Tài liệu môn Chủ nghĩa xã hội khoa học - Pdf 13

Câu 1: Phân tích khái niệm tôn giáo, gia đình:
Tôn giáo hay đạo, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định
nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng
như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng
và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người,
còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng,
con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ
sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn
giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ
giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của
sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học.
Số tôn giáo được hình thành từ xưa đến nay được xem là vô số, có nhiều
hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy
thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn được nhiều người theo
hơn những tôn giáo khác.
Đôi khi từ "tôn giáo" cũng có thể được dùng để chỉ đến những cái gọi đúng
hơn là "tổ chức tôn giáo" – một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờ
phụng, thường có tư cách pháp nhân.
Tôn giáo là một từ phương Tây. Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt
Nam cũng có những từ tương đồng với nó. Đó là:
- Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa
với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có
thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách
ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử
dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau
“đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Tin lành…
- Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể.
Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy
bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu
với nghia phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học. Cần chú ý rằng người ta

trong Nghị quyết của Đảng thành các quy định của pháp luật, các kế
hoạch, giải pháp, cơ chế. Điều đó đã bảo đảm việc thực hiện và đưa
Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các
hoạt động tôn giáo, sự thống nhất trong việc giải quyết nhu cầu sinh
hoạt tôn giáo trên phạm vi cả nước, tăng cường hiệu lực và hiệu quả
công tác tôn giáo.
Các bộ, ngành liên quan đã tham mưu và giúp Chính phủ, Thủ tướng
xây dựng và trình Quốc hội thông qua các văn bản liên quan trực tiếp
và gián tiếp đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
Ban Tôn giáo Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên
quan tiến hành bổ sung vào Dự thảo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo,
cụ thể hóa chính sách tôn giáo của Đảng trong Nghị quyết 25/NQ-
TW; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, quản lý và
chức sắc đại diện cho các tổ chức tôn giáo. Thừa ủy quyền của
Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố ban hành
Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo ngày 29-6-2004 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 15-11-2004.
Ban Tôn giáo Chính phủ chủ trì soạn thảo Nghị định số 22/2005/NĐ-
CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn
giáo trình Chính phủ và được ban hành ngày 01-3-2005. Sau đó,
Chính phủ ban hành tiếp Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 4-2-2005
về một số công tác đối với đạo Tin Lành. Như vậy, Nghị quyết số
25/NQ-TW cùng với ba văn bản nói trên đã công khai, minh bạch
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta trong
lĩnh vực tôn giáo; đồng thời là cơ sở để giải quyết các nhu cầu sinh
hoạt tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tôn giáo của nhân dân, xác định
rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, quyền
và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tôn giáo đang hoạt động ở Việt
Nam.

2. Tăng cường đầu tư và thực hiện các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào các tôn giáo
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là khi có Nghị quyết 25/NQ-TW cũng
như Chương trình hành động của Chính phủ, Đảng và Nhà nước ta
đã xác định, việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất,
văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của công tác tôn giáo. Từ nhiệm vụ tổng thể
trên, các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị
quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh
quốc phòng, các khu vực như: Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, đồng
bằng sông Cửu Long,… được xác định khá cụ thể trong việc phát
triển kinh tế, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần, đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo của đồng bào trên nguyên tắc tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Các bộ, ngành, trung ương trong quá trình hướng dẫn địa phương
xây dựng định hướng quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách
phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, các địa phương đều đã gắn
với kế hoạch chung của cả nước về chính sách hỗ trợ đất ở và đất
sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ;
về công tác định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; về
phát triển văn hóa, y tế, giáo dục trong vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng có đông đồng bào các tôn giáo khó khăn, các xã, bản
nghèo,… Trên cơ sở đó, tham mưu cho Chính phủ cân đối nguồn lực
bảo đảm thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương
trình Xóa đói giảm nghèo, Chăm sóc sức khỏe, Phát triển giáo dục,
Văn hóa thông tin…Các chương trình này được chú trọng và ưu tiên
đã tạo điều kiện tốt cho việc bố trí nguồn lực ở các xã, thôn, bản có
đông đồng bào dân tộc, đồng bào tôn giáo. Quá trình triển khai thực
hiện chính sách tôn giáo trong các vùng, miền trọng điểm như Tây

