TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC
TIỂU LUẬN: MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Đề tài:
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
THEO ĐỀ ÁN 1826
GVHD: PGS. TS Bùi Kim Yến
Khóa 22 – Lớp NH Đêm 1 – Nhóm 5
TP.HCM, Tháng 10, năm 2013
Danh sách nhóm
1. Nguyễn Thị Dung
2. Nguyễn Thị Hoài Thương
dòng vốn đầu tư 36
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 3
III. Lộ trình thực hiện tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư trong đề án 1826 và thực
trạng 37
3.1. Lộ trình thực hiện 37
3.2. Thực trạng 37 NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 4
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được thành lập từ tháng 7/2000. Qua
tài cùng sự phân công hướng dẫn của PGS.TS Bùi Kim Yến, nhóm chúng tôi đã thực
hiện đề tài nghiên cứu “VẤN ĐỀ TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826”. Cấu trúc chính của bài nghiên
cứu được chia thành 3 chương.
- Chương 1: Thực trạng nhà đầu tư Việt Nam hiện nay.
- Chương 2: Phân tích vấn đề tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư trong đề án 1826
- Chương 3: Lộ trình thực hiện tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư trong đề án 1826 và
thực trạng
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 6
I. Thực trạng nhà đầu tư Việt Nam hiện nay
1.1. Tổng quan về tình hình chứng khoán
1.1.1. Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về TTCK, nhưng thị trường chứng
khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt
động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Chứng khoán được hiểu là các
loại giấy tờ có giá hoặc bút toán ghi sổ. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ
cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những
thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị
khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
c. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ
phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại
cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái
phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô
thị và trái phiếu chính phủ.
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng khoán phái sinh
là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ
phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
1.1.3. Vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 8
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản
cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế.
Thứ hai, thị trường cứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn,
thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng.
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc giữa sở hữu và quản lý.
Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hóa thị trường chứng khoán . Việc mở của thị trường
chứng khoán làm tăng tính thanh khoản và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thứ năm, thị trường cứng khoán tạo cơ hội cho Chính Phủ huy động các nguồn tài
chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện
chính sách tài chính tiền tệ của Chính Phủ.
1.2 Thị trường chứng khoán Việt Nam
Việt Nam đã quyết đinh thành lập thị trường chứng khoán Việt Nam với những
đặc thù riêng biệt: thành lập 2 trung tâm giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí
loại trái phiếu niêm yết. Tổng giá trị giao dịch giai đoạn 2006 – 2010 đạt 2.315
nghìn tỷ đồng, gấp 45 lần so với giai đoạn trước đó. Và năm 2012, số công ty
niêm yết là 702 công ty.
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 10
c) Thị trường chứng khoán đã thu hút đông đảo các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài. Việc tham gia của các nhà đầu tư đã làm tăng khả năng luân
chuyển vốn trong nước, đồng thời đã huy động một lượng vốn đầu tư nước ngoài
đáng kể. Tính đến cuối năm 2011, giá trị danh mục đầu tư nước ngoài đạt 7 tỷ
USD.
d) Khung pháp luật về TTCK ngày càng được hoàn thiện góp phần hoàn chỉnh thể
chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Luật Chứng khoán đã được ban
hành năm 2006 và được bổ sung sửa đổi năm 2010, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ
Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn Nghị định, thông tư, tạo
ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho thị trường hoạt động
Như vậy, hoạt động thị trường chứng khoán trong thời gian qua đã
có bước phát triển quan trọng, khẳng định vị trí và vai trò trong nền kinh tế
và từng bước trở thành kênh huy động, đầu tư vốn trong dài hạn, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.2 Hạn thị trường chứng khoán việt nam.
a) Về hàng hoá của thị trường:
Sản phẩm nghèo nàn: Số lượng chứng khoán nhiều nhưng chất lượng còn thấp,
sản phẩm thị trường nghèo nàn không đa dạng, chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà
đầu tư. Ngoài cổ phiếu và một số loại trái phiếu doanh nghiệp và chứng chỉ quỹ,
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 11
chưa có các sản phẩm phái sinh và các công cụ đầu tư khác, vì vậy cơ sở hàng
trong nước, đồng thời đã huy động một lượng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể. Tính đến
cuối năm 2011, giá trị danh mục đầu tư nước ngoài đạt 7 tỷ USD. Vào năm 2012, dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thuần đạt 300 triệu USD, tăng 25% so với năm 2011.
Trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng lượng vốn đầu tư gián tiếp ước đạt 160 triệu USD,
tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái.
