Luận văn: Thị trường giao sau và cách thức sử dụng hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. - Pdf 11


Luận văn
Thị trường giao sau và cách
thức sử dụng hợp đồng giao sau
trong phòng ngừa rủi ro biến
động giá gạo xuất khẩu của Việt
Nam.

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, trong tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, giá trị kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm
gạo chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, nhưng trong thời gian vừa qua giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam trên thế giới luôn biến động thất thường, điều này ảnh hưởng rất
lớn đến thu nhập của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và ảnh hưởng lớn nhất là đến
những người sản xuất lúa gạo của Việt Nam.
Hiện nay các doanh nghiệp, thậm chí cả người nông dân sản xuất nông sản,
trong đó có sản xuất lúa gạo ở các nước phát triển đã sử dụng các hình thức giao
dịch của thị trường giao sau như là một công cụ để phòng ngừa rủi ro biến động giá
nông sản. Nhưng hình thức giao dịch này hiện nay rất ít các doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh lúa gạo của Việt Nam áp dụng.
Đề tài này nghiên cứu về thị trường giao sau và cách thức sử dụng hợp đồng
giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Phân
tích sự biến động đối với giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua,
phân tích thực trạng việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro

Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu việc biến động giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam và việc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo sử dụng hợp đồng
giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm
1989 đến nay và xu hướng trong tương lai.
Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu về thị trường giao sau và việc ứng dụng
hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo cho các doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Chọn địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho các tỉnh, thành phố nơi có các doanh
nghiệp có điều kiện tiếp cận hợp đồng giao sau thuận lợi nhất, nơi có các doanh
nghiệp tại các vùng sản xuất lúa gạo lớn. Với lý do đó, chúng tôi chọn mẫu điều tra
là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo tại Thành phố Hồ Chí Minh và
một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
3 4.2. Thu thập số liệu, thông tin cần thiết
Điều tra sơ cấp, từ các doanh nghiệp mà chúng tôi chọn làm mẫu điều tra, để
thu thập các thông tin liên quan đến tác động của biến động giá gạo xuất khẩu đến
thu nhập của doanh nghiệp, việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong lĩnh vực xuất
khẩu gạo tại các doanh nghiệp.
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ nguồn số liệu của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, trên mạng internet.
4.3. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG GIAO SAU

1.1. Một số khái niệm về hợp đồng và thị trƣờng
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng giao ngay
Hợp đồng giao ngay là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà
việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là hai hoặc ba ngày
làm việc kể từ khi hợp đồng mua bán được ký kết.
1.1.2. Khái niệm về hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà việc
chuyển giao hàng hóa được thực hiện sau một thời hạn nhất định với giá cả đã đồng
ý ngày hôm nay.
1.1.3. Khái niệm về hợp đồng giao sau
Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa đã biết
theo một mức giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao

giá hàng hoá sẽ thay đổi trước khi mua hoặc bán hàng hoá đó trên thị trường.
Như vậy tham gia thị trường giao sau để đạt được sự bảo vệ đối với thay đổi
giá cả thông qua mua hoặc bán các hợp đồng giao sau của cùng loại và cùng số
lượng hàng hoá để triệt tiêu rủi ro giá cả.
1.3.2. Đầu cơ để kiếm lời
Những người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích đầu cơ để kiếm
lời cố gắng kiếm lợi nhuận từ việc mua hoặc bán các hợp đồng giao sau bằng việc
dự đoán biến động giá cả trong tương lai.
Khi tham gia thị trường giao sau với tư cách là nhà đầu cơ, nhà đầu cơ chấp
nhận rủi ro giá cả và làm tăng thanh khoản của thị trường giao sau.
1.4. Mối quan hệ giữa thị trƣờng giao sau và giao ngay
1.4.1. Đặc tính của hợp đồng giao sau
Giá thị trường hình thành công khai và minh bạch: Khi các thông tin về
nguồn cung cầu xuất hiện, người mua và bán sẽ đưa các thông tin này vào trong thị
trường. Khi người mua và người bán đạt đến thỏa thuận thì một giao dịch được thực
hiện và giá thị trường được công bố. Giá cả được hình thành thông qua hệ thống
đấu giá công khai như thế chính là biểu hiện cụ thể của cơ chế giá được hình thành
do các tác động của lực cung và cầu. Thay đổi trong giá giao sau mỗi ngày là sự
đồng thuận của người mua lẫn của người bán vào ngày hôm đó.
Quản lý rủi ro biến động giá: Khả năng bù trừ của hợp đồng giao sau cho
phép những người phòng ngừa rủi ro hòa vốn, có nghĩa là thiệt hại trên thị trường
giao sau sẽ bù bằng lợi nhuận trên thị trường giao ngay. Điều này đã cho phép
những người tham gia vào hợp đồng giao sau quản lý được các rủi ro do những bất
ổn gây ra trong giá cả. Đây là nhân tố chính của hợp đồng giao sau hấp dẫn những
người phòng ngừa rủi ro.
7

