn giá giao sau hoặc là dương khi giá giao ngay cao hơn
giá giao sau.
1.5.2. Basic cho ngũ cốc và hạt có dầu
Các loại ngũ cốc và hạt có dầu được thu hoạch tại những thời điểm thu hoạch
trong năm và sau đó được lưu trữ lại trong kho quanh năm. Giá giao sau có nghĩa
quan trọng trong việc lưu trữ hạt có dầu và ngũ cốc, chúng có thể tạo ra động cơ để
lưu trữ hàng hóa, hoặc ngược lại không khuyến khích nhà sản xuất lưu trữ hàng hóa
trong kho khi nguồn cung ứng trở nên khan hiếm.
Các diễn biến này được phản ảnh trong chênh lệch giữa giá cả cho các tháng
đáo hạn khác nhau trên hợp đồng giao sau đối với ngũ cốc và hạt có dầu. Mối quan
hệ này được phản ánh trong basic và do đó basic chính là dấu hiệu cho thấy về
những gì mà thị trường sẽ “chi trả” dựa trên các chi phí lưu trữ và chi phí chuyển
giao có thể phát sinh.
3,25
3,00
2,90

Quan hệ giữa chi phí lưu giữ và giá giao sau được xem như là một “điều kiện
cân bằng” cơ bản trên thị trường. Nếu như không có những thay đổi trong quan hệ
cung cầu từ tháng 11 đến tháng 5, các mức giá khác nhau cho các tháng trên thị
trường giao ngay và thị trường giao sau là tương tự như các chi phí lưu giữ. Trong
trường hợp này, sẽ không có các động cơ để lưu giữ hàng hóa và nhà sản xuất
Tháng 12
Tháng 3
Tháng 5
$3,015
$3,06
3,09
Giá giao ngay $3,00
18

không quan tâm nhiều đến việc bán trên thị trường giao ngay hay là nắm giữ hàng
hóa lại trong kho.
Chúng ta có thể nhìn nhận basic giống như một loại “giá cả”, và thông qua
một dạng giá cả đặc biệt này, các bạn có thấy hàm trong đó một tín hiệu để thực
hiện các giao dịch trên thị trường giao sau. Giả dụ rằng một thông tin mới xuất hiện
trên thị trường cho thấy sẽ có một sự khan hiếm về bắp trên thị trường trong tháng
3. Thông tin này lập tức làm cho giá mua giao sau tháng 3 tăng lên $3,08/giạ. Chi
phí lưu giữ vẫn là $0,06 từ tháng 11 tới tháng 3 nhưng chênh lệch trong thị trường
trong tháng 3 giờ đây là $0,08. Basic phản ánh theo thông tin mới phát sinh là -
$0,08 thay vì -$0,06 đã làm cho các thành viên tham gia thị trường có động cơ lưu
giữ bắp lại cho đến tháng 3 thay vì bán chúng ngay trên thị trường giao ngay.
Bằng cách giữ vị thế bán giao sau, nhà sản xuất sẽ cố định giá trong tháng 3
là $3,08/giạ tại Chicago và lưu giữ bắp lại trong kho. Tất nhiên các hành vi tích trữ
bắp từ thị trường giao ngay hiện tại làm cho sức ép trên giá giao ngay tăng lên và
hành vi bán giao sau làm cho giá giao sau giảm xuống. Xu hướng này diễn tiến theo
chiều hướng làm cho chúng quay trở lại mẫu hình chi phí lưu giữ. Nhân tố cơ bản

hạn gần nhất cao hơn giá của tháng sau đó. Những khan hiếm hàng hóa trên thị
trường không khuyến khích các nhà sản xuất lưu giữ hàng hóa tồn kho.
Chi phí chuyển giao: Chi phí chuyển giao được phản ánh trong basic đối với
những thị trường không nằm trong phạm vi của khu vực giao hàng. Nếu chúng như
ta gọi thành phố Saskatoon của Canada, nơi trồng hạt canola, là khu vực cung ứng
hay khu vực thặng dư, thì basic của hạt canola chắc chắn sẽ có mối quan hệ với chi
phí lưu giữ tại khu vực thành phố Saskatoon của Canada. Nhưng điều mà các bạn
dễ thắc mắc là basic tại thành phố Tokyo của Nhật thì sao? Tokyo (nơi có nhu cầu
về hạt canola) được gọi là khu vực có nhu cầu hay khu vực thâm hụt. Để có thể hiểu
rõ cơ chế này, các bạn hãy xem hình 1.8 và 1.9 Hình 1.8. Mẫu hình chi phí chuyển giao tại khu vực thặng dư
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[474].
$
Chi phí lưu giữ
Chi phí chuyển giao
Tháng 10 Tháng 7
Giá giao ngay
ở Saskatoon
Giá giao sau tháng 7
Basic
cuối cùng
20

