1
Luận văn
Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh tại
Công ty Lương Thực cấp I
Lương Yên
2
LỜI MỞ ĐẦU
Lương thực và an ninh lương thực là vấn đề tối quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam – một nước đang phát triển và đang lấy
việc kinh doanh lương thực và nông sản phẩm làm điểm mạnh để gia tăng thu
nhập cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với đó các công ty lương thực cũng
đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình bình ổn và kinh doanh lương
thực ở nước ta. Các công ty lương thực hiện nay tồn tại dưới nhiều hình thức
khá đa dạng và phong phú, như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà
nước, các hợp tác xã, xí nghiệp sản xuất…với quy mô lớn nhỏ khác nhau.
Công ty Lương Thực cấp I Lương Yên là một doanh nghiệp Nhà nước
với chức năng chủ yếu sản xuất kinh doanh các loại lương thực. Đây là một
doanh nghiệp có tuổi đời gần 45 năm, trải qua những năm chiến tranh ác liệt
luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cung cấp lương thực thực phẩm cho bộ
đội, cán bộ công nhân viên trên địa bàn Hà nội cũng như các địa bàn khác trên
toàn đất nước.
Chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty này đã bị chững lại và có phần
giảm sút hiệu quả trên một số lĩnh vực kinh doanh, thậm chí có một số đơn vị
4NỘI DUNG
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
I. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ KINH DOANH
1. Khái niệm
Ngày nay khi đề cập đến hiệu quả người ta vẫn chưa có một khái niệm
thống nhất. Bởi vì, ở mỗi lĩnh vực, mỗi giác độ khác nhau người ta có những
cách nhìn khác nhau về hiệu quả. Và thông thường khi nói đến hiệu quả kinh
doanh nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó sau tên của hiệu quả,
ví dụ như: hiệu quả thương mại, hiệu quả đầu tư tài sản cố định, hiệu quả sử
mật thiết với nhau. Nếu trong những biểu hiện về định tính nhằm đạt được các
mục tiêu về xã hội- chính trị thì trong những biểu hiện của định lượng lại
nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế.
- Nhìn ở góc độ vi mô, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế
đạt được biểu hiện qua phạm trù hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là
một chỉ tiêu phản ánh đầy đủ các mặt của một quá trình kinh doanh của một
doanh nghiệp. Cụ thể là:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh đầy đủ những
lợi ích đạt đựơc từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở so
sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Dưới góc độ này thì chúng ta có thể xác định được
một cách cụ thể và từ đó có thể tính toán so sánh được.
Một cách hiểu khác dưới góc độ này là phạm trù hiệu quả kinh doanh là
một phạm trù cụ thể, nó đồng nhất và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận,
doanh thu, thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra nó còn
biểu hiện mức độ phát triển của doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình
độ khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh doanh. Đến lúc này phạm trù kinh doanh là một phạm trù trừu tượng.
6
Nói một cách khác ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản
ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Tuy nhiên khi xem xét bản chất của hiệu quả kinh doanh phải xem xét
chúng trong mối quan hệ với kết quả kinh doanh. Dựa trên kết quả của hoạt
động kinh doanh mới có thể xác định được hiệu quả kinh doanh.
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh là một việc phức tạp vì bản thân kết
quả kinh doanh và chi phí kinh doanh nhiều khi không được phản ánh chính
xác. Chi phí và kết quả không được tính toán một cách chính xác là do không
được tính toán bằng các đơn vị thông thường (như uy tín, chi phí vô hình, ).
Và một đặc điểm rất quan trọng của hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức
nhu cầu lớn, tạo nên lợi thế so sánh của các công ty. Chi phí tạo lập uy tín
cho doanh nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
ở cả ngắn hạn và dài hạn. Chính vì những lý do trên mà việc xác định hiệu
quả kinh doanh nói chung và chi phí kinh doanh nói riêng đòi hỏi phải tính tới
cả chi phí vô hình, như vậy mới đảm bảo được tính chính xác của việc tính
toán kết quả kinh doanh.