Tính thanh khoản: Đây là một chìa khóa cho bất cứ thành công nào của hợp
đồng giao sau. Tất cả thành viên tham gia thị trường đều kỳ vọng các biến động giá
cả là nhẹ nhàng hoặc có thể dự báo được. Điều này cho phép họ dễ dàng gia nhập

chọn mua hàng hóa thực trên thị trường giao ngay và bán trên thị trường giao sau.
Bởi vì các khoản lãi và thua lỗ trên thị trường giao sau phản chiếu tương tự
những gì xẩy ra trên thị trường giao ngay. Bằng việc thực hiện vị thế ngược lại trên
thị trường giao ngay, những người phòng ngừa có thể giảm thiểu rủi ro về giá.
Những thua lỗ trên thị trường giao ngay được bù đắp bằng lợi nhuận trên thị trường
giao sau và ngược lại.
Tóm lại, nếu bạn là người dự định sẽ mua ngũ cốc sau đó, bạn có thể mua
giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế mua. Các nhà sản xuất ngũ cốc, hạt có
dầu và thịt tươi sống có thể bảo vệ chính họ chống lại những sụt giảm tiềm ẩn trong
giá cả sản phẩm bằng cách bán giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế bán.
1.4.3. Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau
Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau cho phép những
người phòng ngừa rủi ro sử dụng thị trường giao sau để bù đắp rủi ro về giá trên thị
trường giao ngay. Mối quan hệ này được đo lường bằng basic, đó là chênh lệch giữa
giá giao ngay và giá giao sau có liên quan.
Basic thường không phải là hằng số bất biến. Nhận thức rõ được điều này rất
quan trọng vì nó giúp cho bạn xác định tính hiệu quả của bất kỳ hoạt động phòng
ngừa rủi ro nào. Bạn cần một basic tương đối ổn định hoặc có thể dự đoán được để
đoan chắc rằng lợi nhuận (hoặc thua lỗ) trên thị trường giao sau và thị trường giao
ngay có thể bù đắp lẫn nhau được.
Thị trường giao ngay: Các thị trường địa phương nơi những người mua và
người bán điều chỉnh song phương về số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm và thời
gian giao hàng. Hàng hóa thực sự được trao đổi giữa người mua và người bán.
Thị trường giao sau: Người mua và người bán trao đổi hợp đồng trong đó
có xác định trước về số lượng, chất lượng, địa điểm và thời gian giao hàng cho một
hàng hóa cụ thể. Thị trường giao sau được xem như là một thị trường “giấy” vì
hàng hóa cụ thể ít khi được trao đổi giữa người mua và người bán. Giá giao sau
được dùng như một chuẩn mực cho giá giao ngay.
9



