Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong doanh nghiệp, chính sách đầu tư, chính sách tài trợ và chính sách cổ tức
là ba chính sách quan trọng của doanh nghiệp. Các quyết định tài trợ, quyết định đầu
tư và quyết định chi trả cổ tức là ba quyết định tài chính quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận đầu tư của cổ đông thông qua cổ tức được hưởng và ảnh hưởng
gián tiếp đến lãi vốn do sự thay đổi giá cổ phiếu khi công ty tuyên bố quyết định chi
trả cổ tức.
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động từ năm 2000 tạo ra một
kênh đầu tư mới cho nền kinh tế. Các công ty quyết định tỷ lệ cổ tức khác nhau
nhưng chủ yếu vẫn dựa trên mức lợi nhuận của công ty với hình thức chi trả bằng
tiền mặt. Các yếu tố khác nhau tác động đến chính sách cổ tức ít được đánh giá nên
các công ty niêm yết chưa đạt được mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Hoàn
thiện chính sách cổ tức là vấn đề quan tâm của các công ty niêm yết, các cổ đông của
công ty và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó em đã lựa
chọn vấn đề : “Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền đã tận tình
giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề án. Đề tài không khỏi những
hạn chế và thiếu xót, kính mong cô góp ý cho đề tài được hoàn thiện hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách cổ tức của các công ty niêmyết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Chính sách cổ tức
Phạm vi nghiên cứu :
+ Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
+ Thời gian từ năm 2000 đến nay
định hay hàng tồn kho hay tài sản khác như tiền mặt như trang thiết bị. Để thể hiện
điều này, ban quản lý công ty phải tính toán và xây dựng chính sách cổ tức để cổ
đông hiểu được chiến lược của công ty, xác định được sức mạnh tài chính của họ qua
chính sách cổ tức.
Lợi nhuận chưa phân phối trong công ty cổ phần được chia thành hai phần
chính, lợi nhuận đem chia cho các cổ đông gọi là cổ tức và lợi nhuận giữ lại để tái
đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc có trả cổ tức hay không, tỷ lệ và hình
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thức chi trả cổ tức cho cổ đông tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động và chính sách của
công ty và do Hội đồng quản trị quyết định. Nếu lợi nhuận giữ lại nhiều thì phần
dùng để chi trả cổ tức sẽ ít và ngược lại. Tỷ lệ lợi nhuận phân bổ cho hai khoản mục
giữ lại và chia cổ tức như thế nào là tuỳ thuộc vào chiến lược của từng công ty.
Nguồn gốc của chi trả cổ tức bắt đầu từ chi trả các khoản vốn góp mà mỗi
thành viên đã tham gia góp và chi trả lợi nhuận và các khoản thu từ thanh lý tài sản
cho những người có quyền yêu cầu. Tuy nhiên, hình thức chi trả các khoản vốn đã
góp không đem lại hiệu quả, nên việc chi trả cổ tức chuyển sang từ lợi nhuận. Thu
nhập giữ lại được sử dụng cho đầu tư mới, nên mức chi trả cổ tức chỉ là một phần lợi
nhuận kinh doanh.
Vì thế, ngày nay người ta hiểu bất cứ sự thanh toán trực tiếp nào của công ty
cho các cổ đông đều được coi là chi trả cổ tức. Song thuật ngữ trả cổ tức thường
được hiểu là sự chi trả hay phân phối từ phần vốn lợi nhuận của công ty cổ phần cho
các cổ đông của công ty đó. Thực chất đó là phần lợi tức mà cổ đông nhận được từ
phần lợi nhuận có được từ hoạt động kinh doanh của công ty do cổ đông đóng góp
vốn. Những sự chi trả từ nguồn khác, không phải từ vốn lợi nhuận, bản chất không
phải là cổ tức. Chỉ những sự chi trả từ vốn lợi nhuận làm thay đổi vốn lợi nhuận mà
không làm thay đổi vốn góp được gọi là trả cổ tức, còn những khoản chi trả từ nguồn
vốn góp của công ty gọi là cổ tức thanh toán nợ (không trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài)
Hầu hết các công ty làm ăn có lãi sẽ chia sẻ lợi nhuận cho các nhà đầu tư của
ty. Vì vậy, việc phân phối lợi nhuận sau thuế của hoạt động kinh doanh đòi hỏi được
xây dựng trên chính sách cổ tức cụ thể thích hợp với từng giai đoạn.