1.3.2 Hạn chế
Mặc dù TTCK Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong 12 năm qua và đạt được
nhiều thành tựu đáng khích lệ như trên, nhưng vẫn còn tồn tài một vài hạn chế về cơ sở
nhà đầu tư:
- Cơ sở nhà đầu tư thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức làm nền tảng cho sự phát
triển bền vững của TTCK, chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức.
Một phần nguyên nhân là do bị ảnh hưởng bởi những khó khăn chung của nền kinh tế thế
giới, một phần là vì Việt Nam chưa có cơ chế phát triển các nhà đầu tư có tổ chức. Theo
đó, quy mô giao dịch trên thị trường của các nhà đầu tư có tổ chức chưa cao. Trên thực
tế, những sản phẩm quỹ đầu tư, quỹ hưu trí mà gần đây chúng ta đề cập đã xuất hiện từ
lâu và thậm chí một số sản phẩm đã có mặt tại Việt Nam nhưng hầu như đều huy động
dòng tiền từ nước ngoài. Lý giải điều này là do Việt Nam chưa ban hành những quy định
cụ thể về việc thành lập, quản lý quỹ, cũng như các quy định về tài sản đầu tư và các
quyền liên quan đến tài sản (quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng ) cũng như những
thuật ngữ về sản phẩm đó cũng chưa hề xuất hiện trong các văn bản pháp luật của Việt
Nam. Nhưng sau khi bắt đầu đưa ra đề án 1826 thì một loạt các thông tư hướng dẫn triển
khai các sản phẩm quỹ đầu tư mới như quỹ đầu tư bất động sản, quỹ hoán đổi danh
mục, được ban hành nhằm khuyến khích tạo lập nên các nhà đầu tư có tổ chức. Nhưng
những thông tư đó hầu như dựa vào kinh nghiệm trong việc hình thành quỹ của các nước
trên thế giới
- Các tổ chức tín dụng tham gia vào lĩnh vực chứng khoán với các hình thức khác
nhau như đầu tư vào trái phiếu, góp vốn thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 13
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 14
II. Phân tích vấn đề tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư trong đề án
1826:
2.1. Mục tiêu của việc tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư:
o Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, chuyên
nghiệp, nhằm tạo sức cầu ổn định, giúp thị trường phát triển lành mạnh, bền vững; củng
cố lòng tin và khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tích cực tham gia thị trường, tăng thanh
khoản cho thị trường.
o Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trung và dài hạn, góp phần phát triển
TTCK, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, bổ sung nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp
hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước; nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh và quản
trị rủi ro của hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế, tăng cường công tác quản lý,
giám sát và có giải pháp phù hợp, kịp thời để chủ động đối phó với biến động của dòng
vốn này.
2.2. Các giải pháp thực hiện tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư:
2.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý
Việt Nam hiện có 47 Công ty quản lý quỹ (QLQ) được Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước (UBCKNN) cấp phép hoạt động, với tổng vốn điều lệ khoảng trên 3.000 tỷ đồng.
Các công ty QLQ có chức năng và nhiệm vụ chính là quản lý 23 Quỹ đầu tư chứng
khoán, với tổng vốn điều lệ tại thời điểm phát hành khoảng 13.500 tỷ đồng.
Phần lớn các Quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập dưới dạng quỹ thành viên và
chỉ có 6 trong số đó là Quỹ đại chúng dạng đóng (dành cho nhà đầu tư cá nhân) niêm yết
trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Trong năm 2012 -
2013, một số Quỹ thành viên đã giải thể, các Quỹ đại chúng đang hoàn tất thủ tục chuyển
đổi sang mô hình Quỹ mở. Còn một số công ty QLQ có công ty mẹ là công ty Bảo hiểm
và Ngân hàng mới có được nguồn tài sản ủy thác lớn. Điều đó cho thấy, việc huy động
quỹ từ nhà đầu tư đại chúng đang là một thách thức rất lớn đối với công ty QLQ, đòi hỏi
công ty QLQ phải có hệ thống đối tác phân phối chứng chỉ quỹ mở một cách hiệu quả.
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 16
trường khác làm vực dậy cả nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng chính sự liên thông giữa
các khối thị trường với nhau cũng tiềm ẩn nguy cơ an toàn trong toàn bộ hệ thống
tài chính.
- Thứ hai, nó khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà
đầu tư cá nhân có sự ưa thích rủi ro khác nhau tham gia vào các loại hình khác
nhau, theo các mức độ khác nhau. Từ đó gia tăng huy động nguồn vốn trung và dài
hạn, đa dạng hóa rủi ro, tăng thanh khoản cho TTCK, vừa bảo vệ nhà đầu tư vừa
tạo cơ hội kinh doanh cho các thành viên trên thị trường và cuối cùng là làm giảm
những biến động của thị trường.
