LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả họat động gia công xuất khẩu của
công ty may Minh Trí Lời mở đầu.
Quá trình toàn cầu hoá quốc tế hoá đang phát triển mạnh mẽ ở khắp các châu
lục, các khu vực trên thế giới, với sự tham gia ngày càng rộng rãi của tất cả các
nước chậm và đang phát triển. Những lợi ích to lớn của hội nhập kinh tế mang lại
cho mỗi quốc gia là rất rõ ràng và khó có thể bác bỏ.
đánh giá thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu hàng dệt may của Công ty
trong thời gian qua, từ đó đưa ra những biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu trực tiếp hàng dệt may của Công ty trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục và danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề
tốt nghiệp gồm các phần sau :
Chương I: Lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gia công xuất
khẩu.
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh gia công xuất khẩu của công ty
May Minh Trí.
Chương III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả gia công xuất khẩu của công
ty May Minh Trí.
Do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết sẽ không thể tránh khỏi những
thiếu sót, kính mong cô và thầy có sự giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn. Và
để hoàn thành bài viết này em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của
cô PGS .TS Nguyễn Thị Hường và thầy Thạc Sỹ Mai Thế Cường đã giúp em hoàn
thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chương I
theo quan điểm này chúng có cùng một mức hiệu quả.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần
tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí ”. Quan điểm này đã
biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí tiêu
hao. Nhưng xét trên quan điểm triết học của chủ nghĩa Marx – Lênin thì sự vật và
hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau chứ
không tồn tại một cách riêng rẽ độc lập. Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá
trình trong đó các yếu tố tăng thêm có quan hệ mật thiết với các yêú tố sẵn có.
Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lam kết quả kinh doanh chỉ được xét tới
phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Quan điểm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh đo được bằng hiệu số giữa
kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Ưu điểm của quan điểm này là
phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế. Nó gắn được kết quả với
toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi
phí. Tuy nhiên, quan điểm này chưa biểu hiện hết được tư tương quanvề lượng và
chất giữa kết quả và chi phí và chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối lieen
hệ này. Để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, chúng ta phải cố định một
trong hia yếu tố hoặc kết quả kinh doanh đạt được hoặc chi phí kinh doanh bỏ ra.
Nhưng theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lênin thì các yếu tố này không ở
trong trạng thái tĩnh mà luôn vận động biến đổi.
Quan điểm thứ tư cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu
quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu
đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp”. Quan điểm này có ưu
điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Song khó khăn ỏ đây là phương tiện
đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó. Đời sống nhân dân nói chung và mức
sống nói riêng rất đa dạng và phong phú. Xác định được mức độ thoả mãn nhu cầu
hay mức độ nâng cao đời sống là điều khó khăn.
ích xã hội.
K
C
K
C
Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét
một cách toàn diện cả về mặt không gian và thời gian trong mối quan hệ chung
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Về mặt thời gian, hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai đoạn không được giảm sút
hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ, chu kỳ kinh doanh tiếp theo tức là đòi hỏi
doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà bỏ đi lợi ích lâu dài. Trong thực
tế điều này rất dễ xảy ra khi con người tiến hành sản xuất kinh doanh, khi con
người khai thác tài nguyên, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn
tuỳ tiện sẽ gây ra thiệt hại lợi ích cho xã hội. Doanh nghiệp không thể coi việc
giảm các chi phí tăng doanh thu là có hiệu quả khi giảm một cách tuỳ tiện thiếu
cân nhắc các chi phí cải tạo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái đầu tư cho
giáo dục, đào tạo…
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của chỉ có thể đạt được một cách toàn diện khi
hoạt động của doanh nghiệp mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến lợi ích chung
của toàn xã hội.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh
2.1. Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh xã hội
Hiệu quả tài chính hay còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả
doanh nghiệp là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính
phán ánh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà
doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả tài chính là mối
quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Biểu hiện chung của hiệu
kinh doanh của nó. Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các
vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?
Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện
cụ thể về tài nguyên trình độ trang thiết bị kỹ thuật trình độ tổ chức quản lý lao
động quản lý kinh doanh. Họ đưa ra thị trường sản phẩm với chi phí cá biệt nhất
định và người nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất. Tuy
vậy khi đưa hàng hoá của mình ra thị trường, họ chỉ có thể bán sản phẩm của mình
theo giá thị trường nếu chất lượng sản phẩm của họ là tương đương. Bởi vì thị
trường chỉ chấp nhận mức hao phí xã hội cần thiết trung bình để sản xuất ra một
đơn vị hàng hoá. Quy luật giá trị đặt tất cả các doanh nghiệp với một mức chi phí
khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua mức giá cả thị trường.
