Đánh giá thực trạng đô la hóa ở Việt Nam trong thời gian vừa qua và đưa ra các biện pháp khắc phục - Pdf 13


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
   ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN VỪA QUA VÀ ĐƯA
RA CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
SVTH: LÊ THỊ ÁNH
MSSV: K094040511
TP. HCM THÁNG 9/2012

2

Mục lục:
I Giới thiệu chung về đô la hóa 3
1. Khái niệm 3

Thuật ngữ “ đô la hóa ” được dùng theo nghĩa chung ám chỉ bất kì ngoại tệ nào chứ
không chỉ đồng Đô la Mỹ khi thay thế đồng tiền trong nước dẫu rằng ở hầu hết các
nước có sử dụng ngoại tệ rộng rãi thì ngoại tệ phổ biến nhất vẫn là đô la Mỹ.
2. Công thức tính
        
  ℎ    ℎℎ á
=

2

Trong đó M2 bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, và tiền gửi ngoại tệ.
Nước có tỷ lệ đô la hóa cao: Tỷ trọng tiền gửi bằng ngọai tệ chiếm trên 30% tổng khối
tiền tệ mở rộng ( M2 ). Hiện nay có khoảng hơn 18 nước có mức độ đô la hóa cao. VD
như Argentina, Bolibia, Campuchia, Belarus….
Nước có tỷ lệ đô la hóa vừa phải: Tỷ trọng tiền gửi bằng ngọai tệ chiếm trên 16.4%
tổng khối tiền tệ mở rộng ( M2 ) như Mexico, Việt Nam, Nga…
3. Phân loại
Ngày nay đô la hóa là hiện tượng khá phổ biến, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Theo số liệu điều tra của IMF, có ít nhất 120 nước đã từng sử dụng tiền tệ của một
nước khác trong một giai đoạn nào đó. Đã có trên 60 nước thực hiện đô la hóa chính

4

thức và không chính thức dù mức độ của mỗi nước là khác nhau. Thông thường, căn cứ
vào hình thức và mức độ đô la hóa, ngưới ta chia ra làm ba loại: không chính thức , bán
chính thức và chính thức.
3.1 Đô la hóa không chính thức
Đô la hoá không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi trong nền
kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận

Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó
tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao
lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Vì đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, ổn
định, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã
dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới.
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được
quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ Sỹ, euro của EU nhưng
vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm
tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới).
Thứ ba, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ
chế kinh tế thị trường mở cửa, quá trình quốc tế hoá giao lưu thương mại, đầu tư và
hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi nước
nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền tệ thế giới để
thực hiện một số chức năng của tiền tệ.

6

Thứ tư, mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát
triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ thống
ngân hàng, chính sách tiền tệ, cơ chế quản lý ngoại hối và khả năng chuyển đổi của
đồng tiền quốc gia.
Đối với Việt Nam ngoài các yếu tố trên, chúng ta cần nhấn mạnh thêm một số
nguyên nhân sau đây của hiện tượng đô la hoá:
• Tình trạng buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới và trên biển khá phát triển
cùng với sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền các cấp. Tình trạng các doanh nghiệp,
các cửa hàng kinh doanh bán hàng thu bằng ngoại tệ còn tuỳ tiện và diễn ra phổ biến.
• Thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp, đa số dân cư có tâm lý tiết kiệm để
dành, lo xa cho cuộc sống. Mối quan hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, xu hướng biến
đổi của tỷ giá VND/USD là nguyên nhân quan trọng của xu hướng tích trữ và gửi tiền
bằng đô la Các ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động vốn đô la lên

tăng cao.

8

IIDiễn biến, thực trạng đô la hóa ở Việt Nam và những tác động của nó tới
nền kinh tế.
2.1 Diễn biến và thực trạng đô la hóa ở Việt Nam
Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đô la Mỹ trong giao dịch buôn
bán bắt đầu được chú ý đến từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi
bằng đồng đô la.
Đô la hóa được chia thành 4 giai đoạn
2.1.1 Giai đoạn 1988 – 1997
Đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế đến trước cuộc khủng
hoảng tài chính – tiền tệ khu vực. Thời kì này nước ta chuyển sang xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp và
chế độ độc quyền ngoại thương.
Về chính sách ngoại hối, ngày 18/10/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị
định số 161-HĐBT với nội dung chủ yếu là Nhà nước ta thực hiện thống nhất quản lý
nhà nước về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối. Cấm lưu thông ngoại tệ trong nước,
ngoài hệ thống của Ngân hàng ngoại thương và các cửa hàng bán hàng thu ngoại tệ.
Nhà nước quản lý ngoại tệ theo kế hoạch.