doanh chênh lệch (arbitrager) sẽ khiến chúng tiến gần nhau bằng những lỗ lực tìm
kiếm lợi nhuận từ bất kỳ những không ngang giá nào.
1.4.4. Sự hội tụ của giá giao ngay và giá giao sau vào ngày đáo hạn
Trước khi hợp đồng giao sau đáo hạn, nếu giá giao sau cao hơn giá giao
ngay, sẽ khuyến khích mọi người mua hàng trên thị trường giao ngay và đồng thời
tiến hành bán giao sau làm cho giá giao sau giảm. Bằng việc bán lại hợp đồng ngay
bây giờ, người nắm giữ vị thế mua sẽ thu được một khoản tiền lãi. Khoản lãi này sẽ
không còn nữa nếu như họ nắm giữ chúng cho đến khi đáo hạn vì tại thời điểm đáo
hạn giá giao sau bằng với giá giao ngay của tài sản cơ sở. Cùng lúc đó, những người
có nhu cầu mua hàng hóa có thể thấy giá giao ngay quá thấp và tiến hành mua hàng
tạo áp lực tăng giá giao ngay.
Trong mỗi trường hợp, giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ về với nhau
khi thời hạn thanh toán cuối cùng đến gần.
1.4.5. Đóng vị thế một hợp đồng giao sau
Nghĩa vụ của một hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thông qua quá
trình giao hàng hoặc là thông qua bù trừ. Trong trường hợp hợp đồng được thanh
toán bằng tiền mặt, sẽ không có các cuộc giao nhận xảy ra. Trong trường hợp có
giao nhận hàng giữa hai bên, những người tham gia hợp đồng nên làm quen với các
điều kiện giao nhận hàng vốn dĩ luôn luôn thay đổi để đoan chắc rằng việc giao
nhận hàng hóa diễn ra theo ý mình mong muốn. Trong trường hợp thanh toán bù trừ
người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ thực hiện một vị thế bằng nhau nhưng trái
ngược với vị thế giao sau hiện tại.
Nếu bán (1) Giao hàng hóa và chấp nhận thanh toán theo các quy định về
thời hạn và địa điểm giao hàng và (2) Mua một số lượng tự hợp đồng giao sau (bù
trừ vị thế ban đầu).
Nếu mua (1) Nhận hàng hóa và chi trả đầy đủ theo các quy định về thời hạn
và địa điểm giao hàng và (2) Bán lại một số lượng tương tự hợp đồng giao sau (bù
trừ vị thế ban đầu).


Tháng 10
Vị thế bán lỗ
$20
12

bán với giá $420 vào tháng 2. Vào tháng 9, chúng ta giả dụ giá giao sau tháng 10
tăng lên là $440, kết qủa là người bán giao sau lỗ $20 (bán $420 vào tháng 2 và
mua lại $440 vào tháng 9). Hình 1.1 cho chúng ta thấy trường hợp lỗ từ vị thế bán,
do giá giao sau tăng lên $20.
Khía cạnh khác nữa của phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao
ngay. Trong trường hợp này, do basic được giả định là một hằng số không đổi vì thế
giá giao ngay cũng tăng $20, từ $400 lên $420. Lúc bấy giờ nhà sản xuất sẽ bán
hàng hóa trên thị trường giao ngay và thu về $20 lợi nhuận. Kết qủa này bù đắp lại
vào $20 khoản lỗ trên thị trường giao sau. Hình 1.2 cho chúng ta nhận diện được cơ
chế này. Hình 1.2. Lỗ vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay
tăng $20.
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[467].
Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau, chúng sẽ xác định
hiệu quả của phòng ngừa trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có được bù
trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông qua hợp
đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động tăng lên hay
giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng chiều hướng
và với cùng một mức độ giống như giá giao sau. Trong ví dụ của chúng ta, basic là
Tháng 2
Tháng 10
440

Hình 1.3 Lãi vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lỗ giao ngay-Giá giao ngay
giảm $20.
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[468].
440
420
400
Giao ngay
Vị thế mua lỗ
$20
Vị thế bán lãi
$20
Tháng 2
Tháng 10
Giao sau
14

