Thỏa ước Basel, lộ trình và thực trang áp dụng của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam - Pdf 13


- 1 - Tiểu luận

THỎA ƯỚC BASEL, LỘ TRÌNH VÀ THỰC
TRANG ÁP DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

- 2 -
LỜI MỞ ĐẦU
Hai năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, Ủy ban Basel về kiểm soát ngân
hàng đã đạt được thỏa thuận nhằm khép các ngân hàng vào những tiêu chuẩn ngặt
nghèo hơn. Sau những quyết định năm 1988 và 2007 (gọi là Basel I và Basel II), văn
bản mới có tên Thỏa thuận Basel III là sự đút rút những bài học từ cuộc khủng hoảng
vừa qua, đồng thời là nền tảng để thiết lập trật tự tài chính thế giới mới.
Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản
để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân hàng. Các tiêu
chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng giữ tiền nhiều hơn và
chất lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành của Basel II. Các đòn bẩy
mới và tỷ lệ tính thanh khoản đưa ra nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa
trên rủi ro và các biệ pháp để đảm bảo đủ kinh phí được duy trì trong trường hợp xảy
ra khủng hoảng.
Đề tài tiến hành nghiên cứu các chuẩn mực và quy định trong hiệp ước Basel để làm
cơ sở ứng dụng Basel trong quản trị rủi ro của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam. Cùng với các phiên bản Basel I - Basel II và Basel III, đề tài chỉ tóm tắt một số
nội dung có liên quan trực tiếp đến khả năng ứng dụng tại Việt Nam bao gồm một số

trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp
chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, Ủy ban
khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng
can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên.
Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt
động ngân hàng của nhóm G10. Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến
của Ủy ban. Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính. Một
mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc
tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập
mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng. Để đạt được mục tiêu

- 4 -
đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên
quan đến vấn đề này.
Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó
được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Hệ
thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%.
Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến
ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Đến năm 1996, Basel I
được sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng
6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu
vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá
nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố
thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực
giám sát. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã
chính thức được ban hành.
Lịch sử vắn tắt của Hiệp ước vốn Basel:
(1) Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ
1992.
(2) Năm 1996, Basel I được bổ sung thêm rủi ro thị trường (được thực thi chậm

Thiếu vốn rõ rệt

Thiếu vốn M
ức vốn thích
hợp
Mức vốn tốt
b) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3
Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế
chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng.
Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
 Cấp 1: Vốn nòng cốt là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được
công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn

- 6 -
- Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại)
- Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo
tài chính
- Lợi thế kinh doanh (goodwill)
 Cấp 2: Vốn bổ sung
- Lợi nhuận giữ lại không công bố
- Dự phòng đánh giá lại tài sản
- Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung
- Công cụ vốn hỗn hợp
- Vay với thời hạn ưu đãi
- Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
 Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Vốn tính theo rủi ro gia quyền
RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân
đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự
điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình.
2.2 Cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính
Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó tỷ lệ vốn bắt
buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi
ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi
ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel I, cách tính chi
phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay
đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành. Trọng số rủi ro

- 8 -
của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp
hạng.
Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II
cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I.
Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt,
như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro
pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên các rủi ro tồn tại khác (residual risk).
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các
ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo
danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó.
Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và
chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn
tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ
không hài lòng với kết quả của quy trình này. Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các
ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định. Thứ tư, giám sát viên
nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới
mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn
không được duy trì trên mức tối thiểu.
Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích

- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa
nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm
bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
2.4 Hạn chế của Basel II:
Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố
toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính
hiện tại đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Đó là:

- 10 -
- Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn
có thể được chấp nhận rộng rãi.
- Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của
chu kỳ kinh doanh.
- Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản
phẩm dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao
3. Hiệp ước Basel III
Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu năm 2008 cho thấy thiếu sót
trong các quy định về tài chính trong hoạt động Ngân hàng. Nếu Basel II chủ yếu tập
trung khía cạnh ”tài sản” thì Basel III phần lớn tập trung vào khía cạnh ”nợ”của các
Ngân hàng. Trong đó, Basel III yêu cầu tăng cường về vốn của Ngân hàng, giới thiệu
các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Mục
tiêu chính của quy định mới nhằm cải thiện khả năng chịu đựng của ngành ngân hàng
khi đối mặt cú sốc bắt nguồn từ những căng thẳng tài chính và kinh tế, làm giảm nguy
cơ khủng hoảng lan truyền của khu vực tài chính cho nền kinh tế.
3.1 Mục tiêu của Basel III: Hạn chế rủi ro, phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng tái
phát và ràng buộc các ngân hàng vào trách nhiệm.
3.2 Nội dung chính: Như vậy, nếu triển khai áp dụng basel III, các NHTM sẽ cần
thay đổi trên 4 nội dung chính như sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel 3 sẽ giúp nâng cao chất
lượng vốn của các ngân hàng một cách đáng kể. Đây là đặc điểm chính của Basel 3.