Cũng chính việc xác định hiệu quả kinh doanh và chi phí kinh doanh
khó khăn như vậy nên dẫn tới một đặc điểm của hiệu quả kinh doanh là hiệu
quả ngắn hạn và hiệu qủa dài hạn chưa chắc đã phù hợp với nhau, nhiều khi
mâu thuẫn nhau. Hiệu quả ngắn hạn tốt nhưng hiệu quả dài hạn chưa chắc đã
tốt và ngược lại. Chẳng hạn doanh nghiệp chú trọng hiệu quả ngắn hạn chạy
theo phi vụ làm ăn mà bỏ qua thị trường, mất bạn hàng, khách hàng nên đem
lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp trong dài hạn.
Nói tóm lại ở tầm vi mô, hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các
mặt của quá trình kinh doanh: kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố
đầu vào Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện các mức độ
có chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng tạo đà cho việc
tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản đánh giá việc thực hiện mục tiêu của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
8
2. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
2.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp là tập hợp các nhân tố mà doanh
nghiệp có thể kiểm soát được cũng như có thể điều chỉnh được ảnh hưởng của
chúng. Tập hợp các nhân tố này bao gồm: lực lượng lao động, trình độ phát
triển kinh tế kỹ thuật, nhân tố quản trị doanh nghiệp, hệ thống trao đổi xử lý
thông tin Tuỳ theo mỗi doanh nghiệp và loại hình kinh doanh của doanh
nghiệp mà mỗi nhân tố có ảnh hưởng khác nhau.
* Lực lượng lao động
Nhân tố này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp thương mại.
Là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, cơ sở vật chất của doanh
nghiệp tuy không chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản nhưng nó lại có vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (nhà
cửa, cửa hàng, kho tàng, bến bãi ). Cơ sở vật chất của doanh nghiệp càng
được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng đem lại hiệu quả cao bấy nhiêu. Điều
này có thể thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống kho tàng, cửa hàng
nằm trong khu vực dân cư có nhu cầu lớn, thuận tiện giao thông sẽ đem lại
cho doanh nghiệp tài sản vô hình lớn. Đó là lợi thế kinh doanh khó có thể có
được từ các doanh nghiệp khác.
Hệ thống cơ sở vật chất của doanh nghiệp bố trí thành mạng lưới kinh
doanh của doanh nghiệp. Mạng lưới kinh doanh có vai trò rất lớn giúp doanh
nghiệp chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, nâng cao
tính ổn định trong kinh doanh. Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp cần
phù hợp với mỗi doanh nghiệp, trên mỗi thị trường. Mạng lưới kinh doanh
phải đảm bảo tính hợp lý, tiết kiệm cũng như kiểm soát được giữa các mắt
xích trong mạng lưới. Trong thương mại mạng lưới kinh doanh phải đảm bảo
bám sát thị trường phục vụ khách hàng nhanh, kịp thời, tiết kiệm chi phí.
Mạng lưới phải dễ quản lý nhưng vẫn đảm bảo tính bao quát thị trường.
10
* Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Quản trị trong doanh nghiệp đóng vai trò thành công hay thất bại trong
kinh doanh. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh. Trước
hết để quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố ngoại lai có
ảnh hưởng. Sự phân tích đầy đủ các yếu tố trả lời cho chúng ta câu hỏi:
Doanh nghiệp đang ở trong môi trường nào? Các doanh nghiệp suy cho cùng
thường bị trói buộc bởi sự hạn hẹp về khả năng tài chính. Điều đó trả lời cho
câu hỏi doanh nghiệp đang ở trong hoàn cảnh nào?
trọng để ra các quyết định kinh doanh có hiêụ quả cao, đem lại thắng lợi trong
cạnh tranh. Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời sẽ là cơ sở
vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng
chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất
ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp không được cung cấp thông tin một cách kịp
thời doanh nghiệp không có cơ sở để ban hành các quyết định kinh doanh dài
và ngắn hạn và do đó dễ dẫn đến thất bại.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là của công nghệ thông tin
đã thúc đẩy và đòi hỏi mỗi nước bắt tay xây dựng nền kinh tế tri thức. Một
trong các đòi hỏi của việc xây dựng nền kinh tế tri thức là các hoạt động kinh
doanh phải dựa trên cơ sở sự phát triển của công nghệ tin học. Nhu cầu về
thông tin của các Doanh nghiệp đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ hệ thống
thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó đặc biệt là hệ thống thông
tin nối mạng trong nước và quốc tế.
Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng nhu cầu thông
tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho quá trình
thu thập, xử lý và sử dụng thông tin. Do nhu cầu thông tin ngày càng lớn nên
nhiệm vụ này cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị doanh
nghiệp hiện nay. Phù hợp với xu thế phát triển hệ thống thông tin nội bộ phải
là hệ thống thông tin nối mạng cục bộ và cao hơn nữa là nối mạng trong nước
và quốc tế.
12
2.2. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Nhân tố ngoài doanh nghiệp là nhóm nhân tố không nằm trong sự kiểm
soát của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm: Môi trường kinh doanh,
môi trường cạnh tranh, môi trường pháp luật- chính trị, môi trường tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế, các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà
nước Các nhân tố này doanh nghiệp không kiểm soát được mà phải tìm biện
pháp thích ứng với nó.
nghiệp (hiệu quả kinh doanh cá biệt). Nhưng thị trường này sẽ gây tổn thất
cho kinh tế- xã hội. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng
cao hiệu quả thương mại là việc khó khăn hơn rất nhiều. Vì giờ đây doanh
nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng
để đẩy mạnh tiêu thụ, giảm giá thành, tổ chức lại bộ máy hoạt động kinh doanh
phù hợp, hợp lý hơn, tối ưu hơn để bù lại những mất mát của doanh nghiệp do
cạnh tranh về giá, cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã Như vậy đối thủ cạnh
tranh có ảnh hưởng rất lớn tới việc nâng cao hiệu quả thương mại của doanh
nghiệp. Nó vừa là đối thủ mang lại trở ngại vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường khi xuất hiện đối thủ cạnh
tranh thì hiệu quả thương mại sẽ bị giảm đi một cách tương đối.
+ Thị trường: ở đây thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị
trường đầu ra của doanh nghiệp. Thị trường ảnh hưởng rất lớn tới giá thành
sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của sản xuất. Thị trường đầu ra quyết định
tới doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hoá, dịch vụ của
doanh nghiệp ở mức độ nào đó thì doanh nghiệp có thể bố trí quá trình sản
xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
+ Tập quán dân cư và mức thu nhập bình quân của dân cư: Đây là một
nhân tố quan trọng trong nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nó quyết định mức
độ, chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng mà doanh nghiệp cần phải
nghiên cứu, nắm bắt để làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng ở
mức giá có thể chấp nhận được. Bởi vì yếu tố này tác động gián tiếp tới quá
14
trình sản xuất cũng như công tác Marketing và cuối cùng là hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường: Đây là tài
sản vô hình của doanh nghiệp, nó có quyết định tới sự thành hay bại, là nhân
tố tác động trực tiếp tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sự tác động đó là
phi lượng hoá mà chúng ta không thể tính toán hay đo đạc nó bằng phương
Có thể nói cơ sở hạ tầng là tiêu đề căn bản thúc đẩy các doanh nghiệp
đầu tư kinh doanh. Như đã biết kinh doanh muốn thu được hiệu quả cao phải
giảm thiểu chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Nhất là đối với doanh
nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu thông thì hệ thống đường, hệ
thống thông tin liên lạc ảnh hưởng lớn tới chi phí vận chuyển, bảo quản cũng
như khả năng nắm bắt nhu cầu, giá cả thị trường. Cơ sở hạ tầng tốt sẽ thúc
đẩy đầu tư, ảnh hưởng gián tiếp tới nhu cầu tiêu dùng khách hàng của doanh
nghiệp.