Hoàn thiện khung pháp lý hướng dẫn đồng bộ các sản phẩm quỹ đầu tư chứng khoán
dành cho các loại hình nhà đầu tư khác nhau, các quỹ đầu tư đa mục tiêu kết nối với
thị trường trái phiếu, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản.
2.2.2. Xây dựng các cơ chế, chính sách
2.2.2.1. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách để triển khai thí điểm quỹ hưu trí
tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung
Các Quỹ hưu trí là một phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của các
quốc gia. Đối với người sử dụng lao động và người lao động thì các Quỹ hưu trí cho phép
các cá nhân tích lũy các khoản tiết kiệm của mình trong suốt thời gian làm việc nhằm
đảm bảo cho những nhu cầu tiêu dùng khi về hưu dưới dạng chi trả một khoản tiền trọn
gói, hoặc những khoản tiền cố định hàng tháng. Đối với chính bản thân Quỹ thì nó được
xem là một dạng nhà đầu tư có tổ chức, thông qua việc tiến hành tập hợp các khoản đóng
góp và thực hiện đầu tư. Do các khoản đóng góp vào Quỹ thường không được phép rút ra
sớm nên Quỹ hưu trí luôn có nguồn tài sản dài hạn để đầu tư vào các tài sản tài chính, kể
cả những tài sản có độ rủi ro cao nhằm đạt tỷ suất sinh lợi cao. Thông thường, tài sản của
các Quỹ hưu trí được dùng để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, bất động sản, tài
sản nước ngoài, các công cụ trên thị trường tiền tệ và các khoản tiền gửi.
Vai trò của Quỹ hưu trí đối với TTCK:
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
- Trụ cột I - Quỹ hưu trí bắt buộc do nhà nước quản lý (Quỹ hưu trí bắt buộc). Quỹ
này hình thành chủ yếu từ nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao
động và có thể được bổ sung thêm từ ngân sách nhà nước. Quỹ hưu trí bắt buộc
được triển khai thông qua một tổ chức riêng và thường vận hành theo cơ chế thực
thu thực chi. Theo đó, nguồn thanh toán lương hưu được trích từ các khoản đóng
góp của những người đang lao động. Tại Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội có thể coi là
trụ cột số 1. Quỹ này luôn tiềm ẩn rủi ro mất cân đối tài chính, đặc biệt khi dân số
già hóa, số lượng người đóng bảo hiểm ít hơn số người hưởng lương hưu.
- Trụ cột II - Quỹ hưu trí bắt buộc do tư nhân quản lý (Quỹ hưu trí bổ sung): Quỹ
được hình thành chủ yếu từ nguồn đóng góp của người sử dụng lao động và người
lao động. Tuy nhiên, Quỹ này do khu vực tư nhân tự quản lý (thông qua các công
ty quản lý quỹ), và chịu sự điều chỉnh, quản lý, giám sát chặt chẽ bởi cơ quan quản
lý nhà nước. Số tiền nhận được của người tham gia quỹ này phụ thuộc vào mức
đóng góp và lợi nhuận đầu tư. Vì vậy, trợ cấp hưu trí từ Quỹ này rất có thể không
bảo đảm mức sống đối với những người có thu nhập thấp và mức đóng góp thấp,
hoặc do lợi nhuận đầu tư thấp vì các nguyên nhân như khủng hoảng kinh tế kéo
dài, khủng hoảng tài chính làm thất thoát các khoản đầu tư. Nhìn chung, Quỹ hưu
trí bắt buộc do tư nhân quản lý có thể được coi như một dạng tiết kiệm bắt buộc
mà Nhà nước yêu cầu người hưởng lương hưu phải thực hiện trong quá trình lao
động. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các Quỹ hưu trí bắt buộc do tư nhân quản lý chỉ
là nguồn tài chính hỗ trợ thêm cho người hưởng lương hưu bên cạnh khoản lương
nhận thanh toán từ các Quỹ hưu trí bắt buộc tại trụ cột I. Điểm đặc biệt của trụ cột
II là người tham gia hệ thống này sẽ được hưởng lợi tức và nhận thanh toán từ
chính các khoản tiền đóng góp của mình, chứ không phải của những người đang
lao động. Các khoản đóng góp được đầu tư vào thị trường vốn cho đến khi người
lao động đến tuổi nghỉ hưu. Các khoản đóng góp và thu nhập, lợi tức đầu tư đều
được hạch toán riêng biệt vào tài khoản lương hưu của từng người tham gia.