với những ngân hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống. Như vậy, Basel 3 là một
bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính và là lần đầu tiên đề cập tới các
thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho phương pháp giám sát
an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang nghiên cứu các thước đo
đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ thống.

- 12 -
Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel 3 đưa
ra tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọng chưa có tiêu chuẩn quốc
tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành vào 1/1/2015,
giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng thẳng thanh
khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao
và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn.
Ngoài ra, Basel III còn đưa ra các biện pháp giám sát chặt chẽ các ngân hàng
và nhằm ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng, hoặc chia cổ tức cao trong bối cảnh
tình trạng tài chính và tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo. Basel III cũng đồng thời rà
soát lại các tiêu chuẩn về định nghĩa vốn cấp 1, vốn cấp 2 và sẽ loại bỏ các khoản vốn
không đủ tiêu chuẩn khi giám sát chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu.
Như vậy, có thể thấy rằng, loại trừ khoản vốn đệm phòng ngừa rủi ro tài chính
2,5%, tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu không thay đổi (vẫn là 8%). Tuy nhiên, kết cấu
của các loại vốn đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng vốn cấp 1, đồng
thời tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu phổ thông trong vốn cấp 1. Nếu tính đầy đủ cả 2
khoản vốn đệm dự phòng suy giảm tài chính và dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh
tế thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu được điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) tăng lên thành 9,5%
(4,5% + 2,5% + 2,5%) ở Basel III. Nếu loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế
2,5% (không bắt buộc trong điều kiện bình thường) thì mức tối thiểu vốn chủ cũng
phải đạt mức 7%. Bên cạnh đó, có thể một số khoản trước đây được tính vào vốn chủ
sở hữu nay phải bóc tách ra vì không đủ điều kiện coi là vốn chủ sở hữu. Chẳng hạn,
khoản vốn vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tổ chức tài chính khác, khoản vốn có
nguồn gốc từ số thuế thu nhập lưu kỳ (hoãn lại) Vì thế, yêu cầu nâng cao tỷ lệ vốn

7%
Loại trừ khỏi vốn chủ sở
hữu các khoản vốn không đủ
tiêu chuẩn
20% 40% 60% 80% 100% 100%
Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4,5% 5,5% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0%
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8%
Tổng vốn tối thiểu cộng vốn
đệm dự phòng bắt buộc
8% 8% 8% 8,625 9,125 9,875 10,5
Loại trừ khỏi vốn cấp 1 và
cấp 2 các khoản không đủ
tiêu chuẩn
Thực hiện theo lộ trình 10 năm bắt đầu từ năm 2013
Vốn dự phòng chống hiệu
ứng chu kỳ
Tuỳ theo điều kiện của quốc gia: mức từ 0% - 2,5%
(Nguồn:
3.3 Những ưu, khuyết điểm của Basel III
Ưu điểm:

- 14 -
- Buộc các ngân hàng phải tăng mức vốn dự trữ, đặc biệt là vốn các cổ đông
hoặc của chủ sở hữu.
- Gia tăng tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng.
- Áp dụng bổ sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở mức 3%
Khuyết điểm:
- Cho phép Ngân hàng tự tính toán các yêu cầu về vốn dự phòng của họ, điều
này dẫn đến các “xung đột về lợi ích” – Stefan Best – Giám đốc điều hành tại
Standard & Poor’s. Ông Best cho rằng, các nhà điều tiết nên được trao quyền và có đủ