2.3. Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tương đối
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh
doanh cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra.
Hiệu quả tương đối được xác định băng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phương án khác nhau hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả
tuyệt đối của các phương án.
Như vậy hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện
mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Trong hoạt động quản lý kinh doanh thì việc
xác định hiệu quả nhằm mục tiêu cơ bản:
- Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh
doanh.
- Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể đó để lựa chọn phương án tối ưu nhất.
Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ ra chi phí để thực hiện một
phương án quyết định nào đó. Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi
ích cụ thể và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định bỏ tiền ra thực hiện phương án
Chi phí
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả
Công thức (1) cho biết một lượng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu lượng
kết quả.
Công thức (2) cho biết trong lượng kết quả thu được thì phải bỏ ra bao nhiêu
lượng chi phí.
Nhóm chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả
kinh doanh của toàn bộ quá trình kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng của tất cả
các yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả bộ phận là nhóm chỉ tiêu dùng để phân tích hiệu quả
kinh doanh của từng yếu tố, từng hoạt động cụ thể. Các chỉ tiêu bộ phận có hai
chức năng sau:
- Phân tích có tính chất bổ xung cho chỉ tiêu tổng hợp để kiểm tra và khẳng
định rõ hơn kết luận rút ra từ chỉ tiêu tổng hợp.
- Phân tích hiệu quả từng mặt, từng yếu tố đầu vào nhằng tìm biện pháp tối đa
hiệu quả kinh doanh tổng hợp.
(1
)
(2
)
Mối quan hệ giữa hai nhóm chỉ tiêu này không phải chỉ là mối quan hệ cùng
chiều mà có khi còn là mối quan hệ ngược chiều, trong lúc chỉ tiêu tổng hợp tăng
lên thì có thể có các chỉ tiêu bộ phận tăng lên hoặc giảm đi không đổi. Như vậy
Chi phí kinh doanh là toàn bộ các chi phí bỏ ra cho hoạt động kinh doanh bao
gồm chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật chất khác cho quá trình sản xuất
như: chi phí nguyên vật liệu, công cụ lao động nhỏ, điện, nước, chất đốt…, chi phí
dịch vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
3.2. Nhóm chỉ tiêu hiệu qủa bộ phận
Lợi nhuận
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Vốn cố định
ý nghĩa: chỉ tiêu cho biết số tiền lãi trên một đồng vốn cố định
Lợi nhuận
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động =
Vốn lưu động
ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ ra thì sẽ tạo ra được
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận
Mức sinh lời của một lao động =
Số lao động
ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết một lao động sử dụng trong doanh nghiệp sẽ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh thu
Số vòng luân chuyển của vốn lưu động =
Vốn lưu động
ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động sẽ quay được bao nhiêu vòng
ứng sẽ góp phần quan trọng trong vận hành có hiêụ quả yếu tố vật chất trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu lao động: nếu doanh nghiệp có cơ cấu lao động hợp lý phù hợp trước
hết góp phần vào sử dụng có hiệu quả bản thân các yếu tố lao động trong qúa trình
sản xuất kinh doanh, mặt khá góp phần tạo lập và thường xuyên điều chỉnh mối
quan hệ tỷ lệ hợp lý thích hợp giữa các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
ý thức, tinh thần, trách nhiệm, kỷ luật của người lao động: Đây là yếu tố cơ
bản quan trọng để phát huy nguồn lao động trong kinh doanh. Vì vậy chúng ta chỉ
có thể đạt được hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp chừng nào chúng tạo
được đội ngũ lao động có kỷ luật có kỹ thuật có năng suất cao.
4.1.2. Mức độ hiện đại và đồng bộ của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng
tiến bộ khoa học lỹ thuật
Nhân tố này tác động vào hiệu quả kinh doanh theo các hướng sau:
Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật tạo ra cơ hội để nắm bắt thông tin
trong quá trình hoạch định kinh doanh cũng như trong quá trình điều chỉnh, định
hướng lại hoặc chuyển hướng kinh doanh.
