Tài liệu Tiểu luận: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty Xuất nhập khẩu và Tư vấn - Dịch vụ Đo đạc Bản đồ " doc - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA…………………… TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI
Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của
Công ty Xuất nhập khẩu và
Tư vấn - Dịch vụ Đo đạc Bản
đồ

1
LỜI NÓI ĐẦU
Việc chuyển sang nền kinh tế mở vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là sự
phát triển của hàng loạt các loại hình doanh nghiệp mới: doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và kéo theo sự sôi động
của một thị trường tràn ngập hàng hoá. Vì vậy,khó khăn của các doanh nghiệp
Nhà nước là điều không tránh khỏi. Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế
thị trường mang đầy tính cạnh tranh thì không có con đường nào khác là phải
nâng cao khả năng cạnh tranh qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Điều này càng mang tầm quan trọng đặc biệt đối với
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Thông qua xuất nhập khẩu chúng ta có điều kiện nắm bắt và tiếp cận

xuất nhập khẩu ở Công ty Xuất nhập khẩu và Tư vấn - Dịch vụ Đo đạc
Bản đồ.
Chương III : Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu ở Công ty Xuất nhập khẩu và Tư vấn - Dịch
vụ Đo đạc Bản đồ.
Đề tài này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.Tiến sỹ
Nguyễn Kế Tuấn và với sự giúp đỡ của cô Trần thị Kim Dung- Kế toán
trưởng - Công ty Xuất nhập khẩu và Tư vấn Dịch vụ Đo đạc Bản đồ.
Đây là một đề tài rộng và phức tạp, lại do những hạn chế về trình độ
cũng như thời gian nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết.
Kính mong được sự góp ý, bổ sung của các thày cô để đề tài được
hoàn thiện hơn.

3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT
NHẬP KHẨU

I. XUẤT NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ.
1. Bản chất và tính tất yếu khách quan của kinh doanh xuất nhập
khẩu.
1.1 Khái niệm kinh doanh xuất nhập khẩu.

Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các
nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối
quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự mở rộng của các quan hệ mua bán

mình không quan hệ kinh tế với thế giới. Kinh doanh xuất nhập khẩu đã trở
thành vấn đề sống còn vì nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao
mức tiêu dùng cuả dân cư một quốc gia. Bí quyết thành công trong chiến lược
phát triển kinh tế của nhiều nước là mở rộng thị trường quốc tế và tăng nhanh
xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua chế biến có hàm lượng kỹ thuật cao.
Sự ra đời và phát triển của kinh doanh xuất nhập khẩu gắn liền với
quá trình phân công lao động quốc tế. Xã hội càng phát triển, phân công lao
động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc. Điều đó phản ánh mối quan hệ phụ
thuộc kinh tế ngày càng tăng lên. Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng vì thế mà
ngày càng mở rộng và phức tạp.
Kinh doanh xuất nhập khẩu xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự
nhiên và xã hội giữa các quốc gia. Chính sự khác nhau đó nên đều có lợi là
mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với điều
kiện sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hoá của mình để xuất nhập khẩu những
hàng hoá cần thiết khác. Điều quan trọng là mỗi nước phải xác định cho được
những mặt hàng nào mà nước mình có lợi nhất trên thị trường cạnh tranh

5
quốc tế. Sự gia tăng của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu xét về kim
ngạch cũng như chủng loại hàng hoá đã làm cho vấn đề lợi ích của mỗi quốc
gia được xem xét một cách đặc biệt chú trọng hơn. Nhiều câu hỏi đã được đặt
ra: Tại sao Mỹ lại nhập cà phê và xuất lương thực? Tại sao Nhật lại xuất hàng
công nghiệp và chỉ nhập nguyên liệu thô? Tại sao một nền kinh tế kém phát
triển như Việt Nam lại có thể hy vọng đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu?
Lý thuyết lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo (1817 ) đã giải
thích một cách căn bản và có hệ thống những câu hỏi này.
Theo thuyết lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn
so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm, thì quốc
gia đó vẫn có thể tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu để tạo ra lợi ích
của mình. Nghĩa là, nếu quốc gia này tham gia vào kinh doanh xuất nhập