- 16 -
III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BASEL III
- Thứ nhất, việc áp dụng Basel III sẽ buộc các ngân hàng phải dành nhiều vốn
dự phòng hơn, do đó sẽ giảm bớt lượng vốn cho vay ra nền kinh tế điều này sẽ làm
giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Theo một nghiên cứu công bố ngày
17/02/2011 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ước tính việc triển khai
quy chế Basel III trong trung hạn sẽ khiến GDP toàn cầu giảm từ 0,05 - 0,15% mỗi
năm. Điều này được lý giải do các ngân hàng đòi hỏi phải để dành nhiều vốn dự
phòng hơn, do đó sẽ giảm bớt lượng vốn cho vay ra nền kinh tế. Viện tài chính quốc tế
(IIF), một hiệp hội của các ngân hàng và các tổ chức tài chính, cũng chỉ trích Basel III
sẽ làm giảm GDP của Hoa Kỳ và Anh còn 3,2% trong năm 2015, đồng thời làm tăng

- Thứ tư, các nước có nhất thiết phải áp dụng Basel không? Điều này còn tùy thuộc
vào tình hình thực tế tại mỗi quốc gia. “Quan trọng là ngân hàng tốt nhất, chứ không
phải là ngân hàng tuân thủ tốt nhất", ông Philippe Carrel, Phó chủ tịch điều hành, quản
lý rủi ro của Thomson Reuters phát biểu tại hội thảo Rủi ro Việt Nam 2011
(RiskVietnam) được AsiaRisk tổ chức ngày 26/04 tại Hà Nội. - 18 -
IV. LỘ TRÌNH VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BASEL TẠI CÁC NHTM VIỆT
NAM
1. Lộ trình
Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của việc
thực hiện Basel II trong khi thế giới đã phấn đấu thực hiện Basel III, do đó, các ngân
hàng Việt Nam sẽ phải tiếp cận chuẩn an toàn theo cách của riêng mình mà không
nhất thiết phải đi theo trình tự Basel I, II, III.
Văn bản đầu tiên có quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là Quyết định
297/1999/QĐ-NHNN5 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về các
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Tại quy định này, tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và
chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I. Đến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết
định 457/2005/QĐ-NHNN với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương

- Lộ trình loại bỏ các khoản giảm trừ khỏi vốn cấp 1 được áp dụng từ
01/01/2014 với mức 20%, và đến trước 01/01/2019 sẽ loại bỏ được 100%.
2. Thực trạng áp dụng Basel trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Hiện nay, khi các ngân hàng trên thế giới đã đề cập tới việc áp dụng chuẩn mực
Basel III thì các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa chính thức đề cập tới việc áp dụng
một chuẩn mực nào của Basel. Mặc dù các quy định trong những năm gần đây của
Ngân hàng Nhà nước như Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định
457/2005/QĐ-NHNN, Thông tư số 13, 19 năm 2010 cũng đã đề cập tới một số vấn đề
liên quan tới các điều khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn ở mức rất hạn chế. Việc
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa áp dụng các chuẩn mực của Basel một

- 20 -
cách chính thức nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong khi các ngân hàng trên
thế giới đã có những bước phát triển cao hơn sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng thương mạiViệt Nam.
Việc tiếp cận với các chuẩn mực của Basel, đặc biệt là Basel II đòi hỏi kỹ thuật
phức tạp và chi phí khá cao. Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai
đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn,
thách thức và mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và mở cửa thị
trường dịch vụ tài chính – ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc
từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng
cường năng lực hoạt động, giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại và
nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường tài chính quốc tế, tạo điều kiện cho các
ngân hàng Việt Nam có thể mở rộng thị trường trong thời gian tới.
2.1 Quy định an toàn vốn tối thiểu:
Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức
độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt
Nam, sự tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các
nhà quản trị ngân hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch hành động. Các tổ
chức như Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia

hệ thống ngân hàng có tăng lên, nhưng vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo tiêu chuẩn tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu. Vấn đề đáng lưu ý ở giai đoạn này là do tác động của chính
sách kích cầu cũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ của NHNN nên tín dụng tại các
NHTM đã tăng đột biến. Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài sản rủi ro của các NHTM
tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm trên đều có xu hướng sụt giảm tỷ lệ an
toàn vốn, trong đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tụt xuống dưới mức an toàn
tối thiểu 8% trong năm 2009.