Mỗi trường hợp ở hình nói trên cho thấy giá giao sau luôn là một hằng số
không đổi.
Giá giao ngay tại Saskatoon trên hình 1.8 tượng trưng cho đường đậm. Basic
ở khu vực thặng dư ở Saskatoon chính là giá gia sau trừ đi hai loại chi phí (1) chi

ngay ở Saskatoon cộng với chi phí chuyển giao. Giá giao ngay ở Tokyo tăng dần
lên khi thị trường tính chi phí lưu giữ (từ tháng 9) và cộng thêm chúng vào giá giao
ngay ở Saskatoon
Basic và sự đe dọa về giao nhận hàng: Các ví dụ sau đây cho thấy sự đe
dọa về giao hàng sẽ hoạt động như thế nào trong trường hợp Basic âm (khu vực
thặng dư) và basic dương (khu vực thâm hụt) cho các hàng hóa lưu kho.
Basic âm: Nếu giá mua giao ngay quá thấp tại điểm giao hàng, nhà sản xuất
sẽ nắm giữ hàng tồn kho và tiến hành bán giao sau. Nếu có nhiều người làm như
thế, sẽ tạo nên sức ép làm giảm giá giao sau. Trong khi đó, việc thiếu vắng những
người bán hàng trên thị trường giao ngay làm cho người mua tăng giá mua lên. Giá
giao ngay và giá giao sau sẽ di chuyển cùng nhau như trong hình 1.10
Basic dương: Nếu giá giao ngay cao hơn tại thời điểm giao hàng, nhà sản
xuất sẽ bán giao ngay hàng hóa của mình và tiến hành mua giao sau. Nếu có nhiều
người làm như thế, sẽ tạo nên sức ép làm giảm giá giao ngay. Trong khi đó, do có
nhiều người mua, nên sẽ làm cho giá giao sau tăng lên. Giá giao ngay và giá giao
sau sẽ di chuyển cùng nhau như trong hình 1.11
Cả hai giao dịch này được hiểu như là kinh doanh mua bán song hành nghĩa
là cùng một lúc những nhà kinh doanh tiến hành mua và bán trên thị trường giao
ngay và giao sau. Những người kinh doanh mua bán song hành tiến hành mua trên
thị trường được định giá thấp và bán trên thị trường được định giá cao. Do sự hội tụ
của giá giao ngay và giá giao sau, những người kinh doanh mua bán song hành làm
cho giá giao ngay và giá giao sau di chuyển theo hướng sao cho chi phí chuyển giao
và chi phí lưu giữ sẽ được phản ánh trong basic-sự hội của giá giao ngay và giao
sau.
Mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá giao sau được hình thành từ sự đe dọa
về giao hàng sẽ hấp dẫn cả hai nhà đầu cơ và những người phòng ngừa rủi ro trên
thị trường giao sau. Nếu nói theo cách hài hước, do những người kinh doanh không
đồng ý mua bán hàng, thị trường giao sau sẽ xuất hiện với nghĩa là một thị trường
22