Dưới góc độ đô la hóa tiền gửi, mức độ đô la hóa ở Việt Nam có xu hướng giảm
xuống, từ trên 30% vào cuối những năm 90 xuống dưới 20% hiện nay. Tuy nhiên, phân
tích theo các giai đoạn, mức độ đô la hóa biến động: Giảm mạnh trong giai đoạn 1991-
1993 là do lợi tức của VND cao hơn nhiều so với lợi tức của USD, nhu cầu ngoại tệ
cho các giao dịch kinh tế đối ngoại chưa cao khi mở cửa nền kinh tế, lượng ngoại tệ
của dân cư gửi tại ngân hàng không đáng kể; trong giai đoạn 1994 - 1996 khá ổn định.
2.1.2 Giai đoạn 1998 – 2002


1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
T10/2010
%
Tiền gửi ngoại tệ/M2 Tín dụng ngoại tệ/M2

10 2.1.4 Giai đoạn 2009 – nay
Mức độ đôla hoá của Việt Nam là khá cao luôn nằm ở mức độ trên 20%. Từ 11/2009,
tiền đồng đã giảm giá 4 lần đã làm mất niềm tin của người dân đẩy nhanh quá trình
đô la hoá . Những năm qua, lượng tiền gửi tuyệt đối bằng USD tại các ngân hàng đã
không ngừng tăng lên, đặc biệt là hệ thống ngân hàng tại 2 thành phố lớn là Hà Nội
và Hồ Chí Minh. Nhưng với các nỗ lực không ngừng của NHNN bằng việc ban hành
các thông tư quy định lãi suất vốn huy động tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức, cá
nhân theo hướng giảm lãi suất huy động USD của các tổ chức và cá nhân xuống.
NHNN yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn, Tổng công ty phải
abán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng đồng thời tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ.

chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt
động từ thị trường phi chính thức sang thị trường chính thức.
2.2.2 Những tác động tiêu cực
- Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong một nền kinh tế
có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh
tế quốc tế nhất là khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới và sẽ không phản ứng kịp.
- Làm giảm giệu quả điều hành của chinh sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán do đó dẫn
đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém
chính xác và kịp thời.
• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những
cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc
điều chỉnh lãi suất cho vay hiệu quả

12

• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm
cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội
tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá.

• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định.
Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm
cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ một khối
lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, sự thay đổi về lãi suất trong nước hay nướcngoài có
thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ
tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHNN trong việc đặt mục tiêu cung
tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.

Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho

nhất là vào thời điểm mà các ngân hàng khác cũng bị rơi vào tình trạng này. Kết cục là
sự sụp đổ của cả một hệ thống ngân hàng.
III Giải pháp khắc phục tình trạng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay
3.1 Định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước
Quan điểm của Chính phủ và NHNN trong việc giải quyết vấn đề đô la hóa là phải xóa
bỏ đô la hóa trong nền kinh tế. Quyết định này là đúng đắn ít nhất là trong giai đoạn
hiện nay khi mà nền kinh tế nước ta còn trong tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên,
việc xóa bỏ này phải thực hiện từng bước phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất
nước, vừa sử dụng biện pháp kinh tế, vừa áp dụng biện pháp hành chính, giáo dục pháp
luật, nhằm mục đích là khai thác hiệu quả mặt tích cực của đô la hóa, nhưng về lâu dài
tiến tới trên đất nước Việt Nam chỉ sử dụng VND, nâng cao vị thế đồng bản tệ trên
trường thế giới.

14

Một số nước đã cấm việc gửi ngoại tệ vào các ngân hàng trong nước, tạo độc quyền
cho bản tệ, ít nhất là trong các giao dịch tài chính trên lãnh thổ quốc gia. Hậu quả là
các nhà đầu tư trong nước tìm đủ mọi cách chuyển tài sản của mình để đầu tư ra nước
ngoài, nơi mà họ tin là không bị rủi ro nhiều như trong nước do đó, thị trường tài chính
trong nước sẽ không phát triển được. Việt Nam đã từng phạm phải sai lầm này. Chúng
ta đã đưa ra các biện pháp như : tăng tỷ lệ kết hối lên 100%, không cho nhận kiều hối
bằng ngoại tệ, hạ thấp lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ, chỉ cho phép doanh nghiệp mở tài
khoản tiền gửi tại một Ngân hàng … Những biện pháp đã thực hiện gây khó khăn cho
doanh nghiệp, không khuyến khích nguồn kiều hối chuyển về nước, không phù hợp với
xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới.
3.2 Các nhóm giải pháp
3.2.1 Tạo môi trường đầu tư trong nước
Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có
trong dân và thu hút được từ nước ngoài vìviệc hấp thụ kém các nguồn vốn này là một
nguyên nhân quan trọng làm tăng tình trạng đô la hoá:

