Tương lai của Thành phố hoa phượng giai đoạn 2004-2014.
I. NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hải phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau thành Phố Hồ Chí
Minh và Thủ đô Hà Nội. Thành phố nằm ở phía đồng bắc Việt Nam, triên bờ
biển thuộc vịnh bắc bộ, trong toạ độ địa lý 20
o
01'15" vĩ độ bắc và 106
o
23'50" -
107
o
45' kinh độ Đông: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp thái
bình, phía tây giáp Hải Dương và phía đông là Vịnh Bắc Bộ.
Hải phòng có tổng diện tích tự nhiên là 1519km
2
, bao gồm cả 2 huyện
đảo (Cát Hải và Bạch Log Vĩ). Địa hình Hải Phòng đa dạng, có đất liền
(chiếm phần lớn diện tích) và vùng biển - Hải đảo, có đồng bằng ven biển (độ
cao từ 0,7 - 1,7 m so với mực nước biển), có núi.
Hải phòng có bờ biển dài 125 km. Vùng biển có đảo Cát Bà được ví
như hòn ngọc của Hải Phòng, một đảo đẹp và lớn nhất trong quần thể đảo có
tới 360 đảo lớn nhỏ quây quần bên nó và còn nối tiếp với vùng đảo Vịnh Hạ
Long. Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100
km
2
, cách thành phố 30 Hải Lý.. Cách Cát bà hơn 90 km về phía đông nam
đảo Bạch Long Vĩ - khá bằng phẳng và nhiều cát trắng.
Hải Phòng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ không khí trung
bình trong năm 23
o
tới 20 loại thú, 69 loại chim,20 loài bò sát và lưỡng cư, 11 loại ếch nhái, đặc
biệt là loại voọc đầu trắng được ghi vào sách đỏ để boả vệ. ở đây còn có khỉ
vàng, sơn dương và nhiều loài chim đẹp như cao cát, bói cá, đầu rìu…Vườn
quốc gia Cát Bà là nơi có những cánh rừng nguyên sinh nhiệt đới lớn của Việt
Nam. Theo điều tra bước đầu, ở đây có 745 loài thực vật, 495 họ, trong đó có
350 loài cây thuốc. Nhiều cây quý cần bảo vệ như trò đôi, trai lý, lát hoa, kiêm
giao….
Đồ sơn là một bán đảo đồi núi, rừng thông nối tiếp nhua vươn ra biển
dài đến 5 km, có giá trị chủ yếu về phong cảnh và môi trường sinh thái.
Trong đất liền có vùng núi Voi, nằm ở phía bắc thị xã Kiên An, bên bờ
sồng Lạch Tray. Đây là một quần thể thiên nhiên đa dạng, câu tạo chủ yếu là
núi đá vôi, với nhiều hang động kỳ thú, như động Long Tiên, động Nam Toà,
Bắc Đẩu…
Trang 2
Trành Kênh (huyện Thuỷ Nguyên) cũng là một quần thể núi đá vôi,
hang động, sông nước với cảnh trí thiên nhiên thơ mộng. Cát Bà, Đồ sơn, Núi
Voi, Trành Kênh là những địa danh du lịch nổi tiếng của thành phố cảng.
2.3. Tài nguyên biển
Tài nguyên biển của Hải Phòng được xem như một thế mạnh mà thiên
nhiên ban tặng. Do cấu trúc về địa hình của dãy ven bờ và vùng biển của
thành phố đã tạo ra những lợi thế đặc biệt cho sự phát triển toàn diện ngành
hải sản.
Huyện đảo Cát Bà với hàng tram đảo lớn nhỏ là những núi đá tạo thành
một quần thể có cảnh quan đẹp, có nhiều vụng, vịnh, gần ngư trường, rất
thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt, dịch vụ hậu cần và
chế biển hải sản, nơi neo đậu các đậu các tầu thuyền sau mỗi chuyến đi biển
và khi gặp gió bão. Với lợi thế đố, Cát Bà trở thành trung tâm hội tụ nghề cá
của các tỉnh trong vùng và cả nước.
Huyện Đảo Bạch Long Vĩ Nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, sát với ngư trường
trọng điểm, trừ lượng cá cho phêp khai thác lớn, nguồn lợi hải sản phong phú,
(mực ống) và tháng 2 - 3 (mực nang). Trữ lượng ước tính khoảng 5000 tấn và
khả năng cho phép khai thác khoảng 2000 tấn.
Ngoài ra vùng biển đất cảng còn có các loài hải sản khác, khai thác
hàng năm khoảng trên dưới 5000 tấn và các loài nhuyễn thể khác như sò lông,
bào ngư, hải sâm, cầu gai… là những sản có giá trị trên thị trường trong nước
và xuất khẩu.