do các tổ chức phi chính phủ tổ chức, cũng như việc tạo điều kiện
thuận lợi để các tổ chức, cá nhân có dịp tiếp cận với thực tế ở các
vùng, miền nhạy cảm về tôn giáo, các nhân vật tôn giáo đã làm cho
dư luận quốc tế hiểu rõ hơn tình hình và chính sách tôn giáo của Nhà
nước Việt Nam.
Các kênh đối ngoại tôn giáo được tăng cường như: trao đổi đoàn;
tham dự các diễn đàn, hội thảo đối thoại về nhân quyền, tôn giáo với
các nước EU, Mỹ, Ốt-xtrây-lia, với Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế
(Mỹ), diễn đàn nhân dân ASEM hàng năm, hội thảo về pháp luật tôn
giáo các nước Đông Nam Á, các cuộc tiếp xúc giữa sứ quán các
nước, các tổ chức quốc tế, phóng viên, báo chí nước ngoài với các
cơ quan trung ương, các tỉnh, thành phố một cách thường xuyên,
thân tình, khách quan đã mang lại kết quả quan trọng tạo được niềm
tin, sự hiểu biết, chia sẻ của các nước, các tổ chức về chính sách tôn
giáo, cũng như những vướng mắc trong công tác xử lý một số vấn đề
tôn giáo của Việt Nam.
Các cuộc trao đổi kinh nghiệm quản lý với các nước trong khu vực
như: Lào, Căm-pu-chia, Trung Quốc, trên kênh cơ quan chức năng
nhà nước và các tổ chức tôn giáo được tiếp tục duy trì và tăng
cường hơn trong thời gian qua. Cùng với các hoạt động đó là việc
hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo cử đoàn tham dự các hội
nghị, hội thảo, các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài như Hội đồng
Giám mục Việt Nam tham gia làm thành viên Hội đồng Giám mục Á
châu, các Giám mục tham dự lễ tang Giáo hoàng Gioan Phao-lô II và
lễ đón nhận chức Giáo hoàng Bên-dic-to XVI, các đại hội Giới trẻ
Công giáo thế giới,… Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị
thượng đỉnh Phật giáo quốc tế được tổ chức hàng năm, thăm và trao
đổi với Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Thái Lan, Liên minh
Phật giáo Lào, Phật giáo Căm-pu-chia và các cuộc hội thảo về Phật
giáo do các nước trong khu vực tổ chức…là những nét mới trong

thể chỉ vì vừa qua, một vài tín đồ vi phạm luật pháp, bị Nhà nước Việt
Nam trừng trị theo luật pháp mà phủ nhận thành tựu của Đảng và
Nhà nước Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
Câu 3: Nhiệm vụ của công tác tôn giáo hiện nay
Thứ nhất, Làm cho toàn Đảng, toàn dân nói chung và bà con tín đồ, chức
sắc tôn giáo nói riêng hiểu rõ và thực hiện đúng quan điểm, tư tưởng, chính
sách tôn giáo của Đảng và nhà nước hiện nay, góp phần tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, bảo đảm cho cho tôn giáo đồng hành
gắn bó với dân tộc, tuân thủ pháp luật, giữ vững độc lập dân tộc và chủ
quyền quốc gia.
Thứ hai, Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và văn hóa tinh thần,
nâng cao trình độ mọi mặt tín đồ các tôn giáo. Thực hiện tự do tín ngưỡng,
tích cực vận động đồng bào có đạo tăng cường đoàn kết xây dựng cuộc sống
“tốt đời, đẹp đạo”, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định
chính trị, an ninh quốc phòng.
Thứ ba, Tăng cường công tác quản lý nhà nước, tạo điều kiện bảo đảm cho
các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật, mọi tín đồ, chức sắc, nhà
tu hành thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, góp phần vào việc bảo vệ và xây
dựng cuộc sống mới.
Thứ tư, Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ các tín đồ và chức
sắc tôn giáo nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và đấu tranh
làm thất bại âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc ta.
Thứ năm, Xây dựng và củng cố tổ chức Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở
địa bàn có các tín đồ tôn giáo thật vững mạnh. Đảng viên nói chung và Đảng
viên theo tôn giáo nói riêng phải gương mẫu thực hiện và vận động các tín
đồ tôn giáo thực hiện tốt những chủ trương chính sách của Đảng và nhà
nước. Kiện toàn bộ máy và có kế hoạch đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo
ở các cấp, ngành. Mặt trận và các đoàn thể tăng cường công tác vận động tín
đồ, chức sắc tôn giáo tham gia thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn

không được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo. Việc phục hồi chức
trách, chức vụ tôn giáo khi đã hết hạn hình phạt trên phải do tổ chức tôn giáo
quản lý người đó đề nghị và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
chấp thuận.
- Việc mở trường đào tạo các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo phải được
phép của thủ tướng chính phủ. Tổ chức và hoạt động của các trường thực
hiện theo các quy định của Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Các trường thực hiện các quy chế chính sách, pháp luật của nhà nước
theo sự hướng dẫn, giám sát kiểm tra của các cơ quan chức năng của Nhà
nước và Ủy ban nhân dân sở tại.
- Việc phong giáo phẩm, phong chức cho các chức sắc, nhà tu hành tôn
giáo, việc bổ nhiệm, thuyên chuyển những chức sắc phải được sự chấp thuận
của Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tùy theo
giáo phẩm). Đối với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài phong giáo phẩm, phong chức, bổ nhiệm phải được sự
chấp thuận của Thủ tướng chính phủ.
Đối với các tổ chức tôn giáo
- Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ
chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt
động thì được pháp luật bảo hộ.
- Tổ chức tôn giáo hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành
đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ
hoạt động. Các cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm đó bị xử lý theo
pháp luật.
- Chức sắc, nhà tu hành và tổ chứ tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định
và hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chức năng.
Đối với các hoạt động tôn giáo
- Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở thờ tự đã đăng ký hàng năm và thực hiện
trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải xin phép.
- Những hoạt động tôn giáo vượt ra khỏi khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc

mới, xây dựng các công trình thờ tự (nhà, tượng, đài, bia, tháp…) phải được
phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Tổ chức tôn giáo được nguồn tài chính từ sự ủng hộ tự nguyệncủa các cá
nhân, tổ chức, từ những thu nhập hợp pháp khác. Việc tổ chức quyên góp
(kể cả quyên góp vì mục đích xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự) phải được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép. Nghiêm cấm việc ép buộc tín đồ đóng
góp. Việc quản lý, sử dụng các nguồi tài chính có được từ các nguồn trên
đây thực hiện theo quy định của pháp luật.
Đối với hoạt động đối ngoại của tôn giáo
- Hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp
luật và phù hợp với chính sách đối ngoại của của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, vì hòa
bình, ổn định, hợp tác và hữu nghị.
- Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở
nước ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính
phủ.
- Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ
chức tôn giáo nước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo hoặc có liên quan
đến các tôn giáo nước ngoài thực hiện theo quy định của Ban Tôn giáo
Chính phủ.
- Tổ chức cá nhân nước ngoài, kể cả tổ chức, cá nhân tôn giáo vào Việt
Nam để hoạt động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không được tổ
chức, điều hành hoặc tham gia tổ chức điều hành các hoạt động truyền bá
tôn giáo.
- Các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước muốn nhận viện trợ thuần tuý
tôn giáo phải xin phép Chính phủ./.
Câu 4: Phần quan điểm chính sách tôn giáo.
1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quan điểm, chính sách tôn giáo.
(Theo tinh thần NQ 25-NQ/TƯ ngày 12/3/2003)
Quan điểm chính sách tôn giáo hiện nay của đảng và nhà nước ta được đề ra

