Câu hỏi ôn thi môn Cơ sở Văn hoá Việt Nam - Pdf 13

Câu 1: Trình bày khái niệm văn hóa và văn minh.
- Văn hóa là một từ tiếng Hán, do Lưu Hướng, người thời Tây Hán nêu ra đầu tiên. Nhưng lúc
bấy giờ, hai chữ văn hóa có nghĩa là “dùng văn để hóa”, nói một cách khác, văn hóa tức là giáo
hóa. Đến thời cận đại, nghĩa của chữ văn hóa có phần khác trước, chữ văn hóa trong tiếng Anh
và tiếng Pháp là culture. Chữ này có nguồn gốc từ chữ La tinh cultura nghĩa là trồng trọt, cư
trú, luyện tập, lưu tâm Đến giữa thế kỉ 19, do sự phát triển của các khoa nhân loại học, xã hội
học, dân tộc học , khái niệm văn hóa đã thay đổi. Người đầu tiên đưa ra định nghĩa mới về văn
hóa là Taylor, nhà nhân loại học đầu tiên của nước Anh, ông nói: “Văn hóa là một tổng thể
phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật phong tục và cả những
năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội”. Sau đó, các học giả đã đua nhau đưa
ra những định nghĩa về văn hóa. Trên cơ sở ấy, người Nhật Bản đã dùng hai chữ văn hóa để
dịch chữ culture của phương Tây và do đó chữ văn hóa mới có nghĩa như ngày nay.
Như vậy, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử. và văn hóa cùng xuất hiện đồng thời với loài người.
Khi con người biết chế tạo ra công cụ đá cũng là khi họ bắt đầu sáng tạo ra văn hóa. Dần dần,
ngoài văn hóa vật chất, họ còn sáng tạo ra nghệ thuật, tôn giáo Trên cơ sở nền văn hóa nguyên
thủy, đến giai đoạn nhất định, loài người mới tiến vào thời kì văn minh.
- Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức
là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa.
Chữ văn minh còn có nghĩa là hoạt động khai hóa làm thoát khỏi trạng thái nguyên thủy.
Như vậy, khi định nghĩa văn minh, người ta đã đề cập đến một khái niệm mới, đó là văn hóa.
Như thế, văn hóa và văn minh đều là những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo
ra trong tiến trình lịch sử, nhưng văn hóa và văn minh khác nhau ở chỗ văn hóa là toàn bộ
những giá trị mà loài người sáng tạo ra từ khi loài người ra đời đến nay, còn văn minh chỉ là
những giá trị mà loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội. Đó là giai đoạn
có nhà nước. Thông thường vào thời kì thành lập nhà nước thì chữ viết cũng xuất hiện, do đó
văn hóa có một bước phát triển nhảy vọt. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cụ thể, có một số nơi, khi
nhà nước ra đời vẫn chưa có chữ viết.
Tóm lại, các khái niệm văn hóa và văn minh, ngoài những nghĩa riêng biệt không lẫn lộn được
như đối với từng cá nhân, chỉ có thể nói trình độ văn hóa, không thể nói trình độ văn minh,
ngược lại, đối với xã hội, chỉ có thể nói thời đại văn minh, không thể nói thời đại văn hóa, nói

hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch
ăn khách. sản phẩm du lịch.
Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá
(mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa
chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm
tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong
không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò
theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những
điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa
học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý
học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.
Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa
chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:
Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc
người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của
người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng… cũng thuộc loại này.
Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn
Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông;
dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc
dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih
thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc
Mnông.
Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người
Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).
Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ.
Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người
Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu
hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở
người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: Dàn chiêng nam,

tiên, đối thoại với cộng đồng và với chính mình. Khó có nhạc khí nào, sinh hoạt văn hoá nào lại
có nhiều vai trò đến vậy. Với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, phương tiện để khẳng định
cộng đồng và bản sắc cộng đồng là cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng.
Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một cách tổ chức dàn cồng chiêng khác nhau, cách chơi cũng
khác nhau. Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng
Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn
mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana – Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm
của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng
không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót).
Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và
sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm
thực dân gian… đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của
các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo
đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng).
Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để nối kết cộng đồng cũng lại là cồng chiêng.
Tiếng cồng chiêng vang lên để nối kết cá thể với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng
khác của cùng một dân tộc. Điều đáng lưu ý là Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc
luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc
mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá
cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng. Tiếng
cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh
tương ứng khiến họ tìm đến với nhau./.
Câu hỏi 3: Trình bày lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hoá:
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân
tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một
hoặc cả hai nhóm. Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các
cộng đồng. Ở đó có sự kết hợp giữa các yếu tố "nội sinh" với yếu tố "ngoại sinh" tạo nên sự
phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn. Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp
nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt
mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố "nội sinh" và "ngoại sinh".

Một: có thái độ chủ động, tích cực hội nhập.
Hai: trong giao lưu và tiếp biến văn hoá, phải tiếp thu những điều tốt đẹp, không lai căng. Với
tinh thần đó, trong suốt chiều dài lịch sử, không mặc cảm tự ty mà chủ động giao lưu và tự
khẳng định bản sắc dân tộc mình.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (có 54 dân tộc), đây là một nền văn hoá thống nhất
trong đa dạng, nên cần phải giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của 54 dân tộc trên đất Việt
Nam, giữ gìn các vốn cổ, trong đó có ngôn ngữ dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì
cũng làm mới. Cái gì xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa
đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm”.
Ba: Hồ Chí Minh cho rằng: có thể tiếp nhận bất cứ cái hay nào, nhưng điều cốt yếu là phải sáng
tạo; mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng có cái hay cho người ta hưởng; mình đừng
chịu vay mà không trả.
Sự giao lưu và tiếp biến văn hoá là đem những cái tốt đẹp trong văn hoá của nhân loại hoà
vào và phát triển cùng văn hoá dân tộc, nâng tầm văn hoá dân tộc lên, đưa văn hoá dân tộc đóng
góp chung vào văn hoá thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc, góp vào bước
tiến chung của nhân loại.
Các giá trị tốt đẹp của văn hoá chính là giá trị tốt đẹp của xã hội và con người Việt Nam là
sản phẩm của lịch sử dựng nước và giữ nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc và là bản chất của
quá trình lịch sử ấy. Các thế hệ ông cha đã sản sinh ra những giá trị văn hóa dân tộc; kế thừa,
phát huy và phát triển là công việc của con cháu, của thế hệ hôm nay, bởi nó là kết tinh văn hóa
nhân loại đã được dân tộc ta tiếp thu và trở thành điều cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, càng cần phải kiên định hơn nữa trong bối cảnh mới, chúng ta vừa
có điều kiện để phát huy văn hóa dân tộc, vừa phải có trách nhiệm hơn, có ý thức cao hơn trong
việc tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc là nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện mới của sự mở rộng
giao lưu và hợp tác quốc tế. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là để đến với thế giới một cách tốt
hơn, học tập chỗ mạnh của các nền văn hóa khác một cách tốt hơn, tiếp thu văn hóa nhân loại,
thông qua tính dân tộc để thâu lượm, sàng lọc tính hoa của thời đại trên thế giới để sánh vai
cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại, khi chúng ta biết phát huy

Về mặt văn hóa phi vật thể, ta đã du nhập và cải biến nhiều thứ của Trung Quốc. Ta đã học
chữ Hán nhưng cũng tạo ra chữ Nôm và các từ Hán - Việt. Khổng học và Phật học mang những
nét Việt hóa, kể cả những thể chế, lễ nghi, tập quán gốc Trung Quốc. Làng xã là nơi chính
quyền thực dân (Trung Quốc và sau này cả Pháp) không với tới, do đó là đồn lũy bảo tồn gốc
dân tộc với những công trình tôn giáo (chùa, đền, đình ) dân gian.
Tiếp biến văn hóa với Trung Quốc mang tính liên tục, trực tiếp và thường qua đối đầu (chiến
tranh, đô hộ)./.
Câu 5: phân tích những đặc điểm chủ yếu của cuộc giao lưu Văn hoá Việt - Pháp và
những hệ quả của cuộc giao lưu đó.
Tiếp biến văn hóa với Pháp: hiện đại hóa lần thứ nhất (1858-1945) Việt Nam và các
nước châu Á nói chung, “hiện đại hóa” có nghĩa là “Tây phương hóa” với nội dung chủ yếu là
“công nghiệp hóa”, thị thành hóa.
Ở Việt Nam, thời kỳ “hiện đại hóa” lần thứ nhất là thời kỳ Pháp thuộc. Nhưng do chịu tác
động phương Tây thời kỳ này chủ yếu là xã hội thị dân một số thành phố lớn, nên Việt Nam vẫn
còn là một nước thuộc địa bán phong kiến. Do đó, vẫn gọi là Việt Nam thời kỳ truyền thống
chứ chưa gọi là Việt Nam hiện đại.
Từ 1945 thời Pháp thuộc, đối đầu văn hóa là chủ yếu, nhất là giai đoạn đầu: Trí thức Nho
học phản ứng, không muốn đổi “bút lông” lấy “bút chì”, học Quốc Ngữ và tiếng Pháp.
Từ những năm 20-30 thế kỷ 20, song song với đối đầu văn hóa, có hiện tượng đối thoại văn
hóa. Các nhà nho hiện đại như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, các trí thức mới như Dương
Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Nhất Linh muốn đưa khoa học và dân chủ phương Tây vào.
Theo đánh giá khách quan một hiện tượng, một vấn đề, một nhân vật thời thục dân (Pháp),
phải xét về 3 mặt: ý đồ chủ nghĩa thực dân (đối đầu văn hóa), đối thoại văn hóa Đông Tây, vai
trò của cá nhân trong 2 quá trình trên Ví dụ: chữ Quốc Ngữ và trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương.
Vào thế kỷ 17, các giáo sĩ phương Tây, đặc biệt một giáo sĩ Pháp đặt ra chữ Quốc Ngữ để
truyền đạo Thiên chúa ở nước ta. Khi thực dân Pháp chiếm nước ta, ý đồ của họ là dạy chữ
Quốc Ngữ là để phục vụ mục đích cai trị của họ. Những người yêu nước Việt Nam sử dụng
Quốc Ngữ để truyền bá lòng yêu nước, đấu tranh cho độc lập, xây dựng một nền khoa học Việt
Nam. Đó là vai trò cá nhân khác nhau trong tiếp biến văn hóa.

đá trong vùng núi đá vôi Bắc Sơn.
Kinh tế: săn bắt, hái lượm và làm gốm. Công cụ tiêu biểu: rìu cuội ghè đẽo mài lưỡi, thường
được gọi là "rìu Bắc Sơn" và thỏi đá phiến có dấu hai rãnh song song, gọi là "dấu Bắc Sơn".
VHBS phát triển tiếp sau văn hoá Hoà Bình, tồn tại cách ngày nay khoảng từ 7 - 10 nghìn năm
Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên
đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt
theo tên huyện Bắc Sơn, nơi phát hiện đầu tiên những di vật của nền văn hóa này. Các bộ lạc
chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Đông Sơn.
Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên,
Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, ngày nay. Tính đến năm 1997, đã có 51 điểm
văn hóa Bắc Sơn được tìm thấy và khai quật. Trong số đó, có 8 địa điểm tìm thấy di cốt người.
Người nguyên thủy trong nền văn hóa Bắc Sơn trú trong hang động, mái đá gần sông, suối.
Họ sống bằng săn bắn, hái lượm. Họ cũng bắt đầu canh tác nông nghiệp ở mức độ rất sơ khai.
Cộng cụ lao động của họ làm bằng đá đẽo hoặc mài và từ tre, gỗ. Các công cụ này tỏ ra tinh vi
hơn so với công cụ của người nguyên thủy thời văn hóa Hòa Bình. Đặc biệt, người nguyên thủy
thời văn hóa Bắc Sơn đã biết làm đồ gốm. Họ thích trang sức hơn so với người thời văn hóa
Hòa Bình và có nơi cư trú tương đối ổn định hơn./.
Câu 8: Văn hoá Đại Việt thời Lý-Trần:
Cùng với sự lớn mạnh về chính trị và kinh tế, các vương triều Lý, Trần, đã chứng kiến một
sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Đây là giai đoạn thịnh đạt của nền văn hóa Đại Việt. Như Lê
Quý Đôn đã nhận định “Nước Nam Ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh”.
Đây là những thế kỷ phục hưng của nền văn hóa Việt cổ bản địa (văn minh Văn Lang – Âu
Lạc) trên nền tảng của sự khôi phục độc lập dân tộc và sự giữ vững chủ quyền quốc gia qua
những cuộc kháng chiến của Đại Việt chống Tống, Nguyên thắng lợi. Vị thế độc lập về chính trị
– dẫn đến ý thức độc lập về văn hóa. Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức tìm về cội
nguồn đã thấm đậm trong môi trường văn hóa thời Lý -Trần.
Cùng với sự phục hưng, văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần đã trở nên phong phú và phát triển
ở một tầm cao mới qua một quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa. Trên cơ sở cốt lõi của nền
văn hóa Việt cổ, với tư cách là những vương triều phong kiến độc lập, các triều đình Lý, Trần
đã tự nguyện, chủ động tiếp thu và cải biến những yếu tố của văn hóa Đông Á Trung Hoa, cũng

Thời Lý – Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị-
xã hội. Có 3 tông phái chủ yếu: Tịnh Độ tông thờ đúc Phật Adiđà, chú trọng đến lễ thức lên
chùa lễ Phật, phổ biến trong quần chúng nhân dân làng xã; Mật tông là tông phái Phật giáo có
sử dụng nhiều phép lạ, phần nào có ảnh hưởng của Đạo giáo; Thiền tông vốn có truyền thống từ
lâu, là tông phái có thế lực lớn nhất, chú trọng đến thiền định về tư tưởng, chủ trương Phật tại
Tâm, được các giới quý tộc, trí thức hâm mộ. Có 2 phái Thiền tông chính: Phái Thảo Đường do
Lý Thánh Tông sáng lập, có nơi trụ trì chính là chùa Khai Quốc.
Nhà nước Lý – Trần tôn chuộng đạo Phật, trong bối cảnh của sự khoan dung, hòa hợp tôn
giáo “Tam giáo đồng nguyên”, chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật và Nho, giữa giáo lý và thực
tiễn đời sống.
Đạo Phật thời Lý – Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của Nhà nước (chính sách thân
dân, khoan dung), là đối trọng tư tưởng của Nho giáo, tạo nên thế cân bằng tôn giáo.
- Thời Lý – Trần, Nho học phát triển từ trên xuống dưới. Năm 1070, Văn Miếu được thành
lập, cũng là nơi dành riêng để dạy học cho Hoàng Thái tử. Lúc đầu, khi mới mở trường chỉ có
các quý tộc quan liêu và con em được theo học. Nhìn chung, việc giáo dục Nho học ở thời Lý
còn khá hạn chế.
Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ dưới thời Trần.
- Văn học thời Lý- Trần phản ánh những tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, nhìn
chung mang nhiều yếu lố tích cực, lạc quan của những vương triều đang ở thế đi lên. Cơ sở tư
tưởng của nó là Phật giáo và Nho giáo. Có 2 dòng văn học chính: văn học Phật giáo và văn học
yêu nước dân tộc.Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý – Trần chủ yếu là tư tưởng của phái
Thiền tông. Nó bao gồm các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo, cùng là những
tác phẩm về lịch sử Phật giáo thời Lý – Trần.
Một thành tựu quan trọng của văn học Lý- Trần là việc phổ biến chữ Nôm, vừa mang tính
dân tộc, vừa mang tính dân gian, cải biến và Việt hóa chữ Hán. Chữ Nôm lúc bấy giờ được gọi
là “Quốc ngữ”, “ Quốc âm”.
Thời Lý – Trần cũng để lại nhiều công trình về nghệ thuật kiến trúc- điêu khắc. Nhìn chung,
kiến trúc thời Lý mang tính hoành tráng, quy mô; kiến trúc thời Trần mang tính thực dụng, khoẻ
khoắn. Tinh thần Phật giáo đã thấm đượm trong các công trình này.
- Thuộc mỹ thuật thời Lý- Trần, còn có các đồ gốm, dáng hình đơn giản, thanh thoát. Có các

Văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần chính là một sức mạnh tinh thần, vừa là một xung lực vừa
là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời nó cũng là một tố
chất cố kết cộng đồng người Việt, trên cơ sở tìm về một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung,
làm chín muồi ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc Việt./.
Câu 9: Văn hoá Đại Việt thời Lê Sơ:
Triều Hậu Lê kéo dài 361 năm (1428 - 1789), được chia làm 2 thời kì : Lê sơ được tình từ khi
Lê Lợi lên ngôi( 1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi ( 1527), gồm 11 đời vua, trong đó
Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn thịnh
trị nhất.
Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn
bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế. Đến thời Lê Thánh Tông
(1460 - 1497), nó đạt tới đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền. Đây là một bước
ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý - Trần mang đậm
tính Phật giáo màu sắc Đông Nam Á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á.
Trong thiết chế quân chủ thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được rất cao với chủ nghĩa "tôn
quân". Theo đó, nhà vua là "con Trời". Người giữ mệnh Trời, thay Trời trị dân.
Bộ máy quan liêu hành chính và chuyên môn cũng được kiện toàn từng bước. Năm 1471 , Lê
Thánh Tông đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, nhằm tăng cường sự kiểm soát chỉ
đạo của Hoàng đế đối với các triều thần, tăng cường sự ràng buộc, kiểm soát lẫn nhau trong giới
quan liêu, tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quan lại.
Trong việc trị nước, bên cạnh lễ giáo, các vua thời Lê sơ rất chú trọng đến việc chế định pháp
luật. Lê Thánh Tông nói: "Pháp luật là phép công của nhà nước, vua cùng quan đều phải theo".
Với lòng tự hào dân tộc, các vua thời Lê sơ đã không ngừng củng cố, phát triển quốc gia dân
tộc thống nhất.
Nhà nước quân chủ tập trung thời Lê sơ là một nhà nước mạnh và ổn định. Trong sự phục hồi
và phát triển kinh tế, Nhà nước đó đã đề cao vai trò chỉ đạo và sự can thiệp của mình vào đời
sống kinh tế - xã hội, duy trì sự cân bằng giữa những yếu tố nhà nước và dân gian, công hữu và
tư hữu. Thời Lê sơ, nền kinh tế tiểu nông - sản xuất nhỏ làng xã đã được duy trì và khuyến
khích, với sự can thiệp và bảo hộ của một Nhà nước thu tô, trọng nông. Nhà nước đó cũng có
thái độ dè dặt, không khuyến khích nền kinh tế công thương nghiệp hàng hóa phát triển, nắm

tiền là 60 đồng, tức 1 quan = 600 đồng.
Riêng việc buôn bán với nước ngoài, Nhà nước đã kiểm soát nghiêm ngặt các cáng khẩu, cấm
dân chúng tự tiện buôn bán trao đổi hàng hóa với các tàu buôn ngoại quốc, thi hành chính sách
bế quan toả cảng".
Xã hội Đại Việt thời Lê sơ là một xã hội tương đối ổn định và phát triển, đồng thời là một xã
hội mang tính đẳng cấp đã chín muồi. Có hai đẳng cấp chính: quan liêu và thứ dân (chia thành 4
tầng lớp: sĩ. nông, công, thương). Thời Lê sơ các quan hệ giai cấp (địa chủ phong kiến và nông
dân) đã đan chen vào các quan hệ đẳng cấp. Đội ngũ quan chức thời Lê sơ là những tri thức
Nho sĩ được tuyển lựa kỹ lưỡng (chủ yếu qua khoa cử), được rèn luyện và kiểm soát chặt chẽ.
Đó cũng là đẳng cấp có nhiều đặc quyền, ưu đãi trong các tiêu chuẩn sinh hoạt (nhà cửa, quần
áo, võng lọng), được ban cấp đất ở, ruộng lộc điền, lương bổng .
Đầu thời Lê sơ, các công thần chủ yếu là quan võ, sau dần dần chuyển sang các quan văn. Với
việc mở rộng khoa cử, các Nho sĩ trí thức bình dân đã có điều kiện tham gia chính quyền, tạo
nên sự bình đẳng tiến thân, thoáng rộng hơn so với thời Lý - Trần. Tuy nhiên, quan lại lúc này
cũng bị kiểm soát ràng buộc nghiêm ngặt bởi các lễ thức, quy phạm Nho giáo, do vậy, đã mang
nhiều tính chuyên chế và quan liêu hơn. Nho sĩ thời Lê sơ là cầu nối giữa bình dân và quan liêu.
Nông dân là tầng lớp xã hội đông đảo nhất, đã phân hóa thành nhiều bộ phận: địa chủ bình dân,
nông dân tự canh, tá điền. Địa chủ bình dân cùng với địa chủ quan liêu đã hợp thành giai cấp
phong kiến.
Nhìn chung, thời Lê sơ, văn hóa Đại Việt đã chuyển sang sự ưu thắng của văn hóa Đông Á,
Nho học- Nho giáo.
Đây là thời kỳ diễn ra một sự phân dòng văn hóa. Dòng văn hóa dân gian làng xã không được
nhà nước khuyến khích, đã tách khỏi dòng văn hóa cung đình. Sự phân dòng văn hóa này đã
phản ánh sự phân tầng đẳng cấp ngoài xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế, các yếu tố văn hóa khác biệt nhau vẫn cùng tồn tại, chung sống hòa
bình, như giữa Nho và Phật, Đạo, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian. Mô hình ý
thức hệ đã phải nhân nhượng với thực trạng văn hóa.
Các nhà vua thời Lê sơ đã từ bỏ chính sách khoan dung Tam giáo đồng nguyên của nhà nước
thời Lý- Trần để chuyển sang một chính sách văn hóa đơn nguyên quan phương, độc tôn Nho
giáo và Nho học. Ở đây, Tống Nho đã được đề cao như một hệ tư tưưởng chính thống nhà

đến trình độ hoàn mỹ. Đồ đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn không thể lẫn với bất cứ nền văn hóa
khảo cổ nào khác trên thế giới. Trống đồng là loại di vật điển hình nhất của Văn hóa Đông Sơn.
Trống đồng chính là một linh vật của người Việt cổ được sử dụng trong các lễ hội, nó còn là
một bộ sử bằng hình ảnh khi chữ viết chưa phát triển. Trống đồng Đông Sơn có quy mô đồ sộ,
hình dáng cân đối, thể hiện trình độ cao về kỹ năng và nghệ thuật. Trống đồng thể hiện tín
ngưỡng, cuộc sống sinh hoạt của người Việt cổ. Có hai loại hoa văn không thể thiếu trên mặt tất
cả các trống đồng Đông Sơn là hình Mặt Trời với số cánh chẵn 12, 14, 16 hoặc 18 cánh và
Chim Lạc (xuất phát từ việc cư dân Việt cổ gắn với văn minh lúa nước do đó thờ thần mặt trời
và những loài chim gắn bó với đồng ruộng). Điều đó giúp chúng ta hiểu thêm về đời sống vật
chất và tâm linh của dân cư bản địa thời Đông Sơn.
Qua quá trình nghiên cứu, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã chia sưu tập hiện vật Văn hóa
Đông Sơn làm các loại chính sau:
- Vũ khí: Rìu, giáo, lao, dao găm, búa chiến, mũi tên, hộ tâm phiến Điểm khác biệt với loại
hình khác là các bộ dao găm có tay chắn thẳng; rìu lưỡi lượn gấp khúc và lưỡi xéo gót vuông có
hoa văn trang trí.
- Công cụ sản xuất: Rìu, lưỡi cày, cuốc, lưỡi dao gặt đặc sắc nhất là bộ lưỡi cày đồng.
- Đồ dùng sinh hoạt: Thạp, thố, bình, khay, đĩa, chậu, âu, muôi, thìa Đặc sắc nhất của loại
hình sông Hồng là thạp Đồng Thịnh (Yên Bái) có niên đại 2000-2500 năm. Thạp được đúc với
kỹ thuật cao, được trang trí các hình chèo thuyền, chim bay…trên nắp thạp được tạc 4 cặp
tượng nhỏ nam nữ trong tư thế giao hoan, thể hiện sinh động tín ngưỡng phồn thực của người
Việt cổ.
- Nhạc cụ: Trống đồng, chuông đồng mà trong đó trống đồng Đông Sơn (trống đồng Ngọc Lũ)
là trống loại I cổ nhất, đẹp nhất.
Đồ gốm: Chủ yếu là đồ đựng. Gốm có màu trắng mốc, trắng hồng, xương gốm mịn màu đen,
màu xám đen, màu đỏ thổ hoàng được phủ cả trong lẫn ngoài hiện vật có độ nung cao.
- Đồ trang sức: Vòng, khuyên tai, hạt chuỗi, trâm, khóa thắt lưng Vòng tay bằng đá, đồng,
hạt chuỗi
Văn hoá Đông Sơn được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1924 ở di tích làng Đông Sơn, Thanh
Hoá, bên bờ phải sông Mã. Địa bàn phân bố của loại hình chủ yếu thuộc lưu vực sông Mã, sông
Chu, ranh giới phía Bắc của nó tiếp giáp với địa bàn của Văn hoá Đông Sơn loại hình sông

kế thừa từ các thời kỳ tiền Đông Sơn trước đó là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa Đồng
Đậu và Văn hóa Gò Mun. Dưới góc độ nghiên cứu khảo cổ học của các nhà nghiên cứu:
Văn hóa Đông Sơn, kể từ văn hóa Phùng Nguyên tính đến thời điểm này, vẫn có thể coi là nền
văn hóa đồ đồng có niên đại xưa nhất so với niên đại văn hóa đồ đồng ở các nơi khác trong
vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Các sinh hoạt văn hóa của cư dân Đông Sơn được mô tả khá phong phú trên các hoa văn rất
sắc nét của trống đồng. Thật may mắn cho những trang sử được chạm khắc trên chất liệu đồng
đã lưu giữ cho người Việt Đông Sơn một trong những chứng cứ về văn hóa Đông Sơn.
Các yếu tố thuộc về văn hóa ở Đông Sơn không hề có bóng dáng của yếu tố bên ngoài. Bởi vì
thời điểm văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ nhất cách ngày nay khoảng 2.500 năm.
Nghệ thuật Đông Sơn cho ta thấy sự cảm nhận tinh tế của các cư dân thời đó qua khả năng
chạm khắc, tạo hình tinh tế và một đời sống ca múa nhạc phong phú. Hình chạm khắc trên tống
đồng Đông Sơn cho ta thấy những hình người thổi kèn, các vũ công đầu đội mũ lông chim trĩ,
chim công (một loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới), nhà sàn của cư dân vùng nhiệt đới
Đông Nam Á, bộ sưu tập về các loài chim cổ mà ngày nay nhiều trong các số loài đó đã tuyệt
chủng.
Đồ dùng Đông Sơn gồm có các loại thạp, có nắp hay không nắp, với những đồ án hoa văn
trang trí phức tạp, những thổ hình lẵng hoa có chân đế và vành rộng, các loại gùi, vò, ấm, lọ,
chậu. Qua đó làm chứng cứ về một xã hội phức tạp trên cơ sở các đại gia đình, các dòng họ
trong cộng đồng làng xã đã định cư ổn định.
Người Đông Sơn trang sức bằng các loại vòng tay, vòng ống ghép, nhãn, hoa tai, móc đai
lưng, bao tay, bao chân, ví dụ như bao tay và bao chân tìm thấy ở di tích Làng Vạc, Nghệ An.
Nghệ sĩ tạc tượng Đông Sơn để lại cho chúng ta nhiều loại tượng người, tượng thú vật như
cóc, chim, gà, chó, hổ, voi
Nhạc sĩ Đông Sơn đã diễn tấu các loại chuông nhạc, lục lạc, khèn, trống đồng.
Các nhà sử học thống nhất ý kiến ở một điểm: Việt Nam có một cộng đồng văn hóa khá rộng
lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển
rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này. Đó là cộng đồng văn hóa Đông Sơn.
Cộng đồng văn hóa ấy phát triển cao so với các nền văn hóa khác đương thời trong khu vực,
có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hóa vùng Đông Nam

cũ, xây dựng các giá trị mới. Bảo tồn nhưng vẫn phải là một nền văn hóa mở. Hiện đại nhưng
không xa rời dân tộc. Công cuộc đổi mới văn hóa đang tiếp tục /.
Câu 11: Văn hoá ChamPa và những nét đặc trưng nổi bật của kiến trúc tháp Chàm:
Văn hóa Chăm Pa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Campuchia và Java đã từng phát triển
rực rỡ với những đỉnh cao nghệ thuật là phong cách Đồng Dương và phong cách Mỹ Sơn mà
nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, đặc biệt là các hiện vật có hình linga vẫn
còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính
của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa.
Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính:
- Các di tích còn lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như
đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá.
- Các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt các công trình
bằng đá
- Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khác liên
quan còn lại.
Vương quốc Chăm Pa không phải là một quốc gia có thể chế chính trị "Trung ương tập
quyền" mà là một dạng nhà nước liên bang gồm tộc người Chăm chiếm đa số và một số tộc
người nhỏ hơn ở vùng núi Tây Nguyên. Có những nguồn tài liệu cho biết Chăm Pa có thể được
kết hợp từ bốn tiểu quốc là Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Mỗi Tiểu quốc đều có
thể chế chính trị theo hình thức tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia
riêng độc lập. Vương quốc Chăm Pa đã trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào
Nam và ngược lại.
Dân tộc chính của Chăm Pa là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc
và Chăm ở phía Nam. Nhóm Nam Chăm thuộc bộ tộc Cau và Nhóm Bắc Chăm thuộc bộ tộc
Dừa. Hai bộ tộc này vừa liên minh với nhau, vừa cạnh tranh nhau quyền đứng đầu Vương quốc
Chăm Pa.
Người dân Chăm Pa có nguồn gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á từ
Borneo vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên. Qua quan
sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng đã phát hiện thấy có một sự chuyển đổi liên tục từ
những địa điểm khảo cổ như hang động. Các địa điểm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú đồ sắt

đổi khác nhau, dấu dấn riêng biệt của người Chăm là kỹ thuật làm gạch kết dính để xây tháp và
chạm trổ trên đá, những chất liệu của văn hóa kiến trúc Chămpa như: các thức vòm, kiểu dáng
mái cho đến vật liệu đất nung, mạch vữa xám để trần, các tượng trang trí và phù điêu.
Cùng với nền điêu khắc của người Khmer và người Java, nền điêu khắc Chăm Pa là một trong
ba nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ đạt tới tầm cỡ thế giới. Tuy ảnh hưởng nhiều từ
nền điêu khắc Ấn Độ, Java và Khmer nhưng điêu khăc Chăm Pa vẫn có những tính độc đáo
riêng. Xu thế hướng tới tượng tròn của hầu như tất cả các hình chạm khắc dưới dạng phù điêu,
trong điêu khắc Chăm Pa rất ít có khung cảnh chung mà nhấn mạnh vào từng hình tượng, Ví dụ
như bức phù điêu tiên nữ Apsara đang múa được tìm thấy ở Trà Kiệu thể hiện bàn tay to, cánh
tay cong. Chính vì thế nghệ thuật điêu khắc của Chăm Pa mang tính ấn tượng nhiều hơn là tả
thực, tính ấn tượng có thể nói là đặc điểm quan trọng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật
điêu khắc cổ Chăm Pa./.
Đặc trưng của tháp Champa
Tháp Champa, là một dạng công trình thuộc thể loại kiến trúc đền tháp Champa, thuộc kiến
trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam
Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Có thể thấy vị trí phân bố các đền tháp là những nơi từng là nơi
ở của người Champa, xa hơn nữa còn có những ngôi tháp có thể coi là tháp Champa trên đất
nước Camphuchia như tháp Damray Krap.
Ngược lại, những yếu tố Java hay Khmer cũng được thấy trên các tháp Champa như ở
Khương Mỹ, Hưng Thanh, Dương Long, hay có cả những ngôi tháp còn được người Champa
gọi là "tháp Khmer" như tháp Champa Hoà Lai. Những ngôi đền tháp theo hai phong cách này
có những hàng cột ốp và những cửa vòm khoẻ khoắn. Những băng trang trí cho công trình có
rất nhiều họa tiết. Yếu tố tiêu biểu nhất cho phong cách Hoà Lai (nửa đầu thế kỷ thứ 9) là các
vòm cửa nhiều mũi tròn trùm lên các cửa thật, cửa giả và các khám. Các cột ở khung cửa hình
bát giác bằng sa thạch được trang trí bằng một đường các hình lá uốn cong. Khoảng giữa hai cột
trụ ốp có trang trí hình thực vật. Ở bên dưới các cột trụ ốp là các hình kiến trúc thu nhỏ trong đó
có hình người đắp nổi. Tất cả tạo cho các tháp Hoà Lai một vẻ đẹp trang trọng và tươi mát.
Mọi ngôi tháp đều được xây bằng gạch hoặc chủ yếu bằng gạch. Gạch có màu đỏ hồng, đỏ
sẫm, được nung trước với độ xốp cao, được xây không có mạch vữa và có thể có điêu khắc trực
tiếp trên gạch.

tháp người Chăm. Các ý kiến của tác giả nêu trên tựu trung lại thành 4 giả thuyết như sau:
- Trong kĩ thuật xây tháp, người Chăm nung gạch toàn khối hoặc nhiều lần để các viên gạch tự
kết dính với nhau.
- Sử dụng chất kết dính (chất keo, phụ gia) trong việc xây gạch.
- Mài gạch với mặt tiếp xúc để gạch tự kết dính với nhau.
- Dùng kĩ thuật xếp gạch nung sẵn.
Tất cả những giả thuyết trên, mặc dù hiện nay được hỗ trợ bằng phương pháp phân tích khoa
học thực nghiệm hiện đại, tiên tiến nhưng kết quả về chất kết dính, về kỹ thuật xây dựng tháp
Chăm vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tiếp tục công việc nghiên cứu của các tác giả đi trước, sau
năm 1975 các tác giả Việt Nam như Cao Xuân Phổ, Trần Kỹ Phương, Ngô Văn Doanh… cũng
đã mất khá nhiều công sức nghiên cứu tháp Chăm nhưng chưa có gì mới hơn. “Hầu hết các giả
thuyết” nghiên cứu sau năm 1975 gần như lặp lại các giả thuyết trước 1975 của các nhà nghiên
cứu người Pháp”. Tháp Chăm vẫn đang còn bí ẩn, chưa được khám phá.
Cùng với kiến trúc, điêu khắc Champa cũng thể hiện được vẻ đa dạng, độc đáo. Những đề tài
điêu khắc Chăm là những tượng thờ Siva, Vishnu, Brahma. Ngoài những vị thần trên, vật thờ ở
tháp Chăm phổ biến vẫn là cặp Linga-Yoni. Ngoài tượng thờ các vị thần chính, điêu khắc ở đền
tháp Chăm còn trang trí bằng tượng thờ Vũ nữ (apsara), người cưỡi ngựa đánh cầu; những con
vật huyền thoại như Garuda, Kala, bò thần Nandin. Những cảnh chạm khắc trang trí ở các bệ
thờ, điêu khắc Chăm phần lớn ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ. Chẳng hạn bệ thờ Trà Kiệu chạm
khắc 4 cảnh quanh đài thờ kể chuyện trường ca Ramayana (chủ đề lễ cưới công chúa Sita). Bệ
thờ Mỹ Sơn E1 diễn tả cảnh sinh hoạt lễ nghi tôn giáo của đạo sĩ Ấn và những cảnh trầm tư,
giảng đạo múa hát, luyện thuốc chữa bệnh. Điêu khắc Chăm đã thể hiện nhiều đề tài phong phú,
đa dạng. Một số tác phẩm đã trở thành kiệt tác mà tiêu biểu là tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Apsara)
được đánh giá là “đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Champa và của cả miền Đông Nam Á”.
Nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc Chăm tuy có những nét ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ, Indonesia,
Khơme nhưng họ không tiếp thu, sao chép một cách nguyên vẹn mà luôn cải biên sáng tạo trên
cơ sở văn hoá bản địa. Người Chăm một thời tôn thờ, đề cao Siva Ấn Độ nhưng Siva của người
Chăm không giống Siva Ấn Độ, Siva Chăm vẫn hướng về nữ tính, gần gũi với tín ngưỡng thờ
mẫu (Inư) của người Chăm và luôn kết hợp với Linga – Yoni (tín ngưỡng phồn thực). Về sau
tục thờ Siva được gắn với tục thờ Vua - Thần (Mukhalinga). Điều đó thể hiện được tính bản địa

Có những căn cứ ít nhiều mang tính khoa học trong cách chọn cá, thịt: “Cá tươi thì phải xem
mang, người khôn xem lấy hai hàng tóc mai”, “Thịt tươi thì phải xem gan, mua bầu xem cuống
mới toan không nhầm”. Có thể nói, cha ông đã đúc kết và truyền lại kinh nghiệm trong việc
chọn thực phẩm theo mùa, theo thời kỳ sinh trưởng, theo chủng loại… Điều đó được đúc rút
trong quá trình lao động, sản xuất và ăn uống của người Việt Nam ta.
Không chỉ cần có thực phẩm ngon, mà còn phải có nghệ thuật chế biến mới có được món ăn
ngon. Có những món ăn tưởng chừng như rất đơn giản như dưa cà, rau muống nhưng không
phải ai cũng có thể làm ngon: “Muối dưa phải dằn đá, làm cá phải róc vây”. Tùy từng tay nghề
của mỗi người mà hương vị món ăn lại có sức hấp dẫn khác nhau. Nấu ăn là một nghệ thuật,
không đơn giản chỉ là “chém to kho mặn”.
Trong kho tàng tục ngữ người Việt có khá nhiều câu nói về kinh nghiệm chế biến, nấu ăn như:
kinh nghiệm nấu cơm: “Cơm gạo mùa thổi đầu chùa cũng chín”, “Cơm sôi nhỏ lửa một đời
không khê”; kinh nghiệm mổ gà: “Gà mổ đằng bụng, chim mổ đằng lưng”, kinh nghiệm làm
tương: “Tốt mốc ngon tương”; làm mắm: “Mắm mặn chết giòi”; kinh nghiệm nấu thịt chó và
chọn rượu: “Rượu tăm thịt chó nướng vàng, mời đi đánh chén cách làng cũng đi”.
Nhiều kinh nghiệm chế biến và nấu nướng đã được cha ông truyền lại cho con cháu, vì vậy ở
Việt Nam đã hình thành những món ăn gắn liền với những vùng đất, tạo nên những làng nghề
truyền thống: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”,
cốm làng Vòng, bánh cuốn Thanh Trì, rượu làng Mơ…
Quan niệm về ăn uống của người Việt cũng rất đặc sắc. Người Việt Nam coi ăn uống là nhu
cầu tất yếu. Song bên cạnh đó con người luôn phải “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Vì vậy,
với con người, ăn không chỉ là bản năng mà còn là văn hóa. Ăn sao cho văn minh, lich sự, và
để ăn uống trở thành một nét đẹp trong sinh hoạt đời thường.
Người Việt Nam coi trọng và đánh giá cao lời mời: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Vì vậy hình
thành nên nguyên tắc quan trọng trong ứng xử: “Ăn có mời, làm có khiến”.
Không gian và đồ dùng ăn uống phải thoáng đãng, sạch sẽ. Cha ông ta không thích “Ăn xó mó
niêu”, “Bốc ngầm trong niêu”. Chính vì vậy mà tồn tại quan niệm: “Một miếng giữa làng hơn
một sàng xó bếp”- sự coi trọng giá trị tinh thần của việc ăn uống, đồng thời thể hiện thói quen
đàng hoàng trong ăn uống. Trong ăn uống, việc ý tứ, từ tốn là rất quan trọng: “Ăn trông nồi,
ngồi trông hướng”.

Trong số hàng trăm loại cá ở đây có nhiều loại cá rất ngon như cá lẹp, cá phèn, cá cóc, cá
bông lau, cá chẻm, cá út, v.v , nhưng nổi tiếng hơn hết có hai loại cá quý, đó là cá chìa vôi ở
Nhà bè và cá cháy ở Trà Ôn, từng được xếp vào hàng đặc sản của sông nước miền Nam. Do là
sản vật đặc trưng trên vùng đất mới, từ thuở khai hoang lập ấp, cá đã là thức ăn rất phổ biến
trong bữa cơm thường ngày của lưu dân. Cá được dùng làm nguyên liệu để chế biến cả hai món
chính trong bữa ăn là món mặn và món canh. Với món mặn, người nội trợ có thể chế biến theo
nhiều cách như cá kho, cá hấp, cá chiên, cá nướng, nhưng thông dụng nhất vẫn là cá kho. Xưa
kia, do còn nghèo hoặc thiếu thốn vật dụng, người ta thường kho cá trong chiếc tô mẻ, gọi là cá
kho tộ. Bây giờ, dù đã được kho trong các loại nồi ơ hiện đại, món ăn này vẫn được gọi theo tên
cũ có 4 loại cá kho tộ ngon nhất, đó là cá rô, cá trê vàng, cá bông lau và cá lóc.
Món chủ lực thứ hai trong bữa cơm là món canh. Bình thường, món canh được chế biến theo
nguyên tắc: ở địa phương có cá gì, rau gì thì nấu canh bằng cá ấy, rau ấy. Có nhiều loại canh rất
ngon như canh điên điển cá rô, canh bông súng cá linh, canh rau đắng cá lóc Tuy nhiên, do
đặc điểm thời tiết nắng nóng quanh năm, người dân lao động nặng nhọc, vất vả suốt ngày nên
đa số rất ưa thích món canh chua, vừa dễ ăn, lại vừa giải nhiệt. Tùy theo từng địa phương,
những loại cá thường được sử dụng để nấu canh chua là cá lóc, cá chẻm, cá bông lau, cá cóc, cá
basa và cá linh.
Những người nội trợ tài hoa ở các địa phương đã chế biến được những loại mắm ngon nổi
tiếng như mắm cá linh, cá sặc ở Đồng Tháp, mắm ruột, mắm thái ở An Giang. Ngoài ra, còn có
mắm còng ở Long An, mắm tôm chà ở Gò Công, mắm ba khía ở Cà Mau cũng rất được ưa
chuộng. Là một món ăn dân dã nhưng ngon miệng, mắm trở thành một loại thức ăn rất phổ biến
ở miền Nam. Người ta có thể ăn mắm theo nhiều cách như mắm xé, mắm chưng, mắm chiên,
mắm kho và lẩu mắm, trong đó lẩu mắm đã được nâng lên hàng nghệ thuật ẩm thực, có mặt
trong thực đơn của các quán ăn bình dân cũng như những nhà hàng, khách sạn nổi tiếng.
Sau cá, rau rừng là loại thức ăn không thể thiếu trong bữa ăn. Danh mục những loại rau trong
nền văn hóa ẩm thực của người phương Nam hết sức phong phú và độc đáo, không thể tìm thấy
ở miền Bắc hay miền Trung. Chỉ riêng các loại lá, loại trái dùng để nấu canh chua đã có đến
hàng chục loại như trái me, trái khế, chùm ruột, xoài, trái bần, trái giác, lá bứa, lá giang, đọt cóc
v.v… Ngoài ra còn có thể kể đến hàng chục loại rau khác nấu kèm với chúng như bông súng,
bông điên điển, bông so đũa, kèo nèo, bồn bồn, mái dầm, tai tượng, lục bình, rau dừa, rau đắng,

ngư dân các vùng biển. Về nguồn gốc của cách ăn uống này, có thể giải thích như sau: thoạt
đầu, do thời tiết phương nam quanh năm nắng nóng, lưu dân ưa ăn chua để giải nhiệt. Sau đó,
như trên đã đề cập, do môi trường rất khắc nghiệt đã bắt buộc lưu dân phải tìm cách để tự thích
nghi với hoàn cảnh sống của mình. Giữa hàng trăm loại cây lá hoang dại, họ chọn những loại
rau - lá có vị chát, đắng để tránh độc làm thức ăn. Mặt khác, theo cách ăn uống dân gian từ ngàn
xưa, là “đói ăn rau, đau uống thuốc”, thì những vị đắng - chát trong những thứ rau ấy cũng
chính là những vị thuốc nam. Trong hoàn cảnh thiếu thốn, lưu dân đã tìm cách bảo vệ sức khỏe
bằng cách ăn uống như vậy. Sau đó, nhờ khẩu vị tinh tế của những người nội trợ, họ đã điều
chỉnh, gia giảm, thêm bớt các loại gia vị vào món ăn sao cho chúng thật hài hòa và phù hợp với
phong cách sinh hoạt trên vùng đất mới. Ngày nay, khẩu vị đậm đà của người phương Nam
được người dân mọi miền ưa chuộng. Canh chua, lẩu mắm đã trở thành những món ăn quen
thuộc đối với người dân ở nhiều vùng trên cả nước.
Tuy nhiên, tuân theo truyền thống mà tổ tiên xa xưa để lại, vào ngày Tết hay những ngày cúng
giỗ, người dân miền Nam vẫn giữ mâm cơm cúng với các món cổ truyền, bao gồm 4 món chính
là luộc, xào, kho, hầm, trong đó món thịt kho tàu có thể được tăng thêm cá lóc, hột vịt, trứng cút
theo phong cách miền Nam, món giò heo hầm măng cũng có thể được thay thế bằng món khổ
qua hầm thịt. Mâm cơm cúng không vì thế mà mất đi sự thiêng liêng, ấm cúng trong gia đình.
Có thể nói, những nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của người dân Nam bộ chính là kết quả
của một quá trình khai hoang khẩn đất kéo dài hàng trăm năm. Rất giản dị, hoang dã, nhưng
cũng rất đa dạng và hào phóng, những nét đặc sắc ấy đã góp phần làm phong phú hơn cho nghệ
thuật ẩm thực của dân tộc Việt Nam và tạo một diện mạo riêng độc đáo cho nghệ thuật ẩm thực
của người phương Nam./.
Câu 13: Trình bày tổng quát tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt và rút ra ý
nghĩa văn hoá của tín ngưỡng đó. Liên hệ vấn đề này với việc xây dựng gia đình văn hoá ở
nước ta hiện nay:
Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt
Nam. Là người Việt Nam thì "mọi người đều thờ ông bà, mọi người đều thờ cúng tổ tiên". Thờ
cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh
thần của dân tộc Việt Nam. Nó là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, nó là sự bồi lắng, kết tụ những giá trị đạo đức quý báu

phải hiếu thảo với cha, mẹ khi còn sống, thành kính, biết ơn, tiếc thương khi cha, mẹ khuất núi
về với tổ tiên. Lòng hiếu thảo là giá trị đạo đức quý báu trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt Nam.
Cùng với sự thể hiện đạo hiếu với tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là sợi dây liên kết
giữa những con người trong cuộc sống hiện tại. "Anh em như thể chân tay", "gà cùng một mẹ",
bà con làng xóm "tắt lửa tối đèn có nhau", tình nghĩa xóm làng như "bầu với bí" tương thân,
tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Từ đó lòng nhân ái, tính cộng đồng được xây dựng,
củng cố, cũng là những giá trị đạo đức đáng trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội của
mỗi con người.
Tưởng nhớ tới tổ tiên, người Việt Nam khéo bảo nhau phải sống sao cho xứng đáng với kỳ
vọng của tổ tiên "con hơn cha, nhà có phúc". Để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc để có thể tự
hào kính báo với tổ tiên, để khỏi phải hổ thẹn với tổ tiên. Khi con cháu phấn đấu thành đạt thì
"vinh quy bái tổ". Người Việt luôn cần cù, sáng tạo trong việc tạo dựng cuộc sống. Đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động cũng được hình thành và khẳng định một phần thông qua ý thức về
tổ tiên, cội nguồn.
Tổ tiên không chỉ là tấm gương sáng cho con cháu noi theo, hiếu đễ với tổ tiên còn có nghĩa là
con cháu phải thành đạt "sóng lớp sau đẩy sóng lớp trước". Thành đạt làm rạng rỡ tổ tiên, dòng
họ, làng xóm, quê hương. Song để thành đạt phải kiên trì tu luyện bản thân, phải chịu khó học
hỏi: Đức tính hiếu học cũng là một giá trị đạo đức tốt đẹp ẩn chứa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên.
Đạo lý hướng về cội nguồn riêng, về những người có công sinh thành tạo dựng cuộc sống đối
với con người Việt Nam thì đồng thời cũng là đạo lý hướng về cội nguồn chung của dân tộc.
Tình yêu quê hương, yêu đất nước cũng được hun đúc từ đây. "Người Việt về viếng tổ, là tỏ
lòng kính hiếu tổ tiên nhân thêm tình thương yêu con người, xứ sở". Kính hiếu với tổ tiên là
kính hiếu với Mẹ Âu Cơ, với Vua Hùng "đã có công dựng nước". Lòng yêu nước, tự hào dân
tộc là giá trị đạo đức quý báu, xuyên suốt và có ý nghĩa định hướng cho lẽ sống của con người
Việt Nam.
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam trong quá trình hình thành, tồn tại
của nó đã góp phần tạo ra những giá trị đạo đức truyền thống như lòng hiếu thảo, lòng nhân ái,
tính cộng đồng, tính cần cù, sáng tạo, lòng hiếu học, lòng yêu nước. Yêu nước là giá trị đạo đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status