Kỹ thuật và công nghệ sẽ tác động đến việc tiết kiệm chi phí vật chất trong
quá trình kinh doanh làm cho chúng ta sử dụng một cách hợp lý tiết kiệm chi phí
vật chất trong quá trình kinh doanh.
Cơ cấu vật chất và ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ tạo ra ngành
nghề kinh doanh mới.
4.1.3. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp
Thông tin ngày nay được gọi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh và
nền kinh tế thị trường là kinh tế thông tin hàng hoá. Để kinh doanh thành công
trong điều kiện cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng phát triển, các doanh
nghiệp cần có thông tin chính xác về thị trường, người mua, người bán, đối thủ
cạnh tranh, tình hình cung – cầu hàng hoá, giá cả … Không những thế, doanh
nghiệp phải chú ý hai nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lượng
cao.
- Dìu dắt tập thể dưới quyền hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững
trắc ổn định
ở bất kỳ doanh nghiệp nào hiệu quả kinh doanh đều phụ thuộc lớn vào cơ cấu
tổ chức bộ máy quản trị nhận thức hiểu biết, trình độ đội ngũ các nhà quản trị, khả
năng xác định mục tiêu và phương hướng kinh doanh của những nhà lãnh đạo
doanh nghiệp.
4.2 . Các nhân tố khách quan
Bất cứ doanh nghiệp nào trong lĩnh vực nào dù là với bất kỳ mô hình kinh
doanh dù là lớn hay là nhỏ suy cho cung nó chỉ là một trong các phần tử cấu thành
nền kinh tế quốc dân hay trên phương diẹen rộng hơn trong hoàn cảnh quốc tế hoá
đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới thì coi là một bộ phận cấu thành của nền
kinh tế thế giới. Do đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng
rất lớn từ môi trường bên ngoài. Đó là tổng họp các nhân tố khách quan tác động
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cụ thể là tác động đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. ở đây chúng ta đi xem xét một số nhân tố chủ yếu
sau;
4.2.1. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Môi trường pháp lý lành mạnh sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành
hoạt động kinh doanh thuận lợi và ngược lại nếu môi trường pháp lý không ổn
định sẽ gây cho doanh nghiệp nhiều khó khăn, trở ngại và những rủi ro trong kinh
doanh của mình. Môi trường pháp lý gồm hai hệ thống các văn bản pháp luật do
nhà nước đặt ra thể hiện vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế và các
thông lệ và luật quốc tế đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ví dụ như chủ
tiêu dùng giảm thị trường của doanh nghiệp bị thu hẹp sản xuất trì trệ hàng sản
xuất ra không tiêu dùng được.
Lạm phát cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống kinh tế
của đất nước nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Tốc
độ lạm phát của đất nước được kìm chế thấp và ổn định sẽ làm cho giá trị đồng
tiền trong nước ổn định các doanh nghiệp sẽ yên tâm sản xuất kinh doanh và đầu
tư mở rộng sản xuất. Mặt khác giá trị của đồng tiền trong nước ổn định cũng là cơ
sở quan trọng để đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh cảu doanh nghiệp. ngược
lại nếu tốc độ lạm phát cao sẽ làm cho người ta mất lòng tin vào đồng nội tệ và
người ta không dám đầu tư vào sản xuất và tìm cách thoát li khỏi đồng tiền nội tệ
bằng cách mua ngoại tệ mạnh và mua những tài sản có giá trị khác như vàng bạc
đá quý …
Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước cũng tác động lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết các chính sách kinh tế của nhà nước thể
hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế quốc dân. Nếu chính sách kinh tế
của nhà nước đưa ra là phù hợp với các điều kiện thực tế thì sẽ góp phần thúc đẩy
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
II. Gia công và hiệu quả gia công xuất khẩu
1. Khái niệm gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức khá phổ biến trong hoạt động ngoại thương
của một nước trên thế giới. Muốn hiểu rõ khái niệm gia công quốc tế ta sẽ tiếp cận
từ khái niệm về gia công:
Thứ nhất: Gia công là một phương thức sản xuất trong đó người đặt gia công
sẽ cung cấp toàn bộ tư liệu sản xuất cùng nguyên liệu và nhận về sản phẩm hoàn
chỉnh, người nhận gia công sẽ sản xuất ra sản phẩm theo mẫu, giao sản phẩm đó
cho người đặt gia công và nhận tiền công theo số lượng sản phẩm làm ra.
