Trường : Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Bài thảo luận môn: Tài chính quốc tế
Đề tài: Thực trạng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay.
Thực hiện: Nhóm 3-Ngân hàng 49A
1.Trần Kiều Oanh
2. Nguyễn Thị Minh Ngân
3. Đặng Thị Ngà
4. Trần Thị Đài Trang
5. Đoàn Thị Nguyệt
6. Dương Thị Hải Ngọc
7. Nguyễn Thị Thanh Hương
8. Hoàng Việt Anh
9. Vũ Mạnh Hùng
10. Trần Văn Chung
11.Vũ Thị Hồng Nhung
Lời mở đầu
Như các bạn đã biết, trong những năm gần đây, Việt Nam đã không
ngừng nỗ lực thu hút các nguồn ngoại tệ, đặc biệt là USD. Đây là
nguồn lực quan trọng giúp chúng ta giải quyết được phần lớn các
nhu cầu về vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng v.v... Nhưng điều gì cũng
có hai mặt của nó. Chính lượng USD ồ ạt đổ vào Việt Nam nếu
không được kiểm soát tốt cũng sẽ gây ra hậu quả to lớn, đó là tình
trạng đô la hóa nền kinh tế. Vậy đô la hóa kinh tế là gi`? Nguồn gốc
của nó xuất phát từ đâu? Hiện nay tình hình đô la hóa ở Việt Nam
như thế nào, nó có những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực gì đến
- Đô la hoá có thể hiểu là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng
một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một số chức
năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc một phần.
- Theo tiêu chí của IMF, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la
hoá cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong
tổng khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ.
- Một báo cáo của IMF cho thấy, trong số các nền kinh tế bị đôla hoá, có
đến bảy quốc gia có số lượng USD trong khối tiền tệ vượt mức 50%, 12
quốc gia khác có số lượng USD chiếm từ 30% đến 50% khối tiền tệ quốc gia
và phần lớn các nước còn lại có tỷ lệ từ 15 - 20% lượng USD trong khối tiền
tệ của họ. ( Việt Nam nằm trong số này).
Một số trường hợp cụ thể như sau: Thổ Nhĩ Kỳ (46%), Argentina (44%),
Nga, Hy Lạp, Ba Lan, Philippines (20%), Bolivia (82%)
1.2. Các loại đô la hóa:
- Đô la hoá được phân ra làm 3 loại: đô la hoá không chính thức (unofficial
Dollarization), đô la hoá bán chính thức (semiofficial dollarization), và đô la
hoá chính thức (official dollarization)
- Đô la hoá không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng
rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận.
Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước.
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi.
- Đô la hoá bán chính thức là những nước có hệ thống lưu hành chính thức
hai đồng tiền. Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp
pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng,
nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng
ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện
khác, đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã
được lứu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng,
thực hiện vai trò tiền tệ thế giới.
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác
cũng được quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ
Sỹ, euro của EU... nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu
quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng
70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới). Cho nên người ta
thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "đô la hoá".
- Trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi
cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thương
mại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh
tế và tiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách
quan sử dụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của
tiền tệ. Đô la hoá ở đây có khi là nhu cầu, trở thành thói quen thông lệ ở
các nước.
- Mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát
triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển
của hệ thống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối,
khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia. Những yếu tố nói trên ở
mức độ càng thấp thì quốc gia đó sẽ có mức độ đô la hoá càng cao
3. Thực trạng đô la hóa ở Việt Nam:
3.1. Thực trạng đô la hóa Việt Nam trong những giai đoạn trước đây:
• VN là một nền kinh tế đôla hóa một phần trong đó hệ thống tiền tệ
sử dụng song song hai đồng tiền là VND và USD. Tuy nhiên, mức độ
chính xác của đôla hóa rất khó xác định. Hiện tượng nền kinh tế VN
sử dụng rộng rãi đồng USD trong giao dịch, buôn bán... bắt đầu được
chú ý từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng
USD
• Đến năm 1992, tình trạng đôla hóa đã tăng mạnh với hơn 41%
đã tăng gấp 2 lần số dư cuối năm 2002. Đồng thời cũng tại Tp.HCM số tuyệt
đối dư nợ cho vay bằng USD cao hơn hẳn các ngân hàng thương mại ở Hà
Nội.
3.2 Thực trạng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay:
- Năm 2008, theo ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư
và phát triển Việt Nam, tình trạng đô la hóa đang tăng , nhưng chưa đến mức
trầm trọng. Tỷ lệ tiền gửi bằng USD trên tổng tiền gửi tại các ngân hàng ở
Việt Nam hiện nay khoảng từ 20 - 25%. Tuy nhiên cho đến ngày 15-5-09,
chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh lên tiếng là Ngân Hàng Nhà Nước Việt
Nam đang ở trong tình thế khó khăn, và nếu tình trạng đô la hóa trở nên trầm
trọng hơn thì các công cụ được sử dụng lâu nay trong chính sách quản lý tiền
tệ sẽ trở nên vô hiệu..
Giữa lúc cơn bão kinh tế chưa lắng, Việt Nam được cảnh báo là mức
độ "đô la hóa" không chính thức ngày càng cao. Theo nhiều nhà kinh tế,
hiện tượng đồng USD được lưu hành nhiều hơn tiền đồng Việt Nam (VND)
ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam..
- Một số nguồn tin trong giới ngân hàng ước tính kiều hối chuyển về
của năm 2007 đã đạt con số 8 tỷ USD Nguồn kiêu hối ngày càng có xu
hường tăng mạnh với mức tăng bình quân 10%/năm và tới năm 2010 dự tính
sẽ lên tới 5 tỷ USD, hơn nữa việc Việt Nam miễn thị thực cho Việt kiều về
nước, người Việt Nam ở nước ngoài và Việt kiều về nước bắt đầu gia tăng
và sẽ tăng mạnh, mang theo một số lượng ngoại tệ tiền mặt rất lớn.
Bảng 2.1:
Năm Kiều hối (Triệu USD)
1991 31
1995 285
1999 1.200
2000 1.757
2001 1.820
2002 2.154
Đô-la Mỹ (Dưới 5 USD) 17,785 17,835 17,835
Bảng Anh 29,555 29,644 29,888
Đô-la Hồng Kông 2,030 2,337 2,363
Franc Pháp 3,665 - -
Franc Thụy Sĩ 17,513 17,566 17,711
Mác Đức 12,756 - -
Yên Nhật 198.41 199.01 200.64
Ðô-la Úc 15,715 15,762 15,891
Ðô-la Canada 16,837 16,888 17,026
Ðô-la Singapore 12,775 12,813 12,918
Đồng Euro 26,548 26,628 26,847
Ðô-la New Zealand 12,840 12,904 13,256
Sở giao dịch 1: Bảng tỷ giá số 30- hiệu lực từ ngày 9/18/2009 4:31:23 PM