- 22 -
Năm 2010, NHNN ban hành thông tư 13/TT-NHNN thay thế quyết định
475/2005/QĐ-NHNN và nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên 9% và phương pháp tiếp
cận từng bước Basel II. Giai đoạn thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu theo Thông
tư số13/2010/TT-NHNN, bức tranh về đảm bảo an toàn vốn là khá phức tạp. Nếu nhìn
vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống NHTM Việt Nam đã đảm bảo được hệ
số an toàn vốn tối thiểu 9%. Một số ít các NH chưa đáp ứng được bao gồm VBARD
(6,1%), MSB (8,1%), CTG (8,6%) và NVB (8,9%). Tuy nhiên, tình hình đảm bảo an
toàn vốn tối thiểu của các NHTM có xu hướng phân nhóm rõ rệt. Trong các
NHTMNN lớn, Agribank và Vietinbank vẫn không thể đạt được quy định về mức an
toàn vốn tối thiểu 9% trong năm 2010. Ðiều này là đáng lo ngại nếu xét trên phương
diện rủi ro hệ thống. Ðối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế
đạt được yêu cầu mới của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ
thực sự gặp khó khăn trước yêu cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn. Cụ thể đến
thời điểm 31/06/2011, tỷ lệ CAR của nhiều các NHTMCP như ACB, Sacombank,
Eximbank, Techcombank, Ðông Á, Quân đội… đã đạt trên 9% theo tinh thần của
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, chỉ số này cho toàn ngành vào khoảng 11,5% thấp
hơn so với mức CAR bình quân 13,1% của các ngân hàng khu vực châu Á – Thái
Bình Dương và thấp hơn mức CAR bình quân 12,3% của một số nước Đông Nam Á
(CAR của Thái Lan là 16%, CAR của Malaysia là 14,6%) Trong khi đó, đến tháng
11/2011, vẫn còn 5 NHTMCP vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Nếu xem xét theo
tinh thần Nghị định 141/NÐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì tính đến thời


13,37

13,41

14,25

13,65
NHTM NN 9,06 10,28

10,41

10,5 10,31

10,15

12,12

11,10
NHTM CP 12,99

14,01

13,19

13,03

12,86

13,83

 Về tỷ lệ trích lập dự phòng: Quy định các NHTM phải trích lập 2 loại dự phòng
là dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Như vậy, quyết định 493 và 18 ra đời là một
bước tiến đáng kể so với quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN và công văn 354/CV-
CNH thực hiện quyết định 688/2002/QĐ-NHNN, thể hiện nỗ lực nâng tầm hệ thống
NHVN của NHNN, tạo sự thống nhất trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam.
Hai văn bản này cho thấy NHNN đã từng bước vận dụng Basel II trong việc cho phép
các NHTM lựa chọn phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại nợ và trích
lập dự phòng và cũng đặt ra yêu cầu quản lý nợ, kiểm soát rủi ro cao hơn đối với các
NHTM.

- 24 -
Tuy nhiên, khi áp dụng Điều 6 hoặc Điều 7, tỷ lệ nợ xấu có sự sai biệt khá lớn.
Việc phân loại nợ theo Điều 6 chỉ căn cứ vào lịch sử trả nợ của khách hàng, chứ chưa
dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng để đánh giá, xếp hạng. Ngay với hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thực hiện phân loại nợ mới (Điều 7) cũng
thể hiện sự bất ổn, do các NHTM tự xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo
một phương pháp riêng đã tạo nên sự không thống nhất trong việc quản lý chất lượng
tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. Đồng thời việc
quản lý của cơ quan Nhà nước đối với việc các NHTM phân loại nợ mới gặp nhiều
khó khăn, không thống nhất. Nguyên nhân chính là quyết định 493 và 18 không quy
định cụ thể đối với một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ nào.
Với những hạn chế trên, hiện NHNN đang trong quá trình soạn thảo văn bản
mới thay thế 493 và 18, kỳ vọng văn bản mới này sẽ thống nhất phương pháp, nội
dung quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro trong toàn hệ thống TCTD trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
2.3 Xếp hạng tín dụng
Đối với ngân hàng, xếp hạng tín dụng là cơ sở để đánh giá khả năng trả nợ của
đối tượng có nhu cầu cấp tín dụng góp phần phục vụ cho việc ra quyết định cấp tín
dụng (cấp hay không cấp tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất,
biện pháp bảo đảm tiền vay…) và công tác quản lý tín dụng. Xếp hạng tín dụng cũng

thông tin của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, một động thái thể hiện việc
đang từng bước ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro của hệ thống NHTM Việt
Nam.
Theo Điều 4 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, quy định các TCTD trong
thời gian tối đa 3 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực, phải xây dựng Hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ việc phân loại nợ, quản lý chất lượng tín dụng. Do đó
bản thân mỗi NHTM Việt Nam cũng từng bước xây dựng một hệ thống xếp hạng tín
dụng riêng, tuy nhiên nhìn chung các NHTM Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status