Thứ hai: Gia công là một trong những phương thức sản xuất hàng hoá trong đó
2. Phân loại hoạt động gia công
2.1. Phân loại theo quyền sở hữu nguyên, vật liệu:
Xét theo quyền sở hữu nguyên vật liệu gia công quốc tế có thể tiến hành theo
các hình thức sau đây:
Hình thức nhận nguyên phụ liệu giao thành phẩm hay còn gọi hình thức
gia công đơn thuần (Không có sự chuyển giao quyền sở hữu nguyên vật liệu).
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công
và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Quyền
sở hữu nguyên vật liệu thuộc về bên đặt gia công trong suốt thời gian sản xuất.
Bên nhận gia công nhận nguyên vật liệu và tiến hành tổ chức gia công. Trong quá
trình này, bên đặt gia công có thể chuyển giao máy móc thiết bị và cử chuyên gia
sang cùng phối hợp thực hiện quá trình gia công. Bên nhận gia công có thể mua
nguyên phụ liệu nếu được sự đồng ý của bên đặt gia công và sẽ được thanh toán
hợp lý khi kết thúc quá trình gia công.
Trong suốt quá trình gia công, bên đặt gia công lo tiêu thụ sản phẩm của mình.
Bên nhận gia công có lợi là không phải bỏ tiền mua nguyên vật liệu, nếu biết sử
dụng một cách tiết kiệm so với định mức tiêu hao nguyên vật liệu thì được hưởng
phần nguyên vật liệu dôi ra đó. Tuy nhiên bên nhận gia công sẽ bị phụ thuộc nhiều
vào bên đặt gia công về tiến độ giao nguyên vật liệu, dễ bị động trong tổ chức sản
xuất, tiền phí gia công thường thấp do bị ép giá dẫn đến hiệu quả kinh tế không
cao.
Hình thức mua nguyên liệu - bán thành phẩm (Mua NL bán TP).
Trong trường hợp này, quyền sở hữu nguyên vật liệu được chuyển từ bên đặt
gia công sang bên nhận gia công. Bên đặt gia công sẽ bán đứt nguyên vật liệu hoặc
chỉ định thị trường mua cho bên nhận gia công, sau một thời gian sản xuất sẽ mua
lại toàn bộ thành phẩm.
ở hình thức này, bên đặt gia công không phải chịu chi phí ứng trước về nguyên
vật liệu, ít chịu rủi ro trong quá trình sản xuất. Còn bên nhận gia công có thể chủ
động đưa thêm một số nguyên vật liệu phụ sẵn có trong nước để giảm chi phí sản
hoàn chỉnh từ đầu đến cuối một sản phẩm, sau đó đóng gói và chuyển giao cho bên
đặt gia công, tuỳ thuộc thoả thuận trong hợp đồng gia công.
2.4. Phân loại theo số bên tham gia quan hệ gia công.
Xét về số bên tham gia quan hệ gia công ta có hai loại gia công sau đây:
Gia công hai bên: trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia
công.
Gia công nhiều bên: còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận
gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối
tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một.
3. Các nội dung cơ bản của hoạt động gia công hàng may mặc
Quan hệ gia công được thể hiện dưới hình thức hợp đồng giữa hai bên. Hợp
đồng gia công được thực hiện là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia
công thực hiện một công việc nào đó để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt
gia công, còn bên đặt gia công nhận thành phẩm và trả tiền công.
Chính vì vậy, nội dung của hợp đồng gia công hàng xuất khẩu ở Việt Nam phải
tuân thủ theo các quy định chung về hợp đồng dân sự.
Hợp đồng gia công là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công
thực hiện một công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đật gia công, còn
bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền.
Nội dung gia công trong thương mại gồm sản xuất, chế biến, chế tác, sửa chữa,
tái chế, lắp ráp, phân loại, đóng gói hàng hoá theo yêu cầu và bằng nguyên vật liệu
của bên đặt gia công.
Đối tượng của hợp đồng gia công là vật được xác định trước theo mẫu hay theo
tiêu chuẩn mà các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định.
Nghĩa vụ của bên đặt gia công: giao toàn bộ hoặc một phần nguyên vật tư gia
công theo thoả thuận tại hợp đồng gia công. Nhận và đưa khỏi Việt Nam toàn bộ
sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc mượn; nguyên liệu, phụ liệu
lại cho bên đặt gia công sau khi hoàn thành hợp đồng.