Dự trữ bắt buộc đối với VND dưới 12 tháng là 3%, trên 12 tháng là 1%. Đối với ngoại
tệ thì cao hơn 12 tháng là 8% và trên 12 tháng là 6%
3.3.3 Các chủ trương và quy định về quản lý, lưu hành ngoại tệ

16

• Chi trả bằng ngoại tệ ở Việt Nam bao gồm tiền mặt hay chuyển khoản cũng
không được phép, trừ duy nhất trường hợp trả chuyển khoản cho các tổ chức kinh
doanh được NHNN cho phép tiếp tục thu ngoại tệ.
• Việc chi trả cho người trong nước các khoản tiền như tiền lương, thu nhập từ
xuất khẩu lao động bằng ngoại tệ tiền mặt theo yêu cầu cũng nên chấm dứt. Việc này
chỉ thực hiện bằng tài khoản tiền gửi ngoại tệ hoặc chi trả bằng tiền Việt Nam. việc chi
trả kiều hối sẽ được điều chỉnh để các cá nhân sẽ nhận kiều hối bằng VND.
• Nhà nước nên khuyến khích đưa đồng Việt Nam (VND) tham gia quan hệ vay
trả nợ nước ngoài và đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, cho phép nhà đầu tư nước
ngoài sử dụng VND tham gia góp vốn FDI tại Việt Nam để người nước ngoài chấp
nhận VND trong thanh toán. xoá bỏ việc chuyển tiền FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài)
phải xuất trình chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính và xoá bỏ các quy định về
cân đối ngoại tệ đối với FDI.
• Phải giảm chi phí giao dịch bằng VND so với giao dịch bằng USD mới có tác
dụng nâng cao tính chuyển đổi đồng nội tệ và sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, ổn
định tiền tệ và xã hội để giúp người dân tin tưởng hơn vào đồng nội tệ.
• Áp dụng các biện pháp nhằm biến USD thành một loại hàng hóa bình thường,
đồng thời xử phạt nghiêm minh những sai phạm để chấn chỉnh việc mua bán ngoại tệ
trên thị trường tự do.
• Cá nhân có tài khoản ngoại tệ gửi tại NHTM chỉ rút ra để cất giữ riêng hoặc đi
nước ngoài chi tiêu. Khi rút tiền bằng ngoại tệ thì phải có các giấy tờ chứng minh sử
dụng ngoại tệ một cach hợp lí.Với giải pháp này, tỷ giá sẽ được điều hành thoáng hơn,
các công cụ tài chính phái sinh sẽ được đẩy mạnh để hỗ trợ và hạn chế rủi ro về tỷ giá,
tạo lòng tin của dân chúng vào VND.

giữ cho một ngân hàng thương mại về hành vi mua bán trái phép ngoại tệ.
IV Kết luận chung
Với việc Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới thì việc kìm chế và đẩy lùi tình
trạng đô la hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Muốn làm được cần phải có thời gian và
quyết tâm cao. Điều quan trọng là những mặt tích cực mang lại lợi ích của hiện tượng
đô la hóa không bị xoá bỏ, nó tồn tại đan xen trong cơ chế thị trường mở cửa và hội
nhập, được sử dụng như một giải pháp bổ sung trong chính sách tiền tệ tích cực của đất
nước trong giai đoạn mới, còn những mặt tiêu cực của đô la hóa thì cần phải được kiềm
chế, đẩy lùi và xoá bỏ. Và để hạn chế giảm tình trạng đô la hóa không phải có thể thực
hiện trong thời gian ngắn Nhà nước nên có những quy định và chế tài phù hợp với nền
kinh tế hôi nhập như hiện nay và làm ổn định tâm lí cho người dân.
Như vậy. ta có thể kết luận rằng đô la hóa không phải là một hiện tượng tốt nhưng
cũng không phải là một hiện tượng hoàn toàn xấu ( hay không có lợi), và cần phải
tránh bằng mọi cách. Tùy theo cách nhìn nhận, lựa chọn, cũng như năng lực thực thi
của quốc gia, những mục tiêu ưu tiên, trong từng thời kì cụ thể.
Vì thời gian làm đề tài này hơi ngắn, những hiểu biết về kiến thức kinh tế chưa nhiều
và chuyên sâu. Vì vậy mà sẽ có rất nhiều thiếu xót em mong cô góp ý để đề tài được
hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
19 Tài liệu tham khảo:
1 Slide bài giảng của thầy Hoàng Công Gia Khánh
2 Sách Tiền Tệ Ngân Hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status