Vậy chính sách cổ tức là gì? Nó là sự tổng hợp các giải pháp và cách thức chi
trả cổ tức mà nhà quản lý tài chính sử dụng nhằm mục đích tối đa hóa tài sản của cổ
đông.
3. Một số mố hình nghiên cứu chính sách cổ tức
3.1 Mô hình xác định các phương thức chi trả cổ tức
Hầu hết các công ty làm ăn có lãi sẽ chia sẻ lợi nhuận cho các nhà đầu tư của
họ bằng các trả cổ tức. Một quy tắc rất phổ biến là một nửa số lợi nhuận thu được sẽ
được trả cho các cổ đông, và một nửa giữ lại để tái đầu tư vào công ty. Các công ty
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đang trong giai đoạn tăng trưởng có thể giữ lại phần lớn hoặc thậm chí là toàn bộ lợi
nhuận của họ để tái đầu tư vào công ty nên họ trả cổ tức rất thấp hoặc không trả.
Không có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức
cho các cổ đông của nó cả, ngay cả khi công ty làm ăn có lãi cũng vậy. Hội đồng
quản trị của công ty có thể tăng, giảm hoặc từ bỏ việc trả cổ tức.
Cổ tức thường trả theo quý, theo tháng, nửa năm hoặc một năm. Công ty có
thể trả cổ tức dưới rất nhiều dạng :
• Cổ tức bằng tiền mặt : Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ
phiếu. Nó có thể được trả theo phần trăm mệnh giá. Mệnh giá là giá trị được ấn định
trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty
• Cổ tức bằng cổ phiếu : Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu là một sự phân bố
theo tỷ lệ các cổ phần bổ sung của một công ty cho các cổ đông.
• Cổ tức bằng tài sản : một công ty có sở hữu chứng khoán trong các công
ty khác có thể phân phối số chứng khoán này cho cổ đông của công ty như là cổ tức,
hoặc có thể phân phối cổ tức bằng sản phẩm công ty. Mặc dù rất hiếm, nhưng cũng
có thể trả cổ tức bằng tài sản. Cổ đông nhận được các tài sản của công ty như các sản
phẩm tồn kho của công ty hoặc cổ phiếu của một công ty khác do công ty sở hữu.
3.2 Hai mô hình chính sách cổ tức cơ bản
Mô hình chính sách thặng dư cổ tức theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cổ tức
thông qua cách công ty thực hiện chi trả cổ tức sau khi đã đáp ứng các nhu cầu dòng
tiền mặt sẵn có trong công ty để đầu tư và duy trì được tỷ lệ cơ cấu vốn mục tiêu của
công ty.
Cơ sở của mô hình thặng dư cổ tức là nếu công ty có nhiều cơ hội đầu tư có
lãi và không mong muốn phải huy động vốn từ việc phát hành mới cổ phiếu hoặc trái
phiếu có chi phí cao, công ty sẽ lựa chọn nguồn vốn bên trong từ lợi nhuận giữ lại để
tái đầu tư. Phần còn lại mới dùng để chi trả cổ tức.
Tuy nhiên, nếu có sự cam kết chắc chắn về tỷ lệ chi trả, nhiều cổ đông lại ưu
thích tỷ lệ giữ lại lợi nhuận cao để tái đầu tư hơn là chia cổ tức nếu như mức doanh
lợi mà công ty đạt được do đầu tư cao hơn mức doanh lợi mà chính các nhà đầu tư có
thể thu được nếu đầu tư ở chỗ khác. Như vậy, mô hình thặng dư cổ tức thích hợp với
những công ty có nhiều cơ hội đầu tư tăng trưởng. Đối với các công ty này việc tăng
cường đầu tư cho phát triển tạo ra thế mạnh cho công ty là vấn đề được ưu tiên hàng
đầu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhược điểm của mô hình thặng dư cổ tức là ở chỗ nếu các công ty áp dụng
một cách cứng nhắc mô hình này sẽ dẫn đến sự bất ổn cao đối với tỷ lệ chi trả cổ tức.