Quyền của bên nhận gia công: yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu
đúng chất lượng, số lượng, thời hạn và địa điểm đã thoả thuận. Từ chối sự chỉ dẫn
không hợp lý của bên đặt gia công nếu thấy chỉ dẫn có thể làm giảm chất lượng
sản phẩm nhưng phải báo ngay cho bên đặt gia công. Yêu cầu bên đặt gia công trả
đủ tiền công theo đúng thời hạn và phương thức đã thoả thuận.
Trách nhiệm chịu rủi ro: cho đến khi giao sản phẩm cho bên đặt gia công
người nào là chủ sở hữu của nguyên vật liệu thì phải chịu rủi ro đối với nguyên vật
liệu sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu đó trừ trường hợp thoả thuận khác.
Khi bên gia công chậm giao sản phẩm mà có rủi ro đối với tài sản gia công thì
phải bồi thường thiệt hại cho bên đặt gia công.
Điều kiện giao, nhận sản phẩm: bên nhận gia công phải giao sản phẩm và bên
đặt gia công phải nhận sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thoả thuận.
Trường hợp chậm giao chậm nhận sản phẩm gia công:
Trong trường hợp bên nhận gia công chậm giao sản phẩm thì bên đặt gia công
có thể gia hạn, nếu hết thời hạn đó mà bên nhận gia công vẫn chưa hoàn thành
công việc thì bên đặt gia công có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng
và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì bên đặt gia công
có thể gửi sản phẩm đó lại nơi nhận gửi và phải báo ngay cho bên nhận gia công.
Nghĩa vụ giao sản phẩm hoàn thành, khi đáp ứng được các điều kiện đã thoả thuận
và bên đặt gia công đã được thông báo. bên đặt gia công phải chịu mọi chi phí phát
sinh từ việc gửi giữ.
Trách nhiệm của các bên do đơn phương đình chỉ hợp đồng: Mỗi bên đều có
quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng gia công nếu việc thực hiện hợp
đồng không mang lại lợi ích cho mình trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác, nhưng phải báo cho bên kia biết trước một thời gian
Điều khoản về thanh toán: khi đã ký kết hợp đồng, người nhận gia công hàng
may mặc xuất khẩu với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng.
Đây là công việc phức tạp, đòi hỏi phải hiểu rõ luật lệ quốc gia và quốc tế đồng
thời phải bảo đảm được quyền lợi của quốc gia cũng như uy tín của đơn vị. Người
nhận gia công phải sắp xếp từng phần việc của đơn vị tham gia gia công một cách
hợp lý đảm bảo tiết kiệm được nguyên vật liệu, giảm chi phí vận chuyển tạo được
hiệu quả cao trong hoạt động gia công.
Hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu ở nước ta hiện nay đang phát
triển. Tuy nhiên công tác này đang là vấn đề mới, do đó đòi hỏi các đơn vị tham
gia phải tiến hành tốt các nội dung thực hiện hợp đồng của mình.
Đơn vị nhận gia công trước hết phải thực hiện hợp đồng nhập khẩu, hợp đồng
này phải được tiến hành theo trình tự nhất định: Mở L/C, xin giấy phép nhập khẩu,
làm thủ tục Hải quan, mua bảo hiểm, nộp thuế nhập khẩu, kiểm tra hàng hoá và
nguyên vật liệu, giám định kiểm dịch. Sau đó giao nguyên vật liệu hàng hoá về
đơn vị để tiến hành gia công. Ngoài ra còn tiến hành làm thủ tục thanh toán, khiếu
nại về hàng hoá thiếu hụt hoặc tổn thất.
Sau khi hoàn tất hoạt động gia công, bên nhận gia công phải tiến hành giao
hàng cho bên đặt gia công. Công việc này gồm các khâu như: Giục mở và kiểm tra
L/C, xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, thuê tàu hoặc uỷ thác thuê tàu,
kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục Hải quan, nộp thuế xuất khẩu,
giao hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán, khiếu nại và giải quyết
khiếu nại (nếu có).
Tổ chức gia công hàng may mặc xuất khẩu.
Để hoạt động gia công hàng may mặc có hiệu quả thì khâu tổ chức là khâu
quan trọng để quyết định toàn bộ quá trình gia công. Tổ chức gia công hợp lý sẽ
nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, tiết kiệm được
nguyên vật liệu giảm giá thành ngay trong khâu đầu của quá trình gia công, đặc