Hải Phòng còn có tiềm năng phát triển diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở
cả 3 vùng (nước ngọt, nước lợ và nước mặn) khoảng 43 000 ha, vùng nước
ngọt: ao hồ: 2 5000 ha: ruộng trũng: 5 000 ha: mặt nước lớn (sông Đa Độ,
sông giá, sông Rế): 1 500 ha. Vùng nước mặn, với nhiều áng vịnh vùng đông
bắc quần đảo Cát Bà và khu đảo Bạch Long Vĩ có khả năng phát triển nuôi
trồng các loại hải sản: 10 000 ha. Ngoài ra cò có vùng rừng ngập mặn, ruộng
lớn đã tạo ra hệ sinh thái đa dạng, có tác dụng duy trì, bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thuỷ sản và phục vụ nuôi trồng thuỷ sản.
Trang 4
2.4. Tài nguyên khoáng sản và nguồn nước
Khoáng sản của Hải Phòng chủ yếu là đá vôi tập trung ở Trang Kênh,
trữ lượng (A + B + C1 + C2) đạt trên 185 triệu tấn. Puzolan ở Pháp cổ trữ
lượng trên 70 triệu tấn nên rất có nhiều kiều kiện để phát triển công nghiệp
sản xuất xi măng với công suất 4 - 5 triệu tân, đất phèn và các đặc sản phẩm
hoá chất gốc từ cacbonnat.
Nguồn nước của Hải Phòng bị hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến
phát triển kinh tế - xã hỗi của thành phố. Trên lãnh thổ Hải Phòng có 5 con
sông chảy qua, những đều bị ảnh hưởng của thuỷ triều, nước bị nhiễm mặn
nhất là về mùa khô. Việc điều tra nước ngần được triển khai sớm nhưng chưa
có triển vọng lớn. Nhìn chung nước ngầm ở trầm tích thứ 4 chất lượng không
bảo đảm, bị nhiễm mặn, không dùng để ăn được. ở dưới tầng đá gốc có triển
vọng nước ngọt chất lượng tốt cho sản xuất thực phẩm, song phân bố không
tập trung. Hiện nay, nguồn nước ngọt cho sản xuất và đời sống phải lấy từ Hải
Dương và từ nước mặt trong các sông, hồ.
Mạng lưới giao thông đường sông vận chuyển tới trên 40% lượng hàng hoá
của các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nọi - Lào Cai tới Côn Minh (tỉnh Vân
Nam) ở tây nam Trung Quốc đã đwocj thông tàu sẽ tăng nhanh các dịch vụ
vận chuyển hàng hoá cho các địa phương giầu tiềm năng này và vận tải quá
cảnh của Trung Quốc.
Tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội còn nối trực tiếp với truyến
đường sắt quan trọng Bắc Nam tới thành Phố Hồ Chí Minh.
Hải Phòng có 2 sân bay Cát Bi và Kiến An. Sân bay Cát Bi nằm cách
trung tâm thành phố 5 km. Sân bay đã được nâng cấp, có thể tiếp nhận máy
bay cỡ Airbus 320. Hiện nay sân bay đang được sử dụng có các tuyến bay nội
địa nối liền Hải Phòng với thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và là sân bay dự
bị cho sân bay quốc tế Nội Bài.
Chính phủ đang có kế hoạch tiếp tục xây dựng kéo dài đường cất hạ
cánh để tiếp nhận các loại máy bay lớn hơn và mở rộng tuyến bay đến các
nước trong khu vực.
Trang 6
Với hệ thống mạng viễn thông hiện đại Hải Phòng có thể đáp ứng các
dịch vụ thông tin liên lạch trong nước và quốc tế như điện thoại, điện thoải
thẻ, facsimile, telex, nhắn tin, điện thoại di động, điện thoại di động trả trước
e - mail và in terenet. Ngoài ra còn có các dịch vụ chuyển phát nhanh như
EMS, chuyển phát toàn cầu như DHL, FedEX…Đến năm 2000 Hải Phòng đã
có 5 máy điện thoại/100dân.
Nguồn điện cho Hải Phòng hiện nay là từ điện lưới quốc gia, chu yếu
cung cấp bởi nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại và nhiệt điện
Uông Bí.
Hiện chính phủ đang có kế hoạch xây dựng một nhà máy nhiệt điện
công suất 300 - 600MW ở Hải Phòng để đảm bảo việc cung cấp điện năng cho
phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thành phố.
Hải Phòng hiện có 6 nhà máy xủe lý và cung cấp nước sạch nhà máy
khách du lịch và nghỉ dưỡng dài ngày, các khu nhà ở cao cấp cho người nước
ngoài thuê để lưu trú lâu dài khi làm việc tại Hải Phòng (Khách sạn Hữu Nghị,
khách sạn Royal Garden, khách sạn Harbor View, khách sạn Tray, Làng quốc
tế Hướng Dương).