- Xuất phát từ những tư tưởng, quan điểm của đảng, nhà nước ta về tôn
giáo qua các văn kiện chủ yếu như NQ 24 của BCT (10/1990); NĐ 69
HĐBT (3/1991) NĐ 26 CP (4/1999)
- Xuất phát từ tình hình thực tiễn tôn giáo trong nước và thế giới.
+ Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa TNTG , đời sống tâm linh
TNTG đang phục hồi và phát triển mạnh, tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp,
nhạy cảm và tác động sâu sắc đến mọi mặt của ĐSXH.
+ Tôn giáo thế giới cũng đang phục hồi và phát triển sôi động ở nhiều quốc
gia, châu lục và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết
- Xuất phát từ những bài học kinh nghiệm trong thực hiện chinhs sách tôn
giáo của nước ta thời gian qua cả những thành công và chưa thành công.
2. Những nguyên tắc chung của chính sách cần phải quán triệt.
- Bảo đảm quyền TDTNTG hay không TNTG. Nghiêm cấm phân biệt đối
xử vì lý do TNTG
- Mọi tôn giáo, tín đồ các tôn giáo được pháp luật thừa nhận đều bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ theo luật định.
- Mọi hoạt động tôn giáo đều phải tuân thủ pháp luật , mọi hoạt động vi
phạm pháp luật đều bị nghiêm trị
- Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng của tín đồ được đảm bảo.
Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của tổ quốc, nhân dân được khuyến
khích.
- Mọi hoạt động mê tín dị đoan bị bài trừ. Mọi hoạ động lợi dụng tôn giáo
chống lại nhà nước đều bị xử lý theo pháp luật
- Các cấp uỷ đảng, cơ quan, chính quyền, các đoàn thể quần chúng có
trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần chúng thực hiện đúng đắn chính
sách tôn giáo
3. Phân tích nội dung, quan điểm chính sách tôn giáo
Một là: TGTN là nhu cầu tinh thần của 1 bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta
- Nước ta có gần 20 triệu đồng bào có đạo, chiếm 25% dân số cả nước và

Quan điểm chính sách tôn giáo hiện nay của đảng và nhà nước ta được đề ra
dựa trên các cơ sở sau:
- Xuất phát từ quan điểm của CNMLN về tôn giáo:
+ Từ khái niệm, bản chất của tôn giáo(tôn giáo là một hình thái ý thức xã
hội đặc biệt, vừa là một thực thể xã hội, tôn giáo vừa có mặt tích cực, vừa có
mặt tiêu cực)
+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo: Nguồn gốc KT-XÃ HộI, nguồn gốc
nhận thức, nguồn gốc tâm lý tình cảm.
+ Từ tính chất của tôn giáo: Tính lịch sử, tính quần chúng, tính chính trị.
+ Từ phương pháp giải quyết vấn đề về tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lê
Trong đó trước hết dựa vào thái độ của những người mác xít đối với tôn
giáo đó là vấn đề tôn giáo phải được đặt ra và giải quyết trên cơ sở của thế
giới quan duy vật. CNMLN phê phán các mưu toan tuyên chiến với tôn giáo,
bạo lực, nóng vội trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo, dùng chính sách
đàn áp đối với tôn giáo.
Dựa trên những bài học kinh nghiệm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong giải
quyết vấn đề về tôn giáo (1) không thể thuần tuý về tư tưởng trong giải
quyết vấn đề về tôn giáo (2) Không tả khuynh hoặc đồng nhất tôn giáo với
kẻ thù của CNXH (3) Không hữu khuynh coi tôn giáo chỉ là nhận thức chưa
đầy đủ của nhân dân, cứ xây dựng thành công CNXH thì tự nhiên tôn giáo
sẽ tiêu vong.
Dựa trên những vấn đề mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin:
(1)Khắc phục dần những tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải
tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới (2) Tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự
do không tín ngưỡng của nhân dân (3) cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể
khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo (4) cần phân biệt hai mặt nhu cầu tự do
tín ngưỡng và lợi dụng TGTN.
- Xuất phát từ quan điểm, tư tưởng HCM về tôn giáo
+ Tư tưởng đoàn kết, lương giáo hoà hợp
+ Tư tưởng tự do tín ngường và không tín ngưỡng

- Nước ta có gần 20 triệu đồng bào có đạo, chiếm 25% dân số cả nước và
có trên 80% dân số có đời sống tâm linh. TGTN hiện đang là nhu cầu tinh
thần
Chức năng:
- Ban Tôn giáo thành phố là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố,
giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt
động tôn giáo theo pháp luật của Nhà nước trong phạm vi địa phương.
Nhiệm vụ, quyền hạn:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để thực hiện chính sách
tôn giáo tại địa phương, là đầu mối quan hệ giữa chính quyền địa phương
với các tổ chức tôn giáo ở địa phương, kể cả hoạt động đối ngoại liên quan
đến tôn giáo.
- Nắm tình hình hoạt động của các tôn giáo và tình hình công tác tôn giáo
ở địa phương; nghiên cứu, quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo; phối hợp với các
ngành chức năng của thành phố đề xuất các chủ trương công tác, đồng thời
giúp UBND thành phố cụ thể hóa các chủ trương công tác thành các quyết
định của UBND phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước về công
tác tôn giáo.
- Hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức tôn giáo, các cấp, các ngành, tổ chức xã
hội và công dân trong việc chấp hành và thực hiện các chủ trương, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo.
- Tạo điều kiện giúp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân,
các tổ chức xã hội xây dựng phong trào quần chúng và tổ chức quần chúng ở
nơi có đông tín đồ tôn giáo; phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc
thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhân sĩ tôn giáo.
- Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo ở địa
phương.
Câu 5: Về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí địa

Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ
- Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong
đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải
Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình
Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang,
thành phố Cần Thơ
- Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ như
Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An Giang .
- Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh
miền Tây Nam Bộ như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh
Long.
- Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng,
Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia
Lai, Đắk Nông, Bình Phước và một số tỉnh phía Bắc.
- Hồi Giáo: Hơn 60 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, TP Hồ
Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuận
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số
nhóm tôn giáo địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật
giáo, hoặc mới du nhập ở bên ngoài vào như: Tịnh độ cư sỹ, Bửu Sơn Kỳ
Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ
phái tin lành.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường
ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hoá, sự đa
dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hoá
Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra
trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và
đối với từng tôn giáo giáo cụ thể.
Ở Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo.
Theo thống kê năm 1999, Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số với khoảng trên

biệt, khoảng 20 năm trở lại đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo đạo
Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn 10 nghìn Dao theo đạo Tin lành
dưới tên gọi Thìn Hùng.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân.
Ước tính, số tín đồ là nông dân của Phật giáo, Thiên chúa giáo chiếm đến
80-85%, của Cao Đài, Phật giáo, Hòa Hảo: 95% và của đạo Tin lành là 65%.
Là người lao động, người nông dân, tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam rất cần
cù trong lao động sản xuất và có tinh thần yêu nước. Trong các giai đoạn
lịch sử, tín đồ các tôn giáo cùng với các tầng lớp nhân dân làm nên những
chiến thắng to lớn của dân tộc.
Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh họat tôn giáo,
nhất là những sinh họat tôn giáo cộng đồng mang tính chất lễ hội. Một bộ
phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm chí cuồng tín
dễ bị các phần tử thù địch lôi kéo, lợi dụng.
Ngày nay, các thế lực thù địch ở trong nước và nước ngoài đang thực hiện
chiến lược diễn biến hòa bình để chống phá cách mạng nước Việt Nam.
Trong chiến lược này, các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm lợi dụng vấn đề
tôn giáo. Vấn đề tôn giáo được chúng gắn với vấn đề dân chủ nhân quyền và
được thực hiện qua nhiều thủ đoạn.
Thông qua việc trình bày một số đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam có
thể thấy phần nào bức tranh toàn cảnh về tôn giáo ở Việt Nam. Đó cũng
chính là cơ sở thực tiễn để Đảng và Nhà nước họach định chủ trương, chính
sách đối với tôn giáo ở tầm vĩ mô.
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên
quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa
hợp dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng
hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi

tôn giáo là nhằm đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân. Qua
đó đã phát huy được năng lực, sức sáng tạo của hàng chục triệu đồng bào
theo tôn giáo, góp phần dân chủ hoá đời sống xã hội trên cơ sở ổn định
chính trị.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn có quan điểm,
thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã khẳng định: "Tín ngưỡng, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực
hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi
thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống
những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân
tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân".
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
cũng ghi rõ: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do
tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi
ích của Tổ quốc và nhân dân".
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo từng bước
được hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công
cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo
trong tình hình mới, ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín
ngưỡng, tôn giáo. Sau gần 10 thực hiện Nghị quyết 24, Đảng ta đã tổng kết,
đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính
trị ra Chỉ thị 37-CT/TƯ ngày 02-7-1998 về công tác tôn giáo trong tình hình
mới. Cho đến Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
bẩy, khoá IX về công tác tôn giaó (Nghị quyết 25-NQ/TƯ ngày 12-3-2003)
quan điểm, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được
khẳng định và phát triển thêm một bước mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới
của Đảng. Đó là "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận

ngày 18-6-2004 và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29-6-2004.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời là một minh chứng, một bước tiến và
một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo.
Thực tế, những chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo không phải chỉ
được khẳng định ở Hiến pháp, pháp luật hay trong các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng mà được thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày.
Cho đến nay, Nhà nước ta đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức
tôn giáo và tiếp tục xem xét theo tinh thần của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo. Có thể khẳng định, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang diễn ra
bình thường ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam.
Cả nước có 56.125 chức sắc, nhà tu hành, chưa kể hàng vạn người hoạt
động bán chuyên nghiệp của các tổ chức tôn giáo, trong đó Phật giáo có
33.066 tăng ni; Thiên chúa giáo có 42 giám mục, 2.700 linh mục và 11.282
tu sĩ, Tin lành có 492 mục sư, giảng sư và truyền đạo; Cao Đài có 8.340
chức sắc, chức việc; Phật giáo Hoà hảo có 982 chức việc và Hồi giáo có 699
chức sắc; 3 học viện Phật giáo với trên 1.000 tăng ni sinh, 30 trường trung
cấp Phật học, 4 trường cao đẳng phật học với 3.940 tăng ni sinh theo học.
Giáo hội Thiên chúa giáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và 1.712
chủng sinh dự bị. Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội thánh Tin
lành Việt Nam (miền Nam) đã chiêu sinh hai khoá với 150 học sinh. Hiện có
hàng trăm người của các tôn giáo đang theo học thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước
trên thế giới.
Cả nước hiện có 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều cơ sở được xây
dựng mới, xây dựng lại khang trang, đẹp đẽ. Đó là bằng chứng sinh động về
đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giaó là nguyên tắc hàng đầu và nhất quán của
Đảng và Nhà nước Việt Nam vì cuộc sống tinh thần của hàng triệu tín đồ các
tôn giáo và cũng là những công dân của Việt Nam.
Năm 1955 trước yêu cầu mới về công tác tôn giáo nói chung, công tác

địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; đồng thời giúp Đảng
và Nhà nước khẳng định quan điểm, chủ trương chính sách đối với tôn giáo.
Đặc biệt trên cơ sở tổng kết thực tiễn "nhìn lại và đổi mới", Ban Tôn giáo
Chính phủ phối hợp với các ngành chức năng tham mưu cho Trung ương
ban hành các chủ trương chính sách đổi mới trong công tác tôn giáo như
Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 16-10-1990 về Đổi mới công tác tôn giáo
trong tình hình đổi mới; Chỉ thị 37-CT/TW ngày 2-7-1998 về Tăng cường
công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị định số 59-HĐBT ngày 21-3-
1991 và sau này là Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 về Hoạt
động tôn giáo. Tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành
Nghị quyết số 25-NQ/TƯ ngày 12-3-2003 về Công tác tôn giáo. Để thể chế
hoá tư tưởng đổi mới đối với công tác tôn giáo của Nghị quyết 25, Ban Tôn
giáo Chính phủ phối hợp với các ngành chức năng xây dựng và trình ủy ban
Thường vụ Quốc hội khoá XI, ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.
Đánh giá sự trưởng thành và những đóng góp của Ban Tôn giáo Chính
phủ, năm 2002, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và để
khẳng định truyền thống của ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo và xác lập
cơ chế quản lý theo ngành - một ngành vốn có nhiều nét đặc thù, nhạy cảm,
ngày 27-5-2005, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 445/QĐ-TTg lấy
ngày 2-8 hằng năm là Ngày truyền thống của ngành quản lý Nhà nước về
tôn giáo. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho các
thế hệ làm công tác tôn giáo trong cả nước./.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status