thu hút được những thành tựu đáng kể. Chính vì vậy, tại Đại hội Đảng lần thứ
VIII, Đảng ta đã khẳng định " Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt song phương
và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết các vấn
đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng." ( Văn kiện Đại hội VIII Đảng
Cộng sản Việt Nam ).
2.Các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu
2.1 Các hình thức nhập khẩu
- Nhập khẩu uỷ thác
- Nhập khẩu trực tiếp
- Nhập khẩu đổi hàng
- Nhập khẩu tái xuất
2.2 Các hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu hàng hoá dưới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác
sản xuất và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ, vật tư phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu- tạm nhập tái xuất.
- Các dịch vụ như làm đại lý, uỷ thác cho các tổ chức nước ngoài.

7
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nước
ngoài.
3.Nội dung công tác xuất nhập khẩu hàng hoá ở các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu .
3.1 Nội dung hoạt động xuất nhập khẩu .
Thông thường nội dung hoạt động bao gồm các nội dung sau:
3.1.1. Nghiên cứu thị trường

sách báo, tài liệu, qua tư vấn của nhà nước , qua điều tra trực tiếp hoặc buôn
bán thử để tìm hiểu dần.
3.1.2. Lập phương án giao dịch

Lập kế hoạch cụ thể để tiến hành hoạt động giao dịch gồm nhiều chi
tiết trong đó có các vấn đề sau:
- Lựa chọn mặt hàng kinh doanh xuất hoặc nhập khẩu
- Xác định số lượng hàng xuất hoặc nhập khẩu
- Lựa chọn thị trường - khách hàng - phương thức giao dịch .
- Lựa chọn thời điểm, thời gian giao dịch.
- Các biện pháp để đạt mục tiêu lựa chọn trên như chiêu đãi, mời khách,
quảng cáo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
- Những tính toán để luận chứng cho các mục tiêu và các biện pháp trên
dự báo kết quả công việc giao dịch phải xác định.
3.1.3. Giao dịch, đàm phán trước khi ký kết hợp đồng.

3.1.4. Ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp
đồng mua bán ngoại thương. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối
với các đơn vị xuất nhập khẩu của nước ta trong quan hệ với nước ngoài
3.1.5. Tổ chức thực hiện hợp đồngxuất nhập khẩu 9
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.3.2 Quy trình xuất nhập khẩu hàng hoá.
Quy trình xuất khẩu hàng hoá được biểu diễn qua sơ đồ sau:


Nh

ng th

t

c c

n thi
ế
t cho h

p
đ

ng xu

t

kh

u

Bu

c bên nh

p kh

u m

t kh

u

Mua b

o hi

m

Lm th

t

c h

i quan

Giao nhận hng với tu
Lm th

t

c thanh toán10Quy trình nhập khẩu hàng hoá được biểu diễn qua sơ đồ sau:

Ký k
ế
t h

p
đồ
ng

Những hướng dẫn cần thiết lm giấy tờ
th

t

c

M

tín d

ng

Phái tu đến tiếp nhận vận chuyển hng
hoá

Lm bảo hiểm vận chuyển hng
hoá

Hng
đế
n


t

c h

i quan

B

i th
ườ
ng nh

p kh

u11Nếu nhập khẩu uỷ thác thỉ từ bước thủ tục hải quan ta thêm bước: Nhận tiền hoa hồng ( tiền mặt hoặc chứng

từ)

Th

i k

thanh toán ch

ng t
ừ12
Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như
nước ta, những nhân tố tiềm năng : tài nguyên thiên nhiên, lao động. Những
yếu tố thiếu hụt : vốn, kỹ thuật, thị trường và khả năng quản lý. Chiến lược
xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với nước ta, đặc biệt trong quá trình
công nghiệp hoá- hiện đại hoá hiện nay. Về thực chất chiến lược này là giải
pháp mở cửa nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết
hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để
tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách
chênh lệch với các nước giàu.
Với định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh
tế đối ngoại nói chung và thương mại nói riêng phải được coi là một chính
sách cơ cấu có tầm quan trọng chiến lược nhằm phục vụ quá trình phát triển
của nền kinh tế quốc dân. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ được tới

thể chia hiệu quả ra nhiều loại khác nhau:
- Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem
xét thì phạm vi hiệu quả sẽ là hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả chính trị. Cả
hai hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội
đất nước. Trong thời kỳ bao cấp nước ta quá coi trọng hai hiệu quả này trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay thực hiện nền kinh
tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp đặc
biệt là các doanh nghiệp nhà nước bên cạnh việc bảo đảm hiệu quả kinh tế,
hiệu quả kinh doanh cần phải chú ý đến hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả
chính trị. Đối với các nước tư bản chủ nghĩa, các doanh nghiệp hoạt động đều
nhằm mục đích hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh, còn một số doanh
nghiệp nhà nước nhằm thực hiện một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội.
- Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì
có phạm trù hiệu quả kinh tế và phạm trù hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế là những lợi ích kinh tế đạt được sau khi bù đắp
các khoản chi về lao động xã hội. Hiệu quả kinh tế được xác định thông qua
so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt
được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh
chính là hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng việc so sánh giữa lượng
lao động hữu ích cuối cùng thu được với hao phí lao động xã hội.

14
Như vậy đứng trên các khía cạnh khác nhau người ta có thể có quan
điểm về hiệu quả khác nhau. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý khi giải quyết
vấn đề hiệu quả cần phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu
dài, giữa lợi ích trung ương với lợi ích địa phương, giữa lợi ích cá nhân, lợi
ích tập thể với lợi ích quốc gia.
1.2. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu.
Hiện nay ở nước ta kinh doanh thương mại quốc tế có vai trò ngày càng

cho hoạt động kinh doanh này ngày càng phát triển phù hợp với xu thế chung
của thời đại và định hướng của Đảng và Nhà nước ta.
Xét về mặt lý luận, nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế trong kinh
doanh thương mại quốc tế là góp phần đắc lực thúc đẩy nhanh năng suất lao
động xã hội và tăng thu nhập quốc dân có thể sử dụng, qua đó tạo thêm nguồn
tích lũy cho sản xuất và nâng cao mức sống trong nước.
2. Phương pháp đánh giá hiệu quả
2.1 Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có
liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, do đó khi đánh giá hiệu quả cần quán
triệt những quan điểm sau:
- Bảo đảm thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ kinh
doanh trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Do đặc điểm của nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa cho nên đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
Đảng và Nhà nước. Nó thể hiện trước hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp nhà nước phải thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh hoặc các đơn hàng nhà
nước giao hoặc các hợp đồng kinh tế nhà nước ký kết với các doanh nghiệp vì
đó là nhu cầu, là điều kiện để phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, nền
kinh tế hàng hoá. Những nhiệm vụ kinh tế và chính trị nhà nước giao cho
doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp trước hết việc sản xuất kinh doanh cần
phải hướng tới đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, của thị trường trong
nước, lợi ích quốc gia.

16
- Bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với
lợi ích xã hội
Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

do đó chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Để nâng cao hiệu quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp cần phải thực hiện các mối quan hệ kinh tế chủ
yếu sau đây:
- Mối quan hệ giữa các hàng hoá tiêu thụ trên thị trường với hàng hoá
sản xuất ra và tổng sản lượng.Trong đó phải tăng tốc độ tiêu thụ hàng hoá trên
thị trường, giảm hàng hoá tồn kho, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
- Mối quan hệ giữa tốc độ tăng kết quả lao động sống và chi phí chi
ra đểduy trì và phát triển sức lao động.Trong đó tốc độ tăng năng xuất lao
động phải nhanh hơn tốc độ tăng lương bình quân và tăng tiền công lao động.
- Mối quan hệ giữa tốc độ tăng kết quả sản xuất kinh doanh và tăng
các nguồn chi phí để đạt kết quả đó. Trong đó tăng kết quả phải nhanh hơn
tăng chi phí.
- Mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh và tăng chi phí sử
dụng tài sản lưu động để đạt kết quả đó. Trong đó tốc độ tăng kết quả nhanh
hơn chi phí tài sản cố định để đạt kết quả đó.
- Mối quan hệ giữa tăng vốn đầu tư và tăng năng lực sản xuất
mới.Trong đó tốc độ tăng năng lực sản xuất mới nhanh hơn tốc độ tăng vốn
đầu tư để đạt tăng năng lực mới.
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cần
phải dựa vào hệ thống tiêu chuẩn sau:
- Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường nhưng phải tuân
thủ sự quản lý vĩ mô của nhà nước.
- Phải kết hợp hài hoà ba lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể, nhà nước.
Tuyệt đối không vì lợi ích cá nhân làm tổn hại lợi ích tập thể.
- Lợi nhuận doanh nghiệp kiếm được phải dựa trên cơ sở vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các quy luật của nền sản xuất hàng hoá.

18
- Mức thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp trên lao động phải thường

Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Sức sinh lợi của vốn lưu động Lợi nhuận trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Số ngày luân chuyển bình quân 1 vòng quay 365 ngày
Số vòng quay vốn lưu động
- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ ( trừ thuế )
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
tổng hợp

- Kim ngạch xuất nhập khẩu trên tổng chi phí
sản xuất và tiêu thụ
Kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
- Kim ngạch xuất nhập khẩu trên một đồng
vốn sản xuất
Kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
- Doanh lợi theo chi phí Lợi nhuận trong kỳ
Tổng chi phí tiêu thụ và sản xuất trong kỳ
- Doanh lợi theo vốn sản xuất Lợi nhuận trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

19
- Doanh lợi kim ngạch xuất nhập khẩu thuần Lợi nhuận trong kỳ
Kim ngạch xuất nhập khẩu thuần

Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các yếu tố riêng lẻ phản ánh hiệu quả sử
dụng từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các chỉ tiêu này càng lớn phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố càng

cạnh tranh cao hơn trong việc tìm bạn hàng xuất khẩu và nguy cơ phá giá
hàng hoá bán ra thị trường thế giới.
b.Tình hình nhân lực.

Một nước có nguồn nhân lực dồi dào là điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp trong nước xúc tiến xuất nhập khẩu các mặt hàng có sử dụng
sức lao động. Về mặt ngắn hạn, nguồn nhân lực được xem như là không biến
đổi, vì vậy chúng ít tác động tới sự biến động của hoạt động xuất nhập khẩu.
Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều kiện thuận lợi để
xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công mỹ nghệ,
may mặc và nhập khẩu thiết bị, máy móc kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
c. Nhân tố công nghệ.

Ngày nay, khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh
tế xã hội và mang lại nhiều lợi ích, trong xuất nhập khẩu nó cũng mang lại
hiệu quả cao. Nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông,các doanh
nghiệp ngoại thương có thể đàm thoại trực tiếp với khách hàng qua telex, fax,
điện tín giảm bớt những chi phí đi lại, xúc tiến hoạt động xuất nhập khẩu.
Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin về diễn biến thị trường một
cách chính xác, kịp thời. Bên cạnh đó, nhờ có xuất nhập khẩu mà các doanh
nghiệp Việt Nam được tiếp xúc với các thành tựu công nghệ tiên tiến trên thế
giới, thay thế, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất. Khoa học
công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực như vận tải hàng hoá, các kỹ nghệ
nghiệp vụ trong ngân hàng Đó cũng chính là các yếu tố tác động tới hoạt
động xuất nhập khẩu.
d. Cơ sở hạ tầng.