Ngoài những nhân tố trên, nhóm nhân tố ngoài môi trường doanh
nghiệp còn bao gồm các nhân tố khác như nhân tố thời vụ, nhân tố văn hoá xã
hội tuỳ thuộc vào mỗi doanh nghiệp các loại hình kinh doanh mà chúng ảnh
hưởng ít nhiều tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
II. PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ KINH DOANH
1. Xét theo phạm vi hoạt động
* Hiệu quả tổng hợp :
Phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của
toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ
xác định
* Hiệu quả bộ phận:
Là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn,
lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu ) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu
16
quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của toàn doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh
nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể
của doanh nghiệp và các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng
quả ở các mức độ khác nhau hay trong dãy các giá trị đó thì giá trị nào là có
hiệu quả, giá trị nào là không có hiệu quả? Rõ ràng, trong dãy các giá trị có
thể của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh sự có hiệu quả.
Trường hợp doanh nghiệp lỗ vốn, chỉ tiêu lợi nhuận / vốn kinh doanh âm thì
rõ ràng doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Còn các giá trị khác, khi
nào có và khi nào không có hiệu quả? Chính vì vậy phải nghiên cứu phạm trù
tiêu chuẩn hiệu quả.
Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là “ mốc” xác định ranh
giới có hay không có hiệu quả. Như thế, trước hết cần xác định được tiêu
chuẩn hiệu quả cho mỗi chỉ tiêu để phân biệt mức có hay không có hiệu quả.
Sẽ không có tiêu chuẩn chung cho các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau. Nếu
theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt được
của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp chỉ đạt
được hiệu quả nếu giá trị đạt được ứng với một chỉ tiêu cụ thể xác định không
thấp hơn giá trị bình quân của ngành.
III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH
1. Chỉ tiêu tổng hợp
- Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh
(
R
+ TL
W
) x 100
D
VKD
(%)
=
CSH
Trong đó:
D
VCSH
: Doanh lợi vốn tự có của một thời ký tình toán.
V
CT
: Tổng vốn tự có của thời kỳ đó.
Đây là chỉ số mà doanh nghiệp quan tâm nhất bởi vì nó là mục tiêu
kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi. Một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ số này phải đạt mức sao cho doanh lợi trên vốn chủ
sở hữu đạt được cao hơn tỷ lệ lạm phát, giá vốn.
- Doanh lợi của doanh thu bán hàng
Trong đó:
D
TR
: Doanh lợi của doanh thu bán hàng của một thời kỳ
TR : Doanh thu bán hàng của thời kỳ tính toán đó
- Hiệu quả kinh doanh theo chi phí kinh doanh của một thời kỳ
R
V
KD
: tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Số vòng quay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Được đánh giá bằng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định.
Trong đó:
H
TSCĐ
: hiệu suất sử dụng tài sản cố định
R
: lãi ròng của thời kỳ tính toán
TSCĐ
G
: tổng giá trị tài sản cố định bình quân trong kỳ
TSCĐ
G
= Nguyên giá tài sản cố định - Giá trị đã hao mòn
TR x 100
H
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của thời kỳ tính toán được xác định
theo công thức:
Trong đó:
H
VLĐ
: hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
V
LĐ
: vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán
Vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán chính là giá trị bình quân của
vốn lưu động có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu
động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Mức sinh lời bình quân của lao động
Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ tính toán xác định.
R
H
VL
Đ
Với:
H
W
: Hiệu suất tiền lương của một thời kỳ tính toán
TL :Tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng có tính chất lương trong
kỳ
Hiệu suất tiền lương tăng lên khi tốc độ tăng năng suất lao động lớn
hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.