Nhiều khu vui chơi, giải trí và thư giãn như sân tenis, bể bơi, sân tập
golf, câu cá, mas - sage, luyện tập thể hình, quán bar, karaoke…ở Hải Phòng
đã được đưa vào sử dụng, Ngoài ra,Hải Phòng có Casino Đồ Sơn phục vụ
ngường nước ngoài . Thành phố đang có kế hoạch phát triển một dự án vui
chơi,giải trí ở khu du lịch Đồ Sơn,Cát Bà nhằm tạo sự hấp dẫn cho du khách.
Tất cả các ngân hàng lớn trong nước đều có chi nhánh tại Hải Phòng
cùng với nhiều chi nhánh ngân hàng liên doanh với nước ngoài có đầu đủ các
dịch vụ về tài chníh đã có mặt tại Hải Phòng. Các Công ty bảo hiểm, kiểm
toán, tư vấn quốc tế nổi tiếng cũng đã mở chi nhánh và văn phòng đại diện tại
đây.
Hải Phòng là nơi đặt trụ sở của các hãng vận tải biển lớn của Việt Nam
như Vosco, Vinaship, Germatrans, Vinalines, Vitranchart, Vietfract… và hàng
chụ hãng vật tải biển và nhiều đại lý hàng hải đã đặt văn phòng tại Hải Phòng
như Vosa, APM - Saigon, Saelands, Mitsui, Evergreen, Maersk, P&O
Nedloyd, NYK, APL, Hapalloy, Yangming, DSR, Huyndai, KMTC, CMA,
MíC, Hanjin, K - line, Cosco, Heung - A…
Trang 8
Hải Phòng hiện có 24 bệnh viện với khoảng 4000 giường bênh và 4000
bác sĩ và cán bộ y tế. Có một khoa khám, chữa bệnh dành cho người nước
ngoài tại bệnh viện trung tâm thành phố.
Hải Phòng là một trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nước.
Hiện nay, Hải Phòng có 5 sân vận động, 14 sân tenis, 9 bể bơi và một trung
tâm đào tạo vận động viên chuyên nghiệp. Hải Phòng thường được chọn là nơi
tổ chức sự kiện thể thao lớn trong nước và quốc tế.
4. Dân số và nguồn nhân lực
Dân số Hải Phòng hiện nay xấ xỉ 1,7 triệu người. Số người trong độ
Các công trình có ý nghĩa vùng đã được triển khai, bước đầu tạo môi
trường kinh doanh và thu hút đầu tư thuận lợi cho thành phố như đường 5,
đường 10, nâng cao công suất cảng gắn với chỉnh trị, cải tạo luồng vào cảng,
khu vui chơi giải trí quốc tế Đồ Sơn, khu công nghiệp Nomura Đình Vũ.
Số hộ đói nghèo từ 18% năm 1995 giảm còn 5,8% năm 2000, các hoạt
động văn hoá, xã hội đặc biệt ở hải đảo, vùng sâu, vùng xa của thành phố có
sự chuyển biến, đáp ứng được nhu cầu nâng cao dân trí, tiến bộ xã hội.
Thực hiện đường lối đổi mới, sự thu hút có kết quả đầu tư nước ngoài
thời kỳ 1991 - 1995, Hải Phòng đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao ở
mức 12,1% trên cơ sở đó quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 15 năm 1996 -
2000 đặt ra mục tiêu tăng trưởng cho cả thời kỳ ở mức 15,5% và kế hoạch 5
năm 1996 - 2000 ở mức 15%.
Song do nền kinh tế đang ở tình trạng sức cạnh tranh kém bởi những
yếu kém vốn có chưa khắc phục được như công nghệ sản xuất lạc hậu, sản
xuất, cuốc khủng hoảng tài chnsh khu vực vào năm 1998 dẫn đế sút giảm đầu
tư nước ngoài đã tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố từ
12,1% của giai đoạn 1991 - 1995, còn 9,6% trong năm 1996 - 2000, 2 năm
Trang 10
1996 - 1997 và 7,8% trong 3 năm 1998 - 2000, cả giai đoạn 5 năm 1996 -
2000 ước đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm 8,56% bằng 54,8% mục tiêu quy
hoạch.
2. Tăng trưởng và cơ cấu ngành kinh tế
Sản xuất công nghiệp đã có thêm một số mặt hàng như nhựa dân dụng,
giả da, khí ga hoá lỏng…song phát triển theo xu thế hội nhập nên công nghiệp
- xây dựng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra năm 1998
và ảnh hưởng tiếp tới những năm 1999 - 2000, do đó tốc độ tăng trưởng GDP
công nghiệp - xây dựng hàng năm không ổn định: năm 1998 tăgn 13,5% năm
1999 tăng 7,8%, năm 2000 ước tăng 12,6% cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt được
13,9%.
Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng ngành nông - lâm - ngư nghiệp: