Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
1 XÃ HỘI HỌC
QUẢN LÝ
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
2 Chương I:
QUẢN LÝ VÀ XÃ HỘI HỌC QUẢN LÝ
2. Quản lý và lãnh đạo
Hai thuật ngữ này thường dùng cho các hệ thống có các con người ở
trong, chúng không đồng nhất về nghóa. Chúng giống nhau là đều bao
hàm nghóa tác động và điều khiển nhưng khác nhau về mức độ và
phương thức tiến hành. Lãnh đạo là quá trình đònh hướng dài hạn cho
chuỗi các tác động của chủ thể quản lý; còn quản lý là quá trình chủ thể
tổ chức liên kết và tác động lên đối tượng bò quản lý để thực hiện các
đònh hướng tác động dài hạn. Lãnh đạo là quản lý nhưng mục tiêu rộng
hơn, xa hơn, khái quát cụ thể hơn. Còn quản lý là lãnh đạo trong trường
hợp mục tiêu cụ thể hơn, chuẩn xác hơn. Có lúc người quản lý phải làm
người lãnh đạo và ngược lại. Việc lãnh đạo và quản lý do chủ thể quản
lý tiến hành, chủ thể có thể là duy nhất, cũng có thể là không duy nhất,
tức có thể có từ hai lực lượng, hai phân hệ trở lên nhưng nói chung để
cho quá trình quản lý có hiệu quả cao thì lãnh đạo và quản lý phải thống
nhất với nhau.
Trong tài liệu này chúng ta dùng thuật ngữ quản lý với nghóa bao hàm
cả lãnh đạo.
3. Các dạng quản lý
Người ta có thể chia ra các dạng quản lý dựa vào đặc điểm quản lý
đối tượng quản lý như sau:
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
4
- Quản lý giới vô sinh( nhà xưởng, ruộng đất, hầm mỏ, thiết bò máy
móc, sản phẩm…)
- Quản lý giới sinh vật( vật nuôi, cây trồng)
- Quản lý xã hội con người( Đảng, Đoàn thể, nhà nước, kinh tế).
người có thể hoàn thành được các mục tiêu theo nhóm( với thời gian, tiền
bạc, vật chất và sự không thỏa mãn cá nhân ít nhất) hoặc ở đó họ có thể
đạt được mục tiêu mong muốn tới mức có thể được với các nguồn lực sẵn
có. Những yêu cầu cơ bản đặt ra cho quản lý ngày nay đó là:
- Thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, sử dụng nhân lực có hiệu
quả nhất.
- Bảo đảm mức thỏa mãn cao nhất có thể được đối với những yêu
cầu của qui luật phát triển xã hội.
- Bảo đảm sự phù hợp của quan hệ xã hội với sự phát triển của cơ
sở vật chất kỹ thuật.
- Phải tính đến những hậu quả của cách mạng khoa học kỹ thuật,
công nghệ.
6. Chức năng của quản lý
A. Lập kế hoạch: Là quá trình vạch ra các mục tiêu và quyết đònh
phương thức đạt được mục tiêu. Đó là sự xác đònh trước xem phải làm cái
gì, làm thế nào, vào khi nào và ai sẽ làm. Lập kế hoạch là bắc một nhòp
cầu từ trạng thái hiện tại đến điều mong muốn trong tương lai.
Chính lập kế hoạch là làm cho mọi thành viên trong hệ thống của
mình xác đònh được mục đích, mục tiêu, biết được nhiệm vụ để thực hiện
một cách có hiệu quả.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
6
B. Tổ chức: Là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và
nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã được vạch ra. Nó bao gồm việc
xây dựng một cơ cấu đònh trước về các vai trò cho con người đảm đương
trong một cơ sở( một tổ chức). Nó giúp các cá nhân biết được công việc
mỗi người có một mục tiêu nhất đònh và họ biết được công việc của họ
khi thực hiện quản lý. Tính khách quan còn có ý nghóa quan trọng trong
việc kiểm tra sự thực hiện một quyết đònh đã được đưa ra, nó đòi hỏi phải
phân tích vô tư quá trình và kết quả của việc thực hiện quyết đònh ấy.
B. Nguyên tắc tính cụ thể của quản lý: có nghóa là chia các nhiệm vụ
thành những nhiệm vụ chủ yếu và thứ yếu để hướng một cách đúng đắn
những cố gắng của các thành viên của tập thể vào những mục đích quản
lý. Tính cụ thể cũng có nghóa là qui hoạch thông qua những biện pháp
tiến hành cụ thể trong quản lý gắn với những con người, thời gian, điều
kiện tài chính cho phép.
C. Nguyên tắc tính kế thừa: Là một yêu cầu khách quan của việc
quản lý các quá trình xã hội một cách khoa học. Tính kế thừa ở đây có
nghóa là nắm lấy những kinh nghiệm tiên tiến, hoàn thiện đổi mới nhân
viên quản lý, chuyển công tác quản lý cho người trẻ tuổi. Nguyên tắc kế
thừa không cho phép cải tổ quản lý khi chưa có đủ cơ sở khoa học cho
phép tiếp nhận phương pháp quản lý mới.
D. Nguyên tắc tính phương hướng: có nghóa là phát triển công tác
quản lý bằng cách thay thế những hình thức cũ bằng những hình thức
mới, đưa hoạt động của hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn, áp
dụng những phương tiện kỹ thuật ngày càng nhiều để thay thế đến mức
cao nhất lao động con người. Tính phương hướng trong quản lý là để
ngăn ngừa tình trạng tự phát.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
8
E. Nguyên tắc tính khoa học: Là đòi hỏi phải đặt công tác quản lý
trên những cơ sở khoa học. Những cơ sở này được tạo nên bởi sự hiểu
biết của cán bộ quản lý về những qui luật phát triển của xã hội, về lý
luận quản lý, về những thông tin do khoa học mang lại từ các tổ xã hội
học trong các công ty xí nghiệp chẳng hạn.
và những luật lệ hiện hành và có căn cứ về kinh tế.
- Nguyên tắc tính kế hoạch: Là phải đặt mục đích và vạch chương
trình hành động nhằm đạt mục đích tức phải qui hoạch.
- Nguyên tắc lựa chọn và phân bổ cán bộ một cách đúng đắn: Là
phải xác đònh xem người cán bộ phải biết những gì và phải có những
phẩm chất như thế nào. Phải xuất phát từ việc để sắp xếp bố trí người.
Chọn người qua hồ sơ tài liệu và qua thực tiễn thử việc, tập sự, thay thế
tạm thời.
- Nguyên tắc chú trọng những lợi ích cá nhân và kích thích cán bộ
về vật chất và tinh thần: Là quan tâm lợi ích kinh tế cũng như sự thăng
tiến, phát triển nhân cách cá nhân.
- Nguyên tắc công tác nhòp nhàng: Là đòi hỏi tính đồng bộ, sự phối
hợp ăn khớp giữa các bộ phận của tổ chức.
- Nguyên tắc kiểm tra xã hội: Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi
như không lãnh đạo.
9.Phương pháp quản lý.
A.Các phương pháp quản lý nội bộ hệ thống.
-Các phương pháp tác động lên con người: hành chính, lợi ích, giáo
dục, gây áp lực về mặt tâm lý, hiện thực hóa ước mơ …
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
10
-Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống: các
phương pháp có tính nghiệp vụ chuyên sâu như tài chính, lao động, công
nghệ, thông tin, pháp chế vật tư, …(dùng công cụ toán học kinh tế để quản
lý).
B.Các phương pháp tác động lên các hệ thống khác.
Tùy thuộc vào mối tương quan lệ thuộc cụ thể mà có cách sử dụng
phương pháp thích hợp như các phương pháp kinh tế, các tác động tâm lý,
Xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội để tìm ra cái logic xã hội
của các hiện tượng đời sống xã hội. Nghóa là nó tập trung nghiên cứu mặt
xã hội của thực tại xã hội. Vì vậy khi áp dụng vào nghiên cứu hiện tượng
quản lý, xã hội học cũng tập trung tìm hiểu mặt xã hội của nó. Xã hội
học tập trung nghiên cứu cách thức phối hợp của các thành viên giữ
những vò thế xã hội khác nhau trong nhóm với mục đích bảo đảm hiệu
quả tối đa do nhóm đặt ra từ trước. Như vậy xã hội học quản lý được hiểu
là một khoa học nghiên cứu cách thức phối hợp hoạt động của các thành
viên chiếm giữ những vò thế xã hội khác nhau trong tổ chức xã hội nhằm
đạt tới mục tiêu chung của tổ chức đó.
Đối tượng nghiên cứu của xã hội học quản lý là cách thức phối hợp
hoạt động của các thành viên được sắp xếp một cách trật tự trong một cơ
cấu xã hội. Chính cách thức phối hợp hoạt động của nhiều con người
trong một hoạt động chung nhằm đạt tới mục đích chung có những đặc
thù xã hội của nó. Khi con người phối hợp với nhau trong một hoạt động
nào đó thì tất cả những đặc tính xã hội về cơ cấu, lối sống, văn hóa… đều
được biểu lộ. Tuy nhiên, do tính chất của một tổ chức xã hội, các yếu tố
xã hội sẽ qui đònh hành vi của con người trong một hoạt động tập đoàn(
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
12
hành vi theo nhóm). Xã hội học quản lý nghiên cứu cách thức mà con
người phối hợp với nhau, cách thức đó chỉ xuất hiện khi chỉ có một hoạt động
chung. Nghóa là nó xuất hiện một nhu cầu xã hội mới. Đó là một đòi hỏi khách
quan của xã hội. Hoạt động chung không phải là tổng hoạt động đơn lẻ của
từng cá nhân cộng lại mà đó là hoạt động có tính chất xã hội, là sản phẩm của
sự tương tác giữa nhiều cá nhân như hợp kim là sản phẩm mới của sự kết hợp
nhiều kim loại.
Vì đối tượng của xã hội học quản lý là tập trung nghiên cứu cách thức hay
Chương II :
QUAN NIỆM QUẢN LÝ CỔ VÀ TRUNG ĐẠI
I. QUAN NIỆM QUẢN LÝ CỦA PHƯƠNG TÂY
Hai đại biểu cho tư tưởng quản lý phương Tây nổi bật đáng chú ý
đó là Platon (Hy lạp) như hiện thân của “Vương đạo” gần với Nho gia và
Machievel (Ý) với chủ trương “Bá đạo” gần với Pháp gia.
1.Platon với quan niệm đạo đức trong quản lý xã hội.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
14
A.Với Platon(427-347TCN), tổ chức xã hội và giáo dục con người
là vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý. Platon chú trọng đến giáo
dục chiến binh, giới lãnh đạo được chọn lựa trong hàng ngũ chiến binh.
Theo Platon sức mạnh xã hội là đoàn kết, hợp nhất giữa những phần tử
trong xã hội; vì vậy thực hiện sự đoàn kết là việc thiết yếu. ng cho rằng
nguyên nhân chia rẽ trong xã hội, làm xã hội suy yếu là do lòng ghen
tuông, ganh tò mà ra vì người này không có cái mà người khác có. Để
Platon cũng là người đầu tiên đưa ra lý luận về tổ chức nô dòch theo
nghề nghiệp. Vệc quản lý xã hội sẽ qui về việc thiết chế hóa nghề
nghiệp (chủ nô-nô lệ, lao động trí óc, lao động chân tay)
2. Machiavel với quan niệm phi đạo đức trong quản lý xã hội .
A. Machiavel (1469-1527) cho rằng quân vương có thể chinh phục
được các vương quốc bằng 2 yếu tố : sức mạnh và mưu mô. ng cho rằng
người ta tìm cách giữ ngai vàng, quyền hành bằng luật pháp hoặc vũ lực.
Lối trên là lối của con người, lối sau là lối của loài cầm thú nhưng vì lối
thứ nhất trong nhiều trường hợp tỏ ra kém hiệu quả nên buộc lòng phải
dùng lối thứ hai.
B. Machiavel cho rằng một quân vương lý tưởng phải hội đủ tất cả
những tính tốt (rộng lượng, giúp người, thương người, trung tín, cứng rắn,
can đảm, vui vẻ, dễ chòu, trong sạch, thành thật…). Nhưng trong thực tế
và hoàn cảnh của con người không cho phép một quân vương phải có đầy
đủ đức tính tốt trên, cho nên tốt xấu tùy lúc. Xét cho cùng quân vương chỉ
cần biết tránh tật xấu có thể không làm mất nước.
C.Về đối ngoại, quân vương không bao giờ nên giúp một quân
vương khác mạnh vì làm như vậy là tự đào huyệt chôn mình. Đối với cố
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
16
vấn và cộng sự, quân vương phải nghe lời khuyên của họ nếu ông ta
muốn nhưng không được để họ lèo lái mình. Đồng thời quân vương cũng
phải nghó tới cộng sự, làm cho họ giàu sang, được trọng vọng để họ ngại
sự thay đổi nếu không có quân vương. Về lựa chọn bề tôi, quân vương
phải chọn người lỗi lạc, những thượng thư tốt chỉ là những người thừa
hành giỏi, làm theo ý muốn nhà vua chứ không theo ý mình, họ chỉ là
hạng nô lệ đặc biệt thụ hưởng lộc tước và phụng sự nhà vua. Đối với
trời, làm gạch nối giữa trời và người .
Khổng Tử không đặt quan trọng trên luật mà trên người (nhân) nên
gọi là nhân trò. Đó là sự cai trò dựa vào nhân luân, tức đạo lý con người.
Thuyết nhân trò chủ trương : con người là yếu tố quyết đònh của mọi nền
cai trò tốt hay xấu. Cho dù có pháp luật tốt mà không có con người tốt để
thi hành thì cũng không đem lại được nền hưng thònh cho xã hội (người
thi hành ở đây là bao gồm cả người cầm quyền lẫn người dân). Tư tưởng
nhân trò chủ trương dùng đạo đức để làm nền tảng cho xã hội, hơn là hình
pháp. Khổng Tử cho rằng : Dùng biện pháp hành chính mà dẫn dắt,
dùng hình phạt khiến đồng đều (tức khiến mọi người đều hướng về điều
thiện), thì dân cố giữ sao cho khỏi tội, nhưng không có lòng hổ thẹn.
Dùng đức mà dắt dẫn, dùng lễ khiến đồng đều, dân có lòng hổ thẹn và
trở thành tốt. (Luận ngữ). Trong thực tế phải hiểu nhân trò là dân kiểm
soát. Quyền của người cai trò gắn với đức của người đó : đức cao thì được
quyền, đức kém thì quyền suy, đức hết thì quyền mất. Cứu cánh của
chính quyền là phải lo cho dân được hạnh phúc. Không lo nổi thì mất
quyền tức mất thiên mệnh. Người cai trò phải tu thân sửa mình, nhận biết
và coi trọng hiền tài để sử dụng.
Khổng Tử cũng đề cập đến người quân tử như là loại người lãnh
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
18
đạo xã hội nói chung, chiếm đòa vò cao, có đức độ…là mẫu người thiện,
mỹ thuộc tầng lớp q tộc và được hiểu theo nhiều nghóa khác nhau.
Quân tử là người hội đủ trí, nhân, dũng.
- Trí là trí tuệ, tức là bậc biết cao nhất, cái giúp con người phân
biệt sự vật, sự phải, trái, thiện, ác.
- Nhân là đức độ, là thương người. Đức nhân là phẩm chất cao
nhất trong mọi đức của đạo làm người.
phong tục “truyền tử” – Theo cách này thì họ làm quan rồi sau đó mới
học lễ, học nghóa.
- Là những người bình dân được học tập trước khi làm quan, họ thi cử
đỗ đạt và được làm quan.
Khổng Tử đánh giá loại quan thứ hai cao hơn vì họ có khả năng
thực tiễn và khả năng tự vận động cao hơn so với loại quan thứ nhất.
Khổng Tử lưu ý rằng nhà quản lý là người có quyền lực, có của cải
nên thường dẫn người ta tới xu hướng tham vọng về mặt quyền lợi coi
thường về mặt đạo lý. Do vậy con đường tốt nhất để loại trừ những yếu
điểm đó là nhà quản lý cần phải được học để biết mình ở vò trí nào trong
quan hệ xã hội, lúc đó cần phải giữ một trạng thái trung dung, đó là một
phương pháp xử thế hướng ngoại của cán bộ quản lý. Nghóa là cần biết
rõ vò trí trong quan hệ xã hội của nhà quản lý và người bò quản lý để xử
lý cho khách quan.
C. Về chính sách cán bộ
Theo Khổng Tử chọn người và đề bạt là theo năng lực, theo đức chứ
không theo giai cấp, không theo huyết thống, đó là một tư tưởng tiến bộ.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
20
Cũng không được quá cấu toàn trong chính sách cán bộ trên cơ sở phải
phân biệt được các vò trí và vai trò của từng loại cán bộ từ cao xuống
thấp để giao quyền. Đồng thời đòi hỏi ở họ những trách nhiệm và nghóa
vụ tương đương. Đối xử với cán bộ cần phải sáng suốt, đại lượng có thể
bỏ qua những sai phạm nhỏ cho cán bộ cấp dưới, nhưng kiên quyết
không bỏ qua những lỗi lớn có tính chất nghiêm trọng, không được làm
ngơ với những sai phạm của cấp dưới. Cán bộ cấp trên biết cán bộ cấp
Sử dụng thuyết chính danh, Khổng Tử đòi hỏi người quản lý phải
đặt đúng tên sự vật và gọi các tên của sự vật đúng bằng các tên của nó
vốn có, khiến danh của nó đúng thực chất của sự vật. Chính danh tức là
phải làm việc đúng với chức vụ, với danh hiệu mà xã hội trao cho mình.
Là phải ngay thẳng, sửa đổi uốn nắn mọi việc cho đúng đắn. Theo cách
này, nhà quản lý cũng như mọi thành viên xã hội sẽ làm việc đúng danh
phận của mình do đó mọi việc sẽ trôi chảy, có trật tự.
2.Mạnh Tử với quan niệm vương đạo, bá đạo
A.Quan niệm về người lãnh đạo
Theo Mạnh Tử (372-289 TCN) có 6 loại người:
-Thiện nhân: là người mà được ta cho là đáng hâm mộ. Lòng ham mê
có thể có thứ tốt có thứ xấu, biết ham mê điếu tốt là bậc thiện.
-Tín nhân: là người có điều thiện, thành thực trong lòng mà không dối
trá. Những ham mê chốc có chốc không, chưa phải là đức, phải tập luyện
nhiều lần cho trở thành tập quán, trở nên một bản tính tự nhiên thứ hai
của bản thân có thể tin được như vậy gọi là tín.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
22
-Mỹ nhân: là súc tích điều thiện đầy đủ. Bao giờ những điều thiện và
tín tích lũy đầy đủ khắp trong ngoài, nghóa là không chỉ thực bên trong
mà còn toát ra cả văn vẻ phong thái bên ngoài nữa thì gọi là mỹ.
-Đại nhân( quân tử): là điều thiện đầy đủ và rạng rỡ thì gọi là đại. Cứ
cái đà đó mà phát triển mãi cho đến lúc rực rỡ, huy hoàng chiếu rọi ảnh
hưởng ra xung quanh thì khi đó gọi là đại nhân quân tử.
-Thánh nhân: là hạng người vó đại, biến hóa vô cùng. Khi đó có sức
gây ảnh hưởng mãnh liệt, có sức cảm hóa lớn đối với chúng dân.
-Thần nhân: là bậc thánh mà người thường không thể lường biết được
Cai trò theo quan niệm Mạnh Tử là phải được đào tạo, học tập.
Nghóa là từ thời đó người ta coi quản lý là một khoa học và nghệ thuật.
Việc cần học trước tiên là học đạo ( đức hạnh và tri thức). Phải học rộng
và phải biết phát triển sáng tạo các tri thức đã trau dồi được. Ông nói:
Đọc sách mà tin sách cả thì thà không đọc còn hơn. Ông cũng chỉ cho
môn đệ dưỡng các khí “hạo nhiên” trong người mình bằng cách làm
nhiều việc nghóa.
Trong việc tồn tâm dưỡng tính để đào tạo nhà lãnh đạo, Mạnh Tử
rất đề cao đời sống khắc khổ, hoàn cảnh khắc nghiệt. Theo ông những
điều đó sẽ có tác dụng giáo dục ý chí con người, sẽ giúp con người thành
công sau này. Ông cho rằng: Trong việc dưỡng tâm, không gì bằng bớt
lòng ham muốn đi; Và ông cũng quan niệm rằng: trời sắp giao cho ai một
nhiệm vụ to, trước hết phải làm cho tâm trí người ấy khổ, gân xương
người ấy mệt mỏi, thể phu người ấy đói khát, thân hình người ấy thiếu
thốn, làm hư hỏng hết cả những việc người ấy làm. Như thế để cho lòng
người ấy đụng, tính người ấy nhẫn, năng lực người ấy cao thâm.
Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM
24
Triết lý của Mạnh Tử là để trở thành người có tài cao, đức rộng
phải được thử thách, tôi luyện gian khổ. Ông cho rằng một nước mà bên
trong không có người tuân theo pháp luật, thiếu vắng kẻ só, bên ngoài
không có nước thù chẳng có mối lo thì thường hay mất, do đó ta mới thấy
“Cái sống ở trong sự lo âu, mà cái chết ở trong sự an lạc vậy”.
C. Thuật trò nước, trò dân.
-Vương đạo: Minh quân dùng đức để cai trò. Kẻ cầm quyền là phải
quan tâm trước hết điều nghóa chứ không phải điều lợi. Nghóa ở đây là
nói đến bổn phận, là sự tiết chế cho lòng. Bổn phận của bậc quân vương
cũng phải có giáo dục, dạy dỗ.
-Mạnh Tử là người có tư tưởng dân chủ lớn khi ông cho rằng cần thiết
phải phế truất hôn quân vì ông là người dám coi dân là vốn q, xã tắc là
thứ sau còn vua thì không phải là trọng.
3.Tuân Tử với quan niệm vương đạo, bá đạo, vong quốc chỉ đạo.
A.Quan niệm về người lãnh đạo.
Tuân Tử (298-238 TCN) cho rằng vua là người giỏi hợp quần và làm
khuôn phép cho thiên hạ. Vì vậy phải trọng vua, ông cho rằng trời sinh ra
dân không phải vì vua mà trời lập vua lên là vì dân.
Tuân Tử chủ trương quân chủ, nhưng vua cần có đạo đức, làm
gương cho dân, dân phải trọng vua, nhưng vua phải vì dân. Ông xem vua
“bá” là tốt vì họ trọng luật pháp và thương dân khác với Mạnh Tử xem
“bá” là vua xấu.
Về người quân tử, Tuân Tử quan niệm đó là người biết tu thân,
hướng đến sự hoàn thiện về tinh thần và không chú ý đến quyền lợi vật