Phòng ngừa vị thế mua: Khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế
mua, kết quả sẽ ở một vị thế trái ngược với người phòng ngừa vị thế bán. Các kết
quả này được thể hiện ở cột thứ ba trên bảng 1.1

Bảng 1.1 Các kết quả phòng ngừa vị thế bán và vị thế mua giao sau
Phòng ngừa vị thế bán Phòng ngừa vị thế mua

Mở cửa giao dịch giao sau Bán giao sau Mua giao sau
Đóng cửa giao dịch giao sau Mua giao sau Bán giao sau
Giao ngay Mua Bán
Sụt giảm trong giá giao sau Lãi Lỗ
Gia tăng trong giá giao sau Lỗ Lãi
Sụt giảm trong giá giao ngay Lỗ Lãi

giao sau giảm nên vị thế mua giao sau đã tạo ra một khoản lỗ $0,35/tạ - mua với giá
$3,25/tạ vào tháng 2 và bán $2,90/tạ vào tháng 9.
Trong giao dịch này, bạn còn phải quan tâm đến một khía cạnh khác nữa của
phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao ngay. Theo đó, do basic được giả
định là một hằng số không đổi vì thế giá giao ngay cũng giảm $0,35/tạ (từ $3,00/tạ
xuống $2,65/tạ). Do giờ đây ông chủ chăn nuôi mua bắp trên thị trường giao ngay ít
hơn $0,35/tạ, nên ông đã bù đắp lại vào $0,35/tạ lỗ trên thị trường giao sau. Hình
1.5 sẽ cho bạn thấy được cơ chế này. Nếu giá bắp tăng lên ông chủ trại chăn nuôi sẽ
phải trả với giá khẩu phần thức ăn cao hơn trên thị trường giao ngay. Tuy nhiên chi
phí chăn nuôi cao hơn này sẽ được bù đắp lại bằng với khoản lãi từ giao dịch giao
sau. Như vậy cho dù bất cứ điều gì xẩy ra đi chăng nữa, chi phí chăn nuôi ròng cũng
chỉ là $3,00/tạ như dự kiến của chủ chăn nuôi.
Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau và chúng sẽ xác định
hiệu quả của phòng ngừa rủi ro trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có
được bù trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông
qua hợp đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động
tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng
một chiều hướng và cùng một mức độ giống như giá giao sau.
16
Hình 1.5. Lỗ vị thế mua giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay
giảm $0,35
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[470].
1.5. Rủi ro basic
1.5.1. Khái niệm
Basic là thước đo nói lên mối quan hệ giữa hợp đồng giao sau và hợp đồng
giao ngay, basic thể hiện chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau. Basic sẽ là

lãi suất là 5% chúng ta có một cơ hội phí là $0,015/giạ tháng để lưu trữ bắp.
Nếu basic bằng với chi phí lưu giữ, giá giao ngay tại Chicago sẽ là $0,015
thấp hơn giá giao sau tháng 12. Mối quan hệ giữa chi phí lưu giữ này là nhân tố cơ
bản trong việc xác định sự khác nhau trong giá cả giữa các tháng giao sau (chênh
lệch giao sau).
Bởi vì hợp đồng bắp giao sau tháng 3 tượng trưng cho các mức giá ba tháng
kể từ sau tháng 11, nên mẫu hình chi phí lưu giữ sẽ được thỏa mãn nếu hợp đồng
giao sau tháng 3 là $0,045/giạ cao hơn tháng 12 (ba tháng nhân cho $0,015/tháng).
Giả dụ rằng mối quan hệ này được tính toán tương tự cho giá giao sau tháng 5,
chúng cũng sẽ là $0,03 cao hơn so với tháng 3. Như vậy, basic cho tháng 3 và tháng
5 là $0,06 và $0,09 thấp hơn giá giao sau. Nếu chúng ta sử dụng giá giao ngay
tháng 11 là $3, các kết quả của giá giao sau được minh họa như hình 1.6 Hình 1.6. Mẫu hình chi phí lưu giữ
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[472].
Quan hệ giữa chi phí lưu giữ và giá giao sau được xem như là một “điều kiện
cân bằng” cơ bản trên thị trường. Nếu như không có những thay đổi trong quan hệ
cung cầu từ tháng 11 đến tháng 5, các mức giá khác nhau cho các tháng trên thị
trường giao ngay và thị trường giao sau là tương tự như các chi phí lưu giữ. Trong
trường hợp này, sẽ không có các động cơ để lưu giữ hàng hóa và nhà sản xuất
Tháng 12
Tháng 3
Tháng 5
$3,015
$3,06
3,09
Giá giao ngay $3,00
18

Tháng 3
$295,00
Tháng 5
$290,00
Tháng 7
$286,00
19

Mẫu hình thị trường nghịch đảo: Ngược với thị trường chi phí lưu giữ là
thị trường “nghịch đảo”. Thị trường nghịch đảo là thị trường mà trong đó giá của
tháng giao sau sau đó sẽ thấp hơn giá của tháng trước đó. Các bạn sẽ thấy điều
tưởng như trái khoáy này trên hình 1.7 nhưng trong thực tế thì mô hình này cũng
không phải là hiếm gì cho lắm. Thường thì trong thực tế mẫu hình chi phí lưu giữ
phổ biến hơn cho những hàng hóa có thời kỳ thu hoạch ngắn và được lưu trữ tồn
kho quanh năm. Trong khi đó, mẫu hình thị trường nghịch đảo thì lại phổ biến hơn
đối với những dạng hàng hóa như là ngũ cốc chẳng hạn, khi mà nguồn cung ứng
thỉnh thoảng lại thấp hơn so với nhu cầu. Nhu cầu cao làm cho giá của tháng đáo
hạn gần nhất cao hơn giá của tháng sau đó. Những khan hiếm hàng hóa trên thị
trường không khuyến khích các nhà sản xuất lưu giữ hàng hóa tồn kho.
Chi phí chuyển giao: Chi phí chuyển giao được phản ánh trong basic đối với
những thị trường không nằm trong phạm vi của khu vực giao hàng. Nếu chúng như
ta gọi thành phố Saskatoon của Canada, nơi trồng hạt canola, là khu vực cung ứng
hay khu vực thặng dư, thì basic của hạt canola chắc chắn sẽ có mối quan hệ với chi
phí lưu giữ tại khu vực thành phố Saskatoon của Canada. Nhưng điều mà các bạn
dễ thắc mắc là basic tại thành phố Tokyo của Nhật thì sao? Tokyo (nơi có nhu cầu
về hạt canola) được gọi là khu vực có nhu cầu hay khu vực thâm hụt. Để có thể hiểu
rõ cơ chế này, các bạn hãy xem hình 1.8 và 1.9 Hình 1.8. Mẫu hình chi phí chuyển giao tại khu vực thặng dư
Hình 1.9. Mẫu hình chi phí chuyển giao tại khu vực thâm hụt
“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,
TP.HCM”[475].
Nhìn vào hình 1.9, các bạn sẽ thấy đối với khu vực thâm hụt tại Tokyo, basic
cuối cùng vào tháng 7 sẽ bằng với chi phí chuyển giao để vận chuyển hạt canola từ
Basic cuối cùng
$
Chi phí
chuyển giao ở Tokyo
Giá giao ngay ở Saskatoon
Tháng 10
Tháng 7
Giá giao ngay ở Tokyo
Giá giao ngay tháng 7
21

