Thị trường vốn cổ phần của các công ty chưa niêm yết - Pdf 13

VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 1

Tiểu luận

THỊ TRƯỜNG VỐN CỔ PHẦN CỦA CÁC
CÔNG TY CHƯA NIÊM YẾT
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động của thị trường vốn cổ phần chưa niêm yết có dấu hiệu suy sụp
trên phạm vi toàn cầu kể từ khi nền kinh tế bắt đầu tuột dốc. Tuy nhiên ngành
công nghiệp này đang dần hồi phục và vẫn là nguồn vốn quan trọng cho các công
ty mới thành lập còn non trẻ hay các công ty đang gặp khó khăn về tài chính
đang tìm kiếm người mua lại. Anh được xem như là quốc gia áp dụng hình thức
góp vốn cổ phần chưa niêm yết rộng rãi và phát triển nhất tại khu vực Châu Âu,
xét trên phạm vi thế giới thì đứng thứ hai chỉ sau Mỹ. Cùng với New York,
London là một trong hai trung tâm quốc tế dẫn đầu về việc quản lý đầu tư vốn cổ
phần.

CHƯA NIÊM YẾT
1. Khái niệm về đầu tư PE
Private Equity (Đầu tư vào công ty chưa niêm yết bằng hình thức góp vốn tư nhân)
được định nghĩa theo nhiều cách và thay đổi theo từng quốc gia. Tuy nhiên, theo cách
phổ biến nhất người ta vẫn xem xét Private Equity như một loại tài sản bao gồm các
phần vốn góp vào các doanh nghiệp chưa niêm yết trong khoảng thời gian trung hạn
hoặc dài hạn đề giúp doanh nghiệp đó phát triển và thành đạt. Một số nhà đầu tư lại
cho rằng Private Equity chỉ là đầu tư bằng việc mua lại cổ phần công ty, một số khác
thì cho rằng Private Equity bao gồm tất cả các loại như mua lại bằng vốn vay nợ
(LBO), đầu tư vốn mạo hiểm (Venture Capital), vốn phát triển (Growth Capital).
Ở Anh, Private Equity ra đời vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 với sự có mặt ban đầu
của một số nhà đầu tư tư nhân lành mạnh, họ góp vốn vào các dự án đầu tư giúp
chúng trở nên thành công. Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước, Private Equity
trở thành một ngành công nghiệp với sự ra đời của hàng loạt các công ty Private
Equity. Khoảng hơn 80% các công ty này đang nằm ở Anh, hàng năm cung cấp hàng
tỉ Bảng Anh cho các doanh nghiệp chưa niêm yết.
Để đơn giản hóa, có thể hiểu Private Equity là một công cụ hỗ trợ vốn cho doanh
nghiệp, thuộc phần vốn chủ sở hữu, do một nhà đầu tư (phần lớn trong các trường hợp
là một định chế tài chính) mua tạm thời một phần vốn của doanh nghiệp (đóng vai trò
như một chủ sở hữu tạm thời). Các doanh nghiệp này thường là các doanh nghiệp
chưa niêm yết, có tiềm năng lớn, năng động trong cách ngành có nhiều hứa hẹn với
mục đích là kiếm lời bằng việc tham gia vào vốn của doanh nghiệp trong khoảng thời
gian trung và dài hạn.
Ưu điểm của loại hình huy động vốn này là thông thường các chủ doanh nghiệp
không phải lo đến việc mất quyền làm chủ của mình (mặc dù tham gia vào vốn chủ và
đứng vai trò như một chủ sở hữu doanh nghiệp nhưng chỉ trong một thời gian và trong
hợp đồng giữa chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư này, các chủ doanh nghiệp có quyền
đặt ra các giới hạn về quyền lực trong doanh nghiệp), chi phí ban đầu không quá cao,
không yêu cầu trả theo kỳ hạn và quy mô thông thường là đủ mức độ lớn theo nhu cầu
của doanh nghiệp, đặc biệt là ổn định giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn cho

trị công ty đó. Mục tiêu là nhắm đến mua lại một phần đáng kể hoặc kiểm soát phần
lớn các doanh nghiệp, theo đó thường đòi hỏi một sự thay đổi trong quyền sở hữu.
Đây thường là những sự đầu tư vào các công ty lớn hơn.
Trường hợp đặc biệt: bao gồm một loạt các khoản đầu tư nợ xấu, cổ phiếu
chuyển đổi, tài trợ dự án và cho thuê tài chính. Thể loại này bao gồm việc đầu tư vào
khoản nợ thứ cấp (nợ có thứ tự thanh toán thứ yếu), thường thấy như là việc đầu tư
vào cổ phần ưu đãi.
2.2 Huy động thêm vốn :
Chiến lược này đề cập đến số tiền nhà đầu tư đã cam kết sẽ tài trợ cho các quỹ sở
hữu cổ phần công ty chưa niêm yết trong một năm bất kỳ.
2.3 Thoái vốn:
Chiến lược này là sự rút vốn ra khỏi một thương vụ đầu tư. Chiến thuật thoái vốn
mang tính quyết định trong việc đầu tư vốn mạo hiểm. Những hình thức chính của
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 6

thoái vốn: bán đứt doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp hoặc đưa công ty ra thị trường
chứng khoán.

Sơ đồ cơ bản về một nghiệp vụ mua lại bằng vốn vay nợ (leveraged buyout
transaction)
Ví dụ: Một quỹ đầu tư vốn cổ phần chưa niêm yết (ABC Capital II) sử dụng 2 tỷ đô
từ nguồn vốn của mình (nguồn vốn đến từ phần vốn góp các thành viên của quỹ hay từ
các định chế tài chính như quỹ hưu trí và các cá nhân giàu có), đồng thời vay thêm 9
tỷ đô từ ngân hàng (hoặc từ những người cho vay khác). Với 11 tỷ đô đang có,quỹ đầu
tư mua toàn bộ cổ phần của một công ty hoạt động kém hiệu quả (công ty B). Sau khi
nắm quyền quản lý ABC Capital II tiến hành một loạt những thay thế (như cách giảm
nhân sự, bán đi các máy móc cũ kỹ, thay đổi lãnh đạo…) cũng như đưa ra các chính
sách mục tiêu nhằm sắp xếp và hồi phục lại công ty B. Tất cả các hoạt động này chỉ

VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 8
Tuy nhiên, việc thắt chặt các khoản nợ trong khu vực sử dụng đồng tiền chung
châu Âu (euro) đã góp phần vào sự gia tăng chi phí của nợ. Đòn bẩy tài chính toàn cầu
trong nửa đầu năm 2012 ở mức 692 tỷ đô thấp hơn 23% cùng kỳ năm trước. Các gói
cứu trợ đã được đưa ra từ khi suy thoái kinh tế bắt đầu. Tỉ lệ giữa mua lại bằng vốn
góp và mua lại bằng tài trợ nợ đã tăng từ 1/3 đến hơn 1/2 trong giai đoạn năm 2007 và
2009, trước khi giảm lại còn 42% vào năm 2011. Giá doanh nghiệp đã tăng lên trong
suốt năm 2011, với giá mua tăng nhiều lần cho năm thứ hai liên tiếp lên đến mức 8,4
lần so với EBITDA, tăng từ 8,1 lần vào năm 2010 (Biểu đồ 3)

VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 9

người bán tiềm năng không muốn xử lý tài sản của họ ở mức thấp hơn giá mà họ đã
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 11

mua. Ngân hàng và các công ty bảo hiểm cũng chịu trách nhiệm một phần cho sự gia
tăng trong hoạt động giao dịch mua bán do cần miễn phí vốn thực hiện theo quy định
mới của Basel 3 và Solency 2 ở Châu Âu, và quy tắc Volcker ở Mỹ. Dự báo rằng các
hoạt động giao dịch tại thị trường thứ cấp có khả năng tiếp tục mạnh mẽ trong năm
2012.
1.2.2 Các cuộc giao dịch lớn nhất
Các giao dịch lớn nhất công bố trên toàn cầu trong năm 2011 bao gồm 9.0 tỷ
đô mua lại Centro Group Properties của BlackGroup, 6.3 tỷ đô mua lại Kinetic
Concepts Inc bởi Apax Partners. Tuy nhiên, các giá trị giao dịch đã nhỏ hơn nhiều so
với một số vụ mua lại lớn trong những năm trước đó (Bảng 2). Kể từ khi nền kinh tế
sa sút, các nhà quản lý hoạt động mua lại công ty phải phân bổ nguồn vốn sao cho hợp
lý để ngăn ngừa nợ rủi ro, nguy cơ phá sản cũng như đầu tư vào các công ty chưa
niêm yết, thị trường mới nổi và các định chế tài chính.

Tuy nhiên, các thương vụ lớn hơn đang bắt đầu cho thấy dấu hiệu trở lại của thị
trường. Một hiệp hội của các nhà đầu tư dẫn đầu bởi Apollo Global Management đã
giành được quyền mua các tài sản khai thác, sản xuất dầu và khí đốt tự nhiên của El
Paso Corp vào tháng Hai năm nay với mức giá 7.2 tỷ đô. Gần đây hơn, vào 06/2012,
công ty cổ phần tư nhân KKR bán 45% cổ phần của hãng công ty dược phẩm lớn nhất
Châu Âu Alliance Boosts cho công ty Mỹ Wagreens với mức giá khởi điểm là 6.7 tỷ
đô.
1.2.3 Sự suy giảm theo khu vực
Một phân tích về sự suy giảm theo khu vực của hoạt động đầu tư vào công ty chưa
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN


Khoảng 68% các quỹ đóng cửa trong năm 2011 được dự kiến sẽ được phân bổ cho các
vụ mua lại. TheCityUK ước tính rằng trong nửa đầu năm 2012 sẽ có 130 tỷ bảng được
huy động, giảm 1/5 so với nửa đầu năm 2011.
Thời gian trung bình cho các quỹ đóng cửa đã giảm từ 18,5 tháng trong năm 2011
(Bảng 11) xuống còn 16,7 tháng trong nửa đầu năm 2012.

Trước khi xảy ra suy thoái kinh tế, thị trường chứng kiến một sự cạnh tranh khốc
liệt trong lĩnh vực đầu tư vốn cổ phần chưa niêm yết. Trong suốt ba năm tính đến năm
2009, ta nhận thấy một số lượng lớn chưa từng có các hoạt động đầu tư, theo đó hơn
1.4 nghìn tỷ đô đã được huy động. Các công ty đầu tư trong hầu hết các trường hợp,
vẫn giữ vững vị thế dẫn đầu của họ kể từ thời điểm bắt đầu của suy thoái kinh tế
(Bảng 4).
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 14 Công ty có mức huy động vốn lớn nhất từ năm 2006 đến năm 2011 là TPG, theo sau
là Khu vực đầu tư chính của Goldman Sachs và Tập đoàn Carlyle.
1.3.2 Các quỹ có sẵn
Các nguồn vốn có sẵn dành để đầu tư Các quỹ đầu tư có sẵn khoảng 949 tỷ đô
để đầu tư vào cuối Q1-2012, giảm khoảng 6% so với năm trước đó (Biểu đồ 10). Hơn
một nửa nguồn vốn sẵn có cho đầu tư được quản lý ở Mỹ, 26% ở châu Âu và phần lớn
trong 20% còn lại ở Châu Á. Nếu tính luôn phần quỹ mà các công ty chưa niêm yết
còn đang nắm giữ, lượng vốn mà các quỹ đầu tư quản lý có thể vượt quá con số 2,0
nghìn tỷ USD.
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 15


cần thiết để quản lý nguồn lực, thương lượng, cơ cấu và quản lý đầu tư và một thị
trường rộng lớn có tính thanh khoản cao.

VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 17

2.1 Tình hình đầu tư các thương vụ PE:
Xu hướng đầu tư toàn cầu của các c ông ty ở Anh phần lớn đi sánh đô i cùng xu
hướng chung của toàn cầu, tổng cộng 18.6 tỷ bảng Anh đã được đầu tư vào năm 2011
theo British Venture Capital Association’s (BVCA) khảo sát từ các thành viên (Biểu
đồ 13).

Điều này đã giảm 9% so với năm trước và 40% so với mức cao điểm vào năm
2007. Các khoản đầu tư được thực hiện vào 1,048 công ty, tạo việc làm cho khoảng
300.000 người, trong đó 130.000 lao động ở Anh. Về dài hạn, trong hai thập kỷ qua,
ngành công nghiệp đầu tư vào vốn cổ phần chưa niêm yết của A nh đã góp vốn gần
200 tỷ bảng Anh vào khoảng 28.000 công ty trên toàn thế giới.
Trong giai đoạn đầu trong năm số lượng đầu tư tăng 2% nhưng đã giảm 4% nếu
xét về mặt giá trị của nó. Việc mua lại cũng giảm từ 16.5 tỷ bảng (2010) còn lại 14.5
tỷ bảng vào năm 2011. Ngược lại, vốn góp vào quỹ tăng 5% đạt đến giá trị 3.7 tỷ
bảng. Theo thống kê từ Centre for Management Buyout Research cho thấy năm 2012
đã bắt đầu khá tốt với các thương vụ mua lại trị giá 8.0 tỷ bảng được ghi nhận trong
VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 18

sáu tháng đầu năm, cho thấy có một sự gia tăng 38% so với nửa cuối năm 2011 và
tăng 16% so với cùng kỳ năm trước.
Ngành hàng Công nghệ cao, hàng tiêu dùng, thông tin và lĩnh vực dịch vụ đã thu
Quỹ hưu trí và quỹ công trái chiếm khoảng 1/4 trong tổng số (Biểu đồ 14). Chính
phủ góp 9%, tiếp theo là cá nhân 7%. Phần vốn góp của ngân hàng cổ phần đã giảm từ
11% còn 4% trong năm. Các quỹ góp vốn đầu tư vào công ty chưa niêm yết ở Anh
hiện đang trở lại khoảng 3.800 công ty, sử dụng khoảng 1,2 triệu người trên toàn thế
giới. Trong đó khoảng 515.000 người đang làm v iệc ở Anh.

VỐN CP CHƯA NIÊM YẾT TS. HỒ VIẾT TIẾN

Trang 20

Các nhà đầu tư nước ngoài tạo ra 69% vốn huy động trong năm 2011, cao hơn tỷ lệ
đóng góp 56% trong năm trước. Nguồn vốn gia tăng có những dấu hiệu chững lại so
với ba năm trước đây, đây là kết quả của việc tích lũy nguồn vốn tại các quỹ đầu tư tại
thời gian trước khi xảy ra khủng hoảng chứ không phải chỉ là kết quả của sự suy thoái
của nền kinh tế. Trong tổng số vốn tăng lên ở Anh năm 2010, 79% vốn được đầu tư
trong các vụ mua lại, giảm từ 88% so với năm trước. Hầu hết các phần còn lại được
giao cho liên doanh vốn đầu tư.
2.3 Tình hình thoái vốn của các thương vụ PE:
Kết thúc dữ liệu từ Anh Quốc cho thấy trong năm 2011 thoái vốn đạt 11.9 tỷ bảng
Anh (Biểu đồ 15), từ 9.7 tỷ bảng trong năm trước đó. Chiếm tỷ lệ lớn nhất thoái vốn
đến từ write-offs (28% của tổng số), bán công ty (22%), và bán cho công ty đầu tư cổ
phần chưa niêm yết khác (19%).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status