giảm giá bán giao ngay
Bán giao ngay
23

1.5.3. Biến động của basic
Basic sẽ xác định phòng ngừa rủi ro hiệu quả như thế nào trên thị trường
giao sau đối với nhà sản xuất. Tùy vào phòng ngừa rủi ro là bán giao sau (mua giao
ngay), hoặc mua giao sau (bán giao ngay), mà các tác động lên basic thay đổi khác
nhau. Điều này càng trở nên quan trọng hơn nếu những nhà kinh doanh muốn thoát
khỏi vị thế trước ngày đáo hạn của hợp đồng giao sau, hoặc họ đang rơi vào tình thế
khả năng giao nhận hàng trên hợp đồng giao sau là không thể thực hiện được hoặc
không khả thi.
1.6. Định giá hợp đồng giao sau
1.6.1. Giá trị của một hợp đồng giao sau
Chúng ta ký hiệu v
t
(T) là giá trị của hợp đồng giao sau tại t, f
t
(T) là giá cả
của hợp đồng giao sau tại thời điểm t, hợp đồng này được tạo ra tại thời điểm 0 và
đáo hạn tại thời điểm t, S
t
giá giao ngay tại thời điểm t. Chúng ta đã biết hợp đồng
giao sau được điều chỉnh theo thị trường hàng ngày và giá trị của một hợp đồng
giao sau vào lúc ban đầu khi ký kết bằng zero.
Giá giao sau khi đáo hạn: Ngay tại lúc đáo hạn, giá của hợp đồng giao sau
phải là giá giao ngay. Nói cách khác, nếu bạn tham gia vị thế mua một hợp đồng
giao sau sẽ đến hạn ngay sau đó là bạn đã đồng ý mua một tài sản ngay sau đó, trả
bằng giá giao sau. Điều này giống với giao dịch giao ngay. Như vậy:
f

Giá trị của hợp đồng giao sau chỉ đơn giản là sự thay đổi giá vì thời hạn của
hợp đồng là mở (hoặc nếu nó được mở vào ngày hôm trước), giá cuối cùng thay đổi
do điều chỉnh theo thị trường. Dĩ nhiên là giá trị có thể âm. Nếu chúng ta xem xét
giá trị của hợp đồng giao sau đối với người nắm giữ vị thế bán, đơn giản là chúng ta
thay đổi dấu.
Giá trị của hợp đồng giao sau ngay khi điều chỉnh theo thị trường: Khi một
hợp đồng giao sau điều chỉnh theo thị trường thì sự thay đổi giá cả do điều chỉnh
theo thị trường cuối cùng hoặc nếu hợp đồng được mở suốt trong ngày, thì sự thay
đổi giá do hợp đồng để mở được phân phối cho bên có lợi từ giá biến động và trừ
vào bên giá biến động bất lợi cho họ. Dĩ nhiên điều này là qúa trình điều chỉnh theo
thị trường. Ngay sau khi hợp đồng điều chỉnh theo thị trường, giá của hợp đồng trở
về zero. Như vậy: v
t
(T) = 0 ngay sau khi hợp đồng điều chỉnh theo thị trường.
Nếu giá giao sau vẫn còn ở mức giá thanh toán cuối cùng và các nhà kinh
doanh giao sau sau đó cố gắng bán hợp đồng để giành được giá trị của nó thì sẽ
không có lợi nhuận vì giá trị bằng zero.
Như vậy để tóm lược hai kết quả trên, chúng ta thấy rằng giá trị của hợp
đồng mua giao sau ở bất kỳ thời điểm nào là lợi nhuận được tạo ra khi bán hợp
đồng đi. Do điều chỉnh theo thị trường hàng ngày nên giá trị của một hợp đồng giao
sau trở về zero ngay khi nó được điều chỉnh theo thị trường. Giá trị của người nắm
giữ vị thế bán của hợp đồng giao sau thì ngược lại của người nắm giữ vị thế mua.
Đối với hợp đồng mua giao sau giá trị được tạo ra bằng sự thay đổi giá cả có giá trị
dương còn đối với người bán hợp đồng giao sau giá trị được tạo ra bằng sự thay đổi
giá cả có giá trị âm.
Nếu hợp đồng giao sau đáo hạn tại thời điểm t được ký kết vào thời điểm 0
có giá f
0
(T), giá vào cuối ngày sau đó f
1

(T)
3 f
3
(T) – f
2
(T)
… …
t-2 f
t-2
(T) – f
t-3
(T)
t-1 f
t-1
(T) – f
t-2
(T)
t f
t
(T) – f
t-1
(T) = S
t
– f
t-1
(T)

1.6.2. Giá giao ngay, phần bù rủi ro và chi phí lưu giữ
Gọi S
0

S
0
= E(S
t
) - s - iS
0
(1.4)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status