Saskatoon tới Tokyo. Trước tháng 7, giá giao ngay ở Tokyo sẽ bằng với giá giao
ngay ở Saskatoon cộng với chi phí chuyển giao. Giá giao ngay ở Tokyo tăng dần
lên khi thị trường tính chi phí lưu giữ (từ tháng 9) và cộng thêm chúng vào giá giao
ngay ở Saskatoon
Basic và sự đe dọa về giao nhận hàng: Các ví dụ sau đây cho thấy sự đe
dọa về giao hàng sẽ hoạt động như thế nào trong trường hợp Basic âm (khu vực
thặng dư) và basic dương (khu vực thâm hụt) cho các hàng hóa lưu kho.
Basic âm: Nếu giá mua giao ngay quá thấp tại điểm giao hàng, nhà sản xuất
sẽ nắm giữ hàng tồn kho và tiến hành bán giao sau. Nếu có nhiều người làm như
thế, sẽ tạo nên sức ép làm giảm giá giao sau. Trong khi đó, việc thiếu vắng những
người bán hàng trên thị trường giao ngay làm cho người mua tăng giá mua lên. Giá
giao ngay và giá giao sau sẽ di chuyển cùng nhau như trong hình 1.10

Bán giao sau
Nhiều người bán làm giảm
giá bán giao sau
Kết quả: giá giao ngay và giá
giao sau tiến lại gần nhau hơn
Ít người bán làm
tăng giá mua
giao ngay
Lưu giữ hàng hóa trên thị trường
GIAO NGAY
GIAO SAU
Lưu giữ hàng hóa trên thị trường
Ít người bán làm
tăng giá mua
giao sau
Kết quả: giá giao
ngay và giá giao sau
tiến lại gần nhau hơn
Nhiều người bán làm
giảm giá bán giao ngay
Bán giao ngay
23

1.5.3. Biến động của basic
Basic sẽ xác định phòng ngừa rủi ro hiệu quả như thế nào trên thị trường
giao sau đối với nhà sản xuất. Tùy vào phòng ngừa rủi ro là bán giao sau (mua giao
ngay), hoặc mua giao sau (bán giao ngay), mà các tác động lên basic thay đổi khác
nhau. Điều này càng trở nên quan trọng hơn nếu những nhà kinh doanh muốn thoát
khỏi vị thế trước ngày đáo hạn của hợp đồng giao sau, hoặc họ đang rơi vào tình thế
khả năng giao nhận hàng trên hợp đồng giao sau là không thể thực hiện được hoặc

ngày và bằng với giá thanh toán của ngày hôm trước. Bây giờ chúng ta hãy cho là
chúng ta đang ở vào cuối ngày nhưng thị trường vẫn chưa đóng cửa. Giá là f
t
(T) còn
giá trị của hợp đồng là bao nhiêu? Nếu bạn bán hợp đồng bạn sẽ lợi f
t
(T) - f
t-1
(T).
Như vậy chúng ta có thể nói giá trị của hợp đồng giao sau là:
v
t
(T) = f
t
(T) - f
t-1
(T) (1.2) trước khi hợp đồng điều chỉnh theo thị trường.
24

Giá trị của hợp đồng giao sau chỉ đơn giản là sự thay đổi giá vì thời hạn của
hợp đồng là mở (hoặc nếu nó được mở vào ngày hôm trước), giá cuối cùng thay đổi
do điều chỉnh theo thị trường. Dĩ nhiên là giá trị có thể âm. Nếu chúng ta xem xét
giá trị của hợp đồng giao sau đối với người nắm giữ vị thế bán, đơn giản là chúng ta
thay đổi dấu.
Giá trị của hợp đồng giao sau ngay khi điều chỉnh theo thị trường: Khi một
hợp đồng giao sau điều chỉnh theo thị trường thì sự thay đổi giá cả do điều chỉnh
theo thị trường cuối cùng hoặc nếu hợp đồng được mở suốt trong ngày, thì sự thay
đổi giá do hợp đồng để mở được phân phối cho bên có lợi từ giá biến động và trừ
vào bên giá biến động bất lợi cho họ. Dĩ nhiên điều này là qúa trình điều chỉnh theo
thị trường. Ngay sau khi hợp đồng điều chỉnh theo thị trường, giá của hợp đồng trở

t-1
(T). Chúng ta thấy rằng các hợp đồng này rõ ràng
có các dòng tiền khác nhau được tóm tắt trong bảng dưới đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status