* Như vậy, thông qua khái niệm, bản chất, đặc điểm của hiệu quả kinh
doanh chúng ta có thể thấy rằng:
Kết quả hoạt động kinh doanh về cơ bản được xác định bằng các chỉ
tiêu, thể hiện mục tiêu kinh doanh cần đạt được như doanh số bán ra, lợi
nhuận. Hiệu quả kinh doanh thương mại được tính bằng các chỉ tiêu hiệu quả
khác nhau bao gồm các chỉ tiêu hiệu quả đặc thù. Còn hiệu quả xã hội của
hoạt động kinh doanh thương mại được đánh giá thông qua việc thực hiện các
R
H
W
=
TL
R
BQ
IV. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
1. Đối với xã hội
Doanh nghiệp là tế bào kinh tế của xã hội, hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp là một bộ phận của hiệu quả kinh tế của xã hội. Song đối với xã hội,
vấn đề hiệu quả được đặt ra với quy mô lớn hơn, và chất lượng hơn. Xã hội
23
càng phát triển, tài nguyên ngày càng khan hiếm, môi trường ngày càng ô
nhiễm. Vấn đề sản xuất xã hội phải quan tâm không phải chỉ là hiệu quả đơn
thuần, mà còn phải chi phí một khoản lớn cho đầu tư hạ tầng cơ sở, cho các
công trình phúc lợi công cộng và xử lý rác thải công nghiệp : “Vì chất lượng
môi trường”.
Các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh thì xã hội sẽ tiết kiệm
được các nguồn tài nguyên hao phí, môi trường sẽ được bảo vệ.
Các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh sẽ thu được lợi nhuận
cao với cùng một mức chi phí bỏ ra, từ đó sẽ có điều kiện đóng góp được
nhiều hơn cho ngân sách, đóng góp được nhiều hơn cho các chương trình xã
hội.
2. Đối với doanh nghiệp
Mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường mở cửa, hội nhập
như hiện nay phải chấp nhận và luôn cố gắng đứng vững trong cạnh tranh.
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì
các lợi thế cạnh tranh, đó chính là chất lượng và sự khác biệt về giá cả và tốc
độ cung ứng. Để duy trì lợi thế về giá cả, doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất hơn so với các đoanh nghiệp khác cùng ngành. Chỉ
trên cơ sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới có
khả năng đạt được điều này.
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là tối đa hoá lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến
phải không ngừng nâng lên nhưng trong điều kiện vốn và các yếu tố khác chỉ
thay đổi trong khuôn khổ để tăng lợi nhuận bắt buộc doanh nghiệp phải tăng
hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức cần
thiết trong công cuộc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một
cách nhìn khác, sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bằng sự tạo ra của
cải, vật chất, hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Để thực hiện
điều này, mỗi doanh nghiệp đều phải vươn lên lấy thu nhập bù đắp chi phí và
25
có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đảm bảo được
nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi
khâu của quá trình hoạt động kinh doanh như một tất yếu.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh
và sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận
cạnh tranh. Trong thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp ngày càng khốc liệt hơn, sự cạnh tranh lúc này không phải chỉ
là mặt hàng mà cạnh tranh cả về giá cả, chất lượng Trong khi mục tiêu
chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh làm cho doanh
nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bót chết doanh nghiệp trên thị trường. Do
vậy, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh
tranh. Để làm được điều này doanh nghiệp phải có hàng hoá, dịch vụ chất
lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc
giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hoá bán, chất lượng không ngừng được
cải tiến nâng cao Như vậy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là hạt
nhân cơ bản của sự thắng lợi trong cạnh tranh. Và các doanh nghiệp cạnh
tranh nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính
sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường để các doanh nghiệp nâng cao
sức cạnh tranh của mình.
Tóm lại, những vấn đề em đã trình bày ở trên mang tính khái quát, tính