Chẳng hạn, các cơ hội đầu tư trong một chu kỳ kinh doanh là nhiều, công ty sẽ trả cổ
tức ở mức độ rất thấp hoặc không chi trả. Ngược lại, nếu trong thời gian tiếp theo
công ty không có các cơ hội đầu tư có lãi, tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ ở mức rất cao. Điều
này sẽ ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu của công ty cũng như hình ảnh đẹp của công
ty.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chon chính sách cổ tức của công ty
1. Nhóm các yếu tố nội bộ
1.1. Chu kì sống của ngành và các cơ hội đầu tư
Mỗi công ty tham gia hoạt động kinh doanh đều phải trải qua những giai đoạn
nhất định của chu kỳ sống, mỗi giai đoạn có độ dài khác nhau tuỳ thuộc vào sự khác
biệt giữa các ngành nghề và cơ hội đầu tư của từng công ty. Điều này dẫn đến những
bằng với mức của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Chính sách cổ tức mà các công ty
thường chọn lúc này là trả cổ tức bằng tiền ở mức cao (có thể dao động trong khoảng
từ 40% đến 60% thu nhập, tuỳ thuộc vào những đặc trưng cá biệt của công ty, như
mức độ đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính cũng như tính biến động của doanh
thu và thu nhập qua các chu kỳ kinh doanh)
1.2. Khả năng thâm nhập thị trường vốn
Các công ty đều có khả năng huy đông các nguồn tài trợ từ bên ngoài như phát
hành cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng. Mức độ huy động của các công ty hoàn
toàn khác nhau, phụ thuộc vào tình hình tài chính, chiến lược kinh doanh của công ty.
Tuy thuộc vào khả năng huy động từ thị trường vốn, công ty quyết định tài trợ vốn
nội bộ hay bên ngoài. Chính sự nhận định của bản thân công ty, hay nói chính xác
hơn là của các nhà quản lý công ty, về khả năng thâm nhập vào các thị trường tài
chính trong tương lai cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định về
chính sách cổ tức của họ. Một công ty quy mô lớn hoặc trung bình với một hồ sơ
kinh doanh đẹp đẽ có thể sẵn sàng trả cổ tức cao trong hiện tại vì biết rằng họ có thể
phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu mới trong tương lai khi cần thêm vốn. Thậm chí,
một số công ty còn phát hành các công cụ nợ (như trái phiếu, kỳ phiếu ...), nợ và cổ
phiếu hôm nay để sử dụng một phần số tiền thu được duy trì ổn định mức độ cổ tức
hiện hành cho người đầu tư. Trái lại, các công ty nhỏ có thể phải trì hoãn các khoản
chi trả cổ tức hiện tại nếu nghĩ rằng họ sẽ gặp khó khăn trong việc tham gia các thị
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trường vốn trong tương lai và giữ lại phần lớn số lợi nhuận có được để tài trợ cho
những nhu cầu đầu tư trước mắt.
1.3. Khả năng thanh toán cổ tức bằng tiền mặt
Trên lý thuyết, trong điều kiện công ty kinh doanh có lãi, sau khi đã thực hiện
các nghĩa vụ cần thiết như trả lãi tiền vay, nộp các khoản thuế trong đó có cả thuế thu
nhập công ty, phần lợi nhuận còn lại công ty có thể dùng để trả cổ tức hoặc giữ lại để
tái đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, kinh doanh có lãi không phải bao giờ cũng đồng
nghĩa với việc công ty có đủ nguồn tiền để trả cổ tức cho cổ đông. Điều này xảy ra do
động và không ngừng phát triển.
Đối với nhân viên công ty, chính sách cổ phần ưu đãi giúp họ phát huy khả
năng của chính mình và thu lợi trực tiếp từ sự phát triển của công ty thông qua các ưu
đãi cổ phần mà họ có được. Bên cạnh đó, họ còn được cung cấp thông tin về tình
hình hoạt động của công ty và được tham gia quyết định các vấn đề quan trọng và các
vấn đề khác liên quan đến công việc mà họ đang làm.
Nhà nước sẽ hưởng lợi gián tiếp từ việc doanh nghiệp phát triển, cổ đông và
nhân viên công ty ngày một giàu hơn. Để khuyến khích các chương trình cổ phần ưu
đãi cho nhân viên, Nhà nước nên xem xét tạo ra các ưu đãi về thuế cho các chương
trình này.
Về góc độ văn hoá xã hội, đây là việc nên được khuyến khích do các chương
trình này có những yếu tố tích cực : nó mang tính nhân bản và thể hiện văn hoá doanh
nghiệp : chia sẽ lợi nhuận của công ty cho những người có công tạo nên nó; tạo ra sự
công bằng hơn khi mà xã hội có nhiều chủ.
2. Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài
2.1. Chi phí phát hành trên thị trường vốn
Sự tham gia của một tổ chức chuyên nghiệp, giúp cho công ty huy động vốn
trên thị trường (như các thủ tục xin phép phát hành, lập bản cáo bạch, điều tra khách
hàng tiềm năng, hoặc bao thầu số chứng khoán phát hành), sẽ gây ra một khoản chi
phí cho tổ chức phát hành và tuỳ theo mức độ cũng như nội dung phần việc đảm
nhiệm mà chi phí đó có thể cao hay thấp. Đó là còn chưa nói đến chi phí phụ thêm có
thể phát sinh trong trường hợp thị trường đánh giá công ty ở mức thấp hơn giá trị của
nó, việc bán những chứng khoán bị đánh giá dưới giá trị sẽ làm cho các cổ động hiện
tại bị thiệt hại một khoản bằng chênh lệch giữa giá trị nội tại (thực) của chứng khoán
và giá bán mà công ty nhận được.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nếu công ty lựa chọn hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt lấy từ nguồn lợi
nhuận của công ty, thì công ty sẽ phải phát hành cổ phiếu mới để huy động nguồn
vốn cần thiết cho đầu tư. Điều này đòi hỏi phải có chi phí phát hành. Đồng thời, việc
2.3. Thuế thu nhập từ cổ tức
Nếu mức thuế suất áp dụng đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu tư quá cao,
thu nhập cuối cùng mà người đầu tư cổ phiếu nhận được sẽ giảm mạnh. Điều này có
thể ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và tác động bất lợi đến mức cầu đầu tư vào cổ
phiếu của công chúng đầu tư. Bên cạnh đó, bất kỳ cách cư xử lý thuế khác biệt nào
đối với cổ tức và lời vốn – hai loại thu nhập mà người đầu tư cổ phiếu mong muốn
nhận được - cũng có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế của người đầu tư và đến
lượt nó, lợi nhuận này tác động đế mức cầu về cổ tức, đến mong muốn được công ty
phân phối thu nhập dưới dạng trả cổ tức bằng tiền hay mua lại cổ phiếu. Vì vậy, thuế
có thể tác động đến quyết định chi trả cổ tức của ban quản lý, những người mong
muốn tối đa hoá giá trị thị trường của công ty, và theo đó ảnh hưởng đến mức cung
cổ tức. Như vậy thuế có thể gây ra những ảnh hưởng quan trọng đến các quyết đầu tư
cá nhân lẫn quyết định về chính sách cổ tức của công ty.
2.4. Nội dung thông tin của các thông báo về cổ tức
Trong một thị trường cân xứng về thông tin, tất cả các bên quan tâm, trong đó
bao gồm các nhà quản lý, các ngân hàng, các cổ đông và những đối tượng khác, đều
có những thông tin như nhau về một công ty. Tuy nhiên, trên thực tế, trong điều kiện
một thị trường không hoàn hảo, sự bất cân xứng về thông tin thường tồn tại do một
nhóm người nào đó luôn có được những thông tin tốt hơn về tình hình hiện tại và
những triển vọng tương lai của công ty. Hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như những
người hành nghề trong lĩnh vực tài chính đều tin rằng so với những bên quan tâm
khác thì các nhà quản lý công ty nắm được những thông tin tốt hơn về công ty của
họ, và những thông tin đó có thể được sử dụng để tạo ra những tác động nhất định
đến thị trường. Điều này cũng có thể xảy ra trong quá trình lựa chọn chính sách cổ
tức phù hợp cho công ty.
2.5. Quy định pháp lý và thông lệ
Mỗi công ty là tổng hoà các mối quan hệ phức tạp, vì vậy luôn tiềm ẩn những
xung đột về lợi ích có thể nảy sinh sau các quyết định cụ thể của công ty. Một trong
những quyết định dễ làm phát sinh xung đột nhất là quyết định về chính sách cổ tức.
Chính sách cổ tức có thể tác động đến kết cấu tài sản, cơ cấu vốn, các kế hoạch đầu
Trích lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi :sự khác biệt đối với quỹ khen thưởng
phúc lợi của doanh nghiệp nhà nước là số dư của Quỹ này không nhiều, tỷ lệ trích lập
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
căn cứ vào kết quả kinh doanh cũng như bình quân thu nhập của người lao động theo
ngành và địa phương.
Trả cổ tức cho các cổ đông : cổ tức chi trả bằng tiền thường dưới hình thức tạm
ứng hàng quý hoặc 6 tháng. Khi họp đại hội đồng cổ đông, đại hội đồng sẽ quyết
định mức chi trả và chi trả tiếp nếu hiệu quả. Đối với kế hoạch chi trả cổ tức bằng cổ
phiếu, công ty phải trình đại hội đồng cổ đông quyết định thông qua
Lợi nhuận giữ lại : Nguồn lợi nhuận này được coi là khoản dự phòng nếu công
ty không đạt được mức lợi nhuận mong muốn mà vẫn giữ tỷ lệ chi trả cổ tức. Theo
quan điểm khác, đây là nguồn tài trợ nội bộ của công ty
Trên đây chỉ là các khoản mục được các công ty phân chia lợi nhuận. Trong các
quỹ trên, quỹ đầu tư phát triển được phân bổ khá cao nhưng về quan điểm tài chính
hiện đại, việc trích lập quỹ này không cần thiết. Nếu công ty có dự án về phát triển,
công ty nên tạo lập nguồn ngân quỹ dùng cho việc này hơn là trích vào nguồn vốn
chủ sở hữu.
Chương II Thực trạng chính sách cổ tức của một số công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. Tổng quan về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Số lượng và cơ cấu của các công ty niêm yết trên TTCK VN
( Nguồn www.bsc.com.vn )
Cho đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động
được gần 7 năm. Một vài năm gần đây cả thế giới đã thấy được sự phát triển mạnh
mẽ về cả số lượng và chất lượng. Tính đến 31 tháng 10 năm 2007 số công ty niêm
yết trên thị trường là 209 công ty, trong đó có 115 công ty niêm yết tại trung tâm giao
dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và 94 công ty niêm yết tại trung tâm giao
niêm yết hoạt động ít hiệu quả. Doanh thu giảm, lợi nhuận giảm thậm chí bị lỗ như
BBC, BTC, BBT
Biểu đồ: Lợi nhuận sau thuế của một số công ty niêm yết
Sau 6 năm niêm yết, các công ty đã phân hoá mạnh. Đối với các công ty hoạt
động tốt, giữ được vị thế trên thị trường, cổ phiếu của các công ty này được xếp vào
nhóm “blue chip”. Các công ty còn lại ở mức khá và mức trung bình.
Khi đánh giá chỉ tiêu EPS, các công ty niêm yết đạt mức trung bình từ 3000
– 40000 đồng/cổ phiếu. Một số công ty như GMD, REE, SAM... đạt mức EPS từ
5000 đồng/cổ phiếu đến 6000 đồng/cổ phiếu. Cá biệt có một số công ty có mức EPS
rất thấp như BBT, BTC hoặc bị lỗ như LAF
Biểu đồ: Chỉ số EPS của một số công ty niêm yết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Với tình hình kinh doanh như trên, chính sách cổ tức của các công ty niêm yết phụ
thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh của công ty.
II. Thực trạng chính sách cổ tức của một số công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Nguồn - Trích dẫn số liệu của các chỉ tiêu như thu nhập sau thuế, cổ tức, đầu tư
mới từ các bản cáo bạch củ các công ty niêm
- Trích dẫn chỉ tiêu giá thị trường từ kết quả giao dịch trên thị trường tập
trung vào phiên giao dịch cuối năm
- Các chỉ tiêu còn lại được tính toán để phân tích
Đề tài lựa chọn một số công ty theo vài nhóm ngành để nghiên cứu về thực
trạng chính sách cổ tức, trên cơ sở đó xem xét đặc trưng về chi trả cổ tức của mỗi
nhóm ngành.
1. Nhóm ngành chế biến thuỷ sản
Trước hết, đây là một trong những ngành ưu tiên xuất khẩu mũi nhọn của Việt
Nam. Nhiều hoạt động của ngành nằm trong danh mục được hưởng ưu đãi đầu tư.
Thuế suất thu nhập doanh nghiệp được qui định ở mức 25% còn thuế suất giá trị gia
tăng trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến thuỷ sản xuất khẩu là 5%. Yêu cầu công
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368