Cơ sở hạ tầng tốt là một yếu tố không thể thiếu nhằm góp phần
thúcđẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ sở hạ tầng bao gồm: đường xá, bến
bãi, hệ thống vận tải, hệ thống thông tin, hệ thống ngân hàng có ảnh hưởng

đắp lại chi phí nội địa cao hơn, nhưng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trường
sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ nguyên mức giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận
thấp. Nếu tình trạng ngược lại là tỷ giá hối đoái thực tế giảm so với tỷ giá hối
đoái chính thức, khi đó sẽ có lợi cho các nhà xuất khẩu nhưng lại bất lợi cho
các nhà nhập khẩu.

22
b. Thuế quan và quota.
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu ảnh
hưởng trực tiếp của thuế xuất nhập khẩu và quota.
Thuế xuất khẩu có xu thế làm giảm xuất khẩu và do đó làm giảm
nguồn thu ngoại tệ của đất nước. Tuy nhiên, đối với nước ta hiện nay, thực
hiện chủ trương khuyến khích xuất khẩu nên hầu hết các mặt hàng xuất khẩu,
đặc biệt các mặt hàng nông sản, không phải chịu thuế xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu có xu thế làm giảm nhập khẩu và do đó làm tăng
nguồn thu ngoại tệ của đất nước. Hiện nay ở nước ta, rất nhiều mặt hàng phải
chịu thuế nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ các ngành sản xuất
các mặt hàng đồng nhất ở trong nước. Nhưng bắt đầu giai đoạn này, thực hiện
chủ trương hội nhập với thế giới, tham gia vào AFTA,nước ta đang tiến dần
tới việc xoá bỏ dần một số hình thức bảo hộ bằng thuế nhập khẩu.
Còn quota là hình thức hạn chế về số lượng xuất nhập khẩu, có tác
động một mặt làm giảm số đầu mối tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, mặt
khác tạo cơ hội thuận lợi cho những người xin được quota xuất nhập khẩu.
c. Các chính sách khác của Nhà nước.

Các chính sách khác của Nhà nước như xây dựng các mặt hàng chủ
lực, trực tiếp gia công xuất khẩu, đầu tư cho xuất nhập khẩu, lập các khu chế
xuất, các chính sách tín dụng xuất nhập khẩu cũng góp phần to lớn tác động
tới tình hình xuất nhập khẩu của một quốc gia. Tuỳ theo mức độ can thiệp,
tính chất và phương pháp sử dụng các chính sách trên mà hiệu quả và mức độ

gia.
Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với
sự phát triển kinh tế cũng như xuất nhập khẩu của một quốc gia. Vị trí địa lý
thuận lợi là điều kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao
động quốc tế, hoặc thúc đẩy xuất nhập khẩu dịch vụ như du lịch, vận tải, ngân
hàng
3. Ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hoá thì phụ thuộc giữa các nước ngày càng
tăng, vì vậy mà mỗi sự biến động của tình hình kinh tế - xã hội ở nước ngoài
đều có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh

24
vực hoạt động xuất nhập khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở
nước ngoài, chịu sự chi phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó
lại càng rất nhạy cảm. Bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách xuất nhập
khẩu, tình hình lạm phát, thất nghiệp hay tăng trưởng và suy thoái kinh tế
của các nước đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu ở nước ta.
B. Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp.

1. Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính.
Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công
nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động. Để quản lý tập
trung thống nhất phải sử dụng phương pháp hành chính. Việc thiết lập cơ cấu
tổ chức của bộ máy doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các cấp
lãnh đạo là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh
nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc
đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngược lại nếu cơ cấu tổ chức xệch xoạc,
cách điều hành kém cỏi sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh.
2. Nhân tố con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status