- Trụ cột III - Quỹ hưu trí tự nguyện: Quỹ này chủ yếu do người lao động đóng góp,
tuy nhiên cũng có thể có đóng góp thêm từ người sử dụng lao động. Quỹ này hoàn
Tuy nhiên, nếu hệ thống an sinh xã hội chỉ dựa trên trụ cột là các Quỹ hưu trí bổ
sung, Quỹ hưu trí tự nguyện cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi chúng gây
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 20
phân hóa xã hội, khoảng cách giàu nghèo và không bảo đảm được thu nhập sau khi
nghỉ hưu.
Theo nghiên cứu của Bộ LĐTB&XH và Tổ chức Lao động quốc tế, do mất cân
đối nghiêm trọng giữa thu và chi của hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, nên
quỹ lương hưu BHXH dự kiến thâm hụt vào năm 2020 và đến năm 2033 sẽ hết nguồn chi
trả cho người hưởng lương hưu. Do vậy, nếu không định hình giải pháp khắc phục tình
trạng này, thì không chỉ tăng áp lực cho ngân sách Nhà nước, bởi ngân sách phải tăng chi
liên tục từ năm 2008 tới nay (năm 2011 phải chi thêm xấp xỉ 3.900 tỷ đồng) do tăng
lương hưu khi tiến hành tăng lương cơ bản, mà còn tác động tiêu cực đến hệ thống an
sinh xã hội.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), hệ thống BHXH Việt Nam là trụ cột thứ nhất
trong các loại hình hưu trí. Trụ cột này là chế độ hưu trí bắt buộc, do Nhà nước quản lý,
nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu cho người lao động (NLĐ) sau khi nghỉ hưu.
Trong bối cảnh trụ cột thứ nhất này đang mất cân đối thu - chi, việc triển khai các trụ cột
khác, nhất là trụ cột thứ ba (theo phân loại của WB) là chính sách BHHTBS là lựa chọn
tất yếu để giảm tải cho trụ cột thứ nhất, tạo tiền đề cho cải thiện hệ thống an sinh xã hội.
Kinh nghiệm này được áp dụng thành công tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia
Nghiên cứu của CTCP Quản lý quỹ Đầu tư Việt Nam (VFM) cho thấy, xu hướng
tại hầu hết các nước là thu nhập của người nghỉ hưu từ chính sách hưu trí cơ bản giảm
dần, trong khi thu nhập từ BHHTBS tăng lên. Lương từ chính sách hưu trí cơ bản chiếm
60% tổng thu nhập của người nghỉ hưu ở Thái Lan, chiếm 20 - 25% ở Pháp và 58% ở
Mỹ, còn thu nhập từ BHHTBS chiếm 20% tổng thu nhập của người nghỉ hưu ở Thái Lan,
chiếm 55 - 60% ở Pháp và 30% ở Mỹ. Theo Bộ LĐTB&XH, có 80 nước đã triển khai
chính sách BHHTBS. Trong khối APEC, chỉ còn Việt Nam là chưa triển khai chính sách
tư, nên mức thuế mà họ phải đóng có khi lên đến 50 - 60%. Ngoài những bất cập như
chưa có chính sách ưu đãi thuế cho các sản phẩm mới như: quỹ mở, quỹ ETF, quỹ bất
động sản sự bất hợp lý và bức xúc nhất phải kể tới các quỹ đầu tư nước ngoài có văn
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 22
phòng đại diện tại Việt Nam bị đưa vào diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp, thay vì nộp
thuế khoán.
Bởi vậy, việc xây dựng chính sách thuế đối với lĩnh vực chứng khoán cần được
cân nhắc theo hướng tạo ra cơ chế ưu đãi về thuế hợp lý nhằm khuyến khích thị trường
chứng khoán phát triển hiệu quả và lành mạnh hơn để đảm đương tốt hơn vai trò huy
động vốn cho nền kinh tế. Thực tế, dòng tiền luân chuyển trên thị trường vốn quốc tế rất
linh hoạt giữa các nước, nên nếu không có chính sách thu hút đầu tư đủ hấp dẫn, trong
đó, có cơ chế thuế, thì sẽ khó thu hút được dòng vốn tham gia thị trường chứng khoán
trong giai đoạn tới. Theo nhiều nhà đầu tư, việc đánh thuế, Ủy ban chứng khoán Nhà
nước và Cục thuế nên phối hợp với nhau giao cho các công ty chứng khoán những mã
nào giảm, những mã nào bị lỗ trừ, những mã nào tăng để tính thuế phù hợp.
Khoảng 4 năm trở về trước, khi sự bất hợp lý này chưa xuất hiện rõ nét, có khá
nhiều quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty chưa đại chúng, thường là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, với tổng giá trị ước khoảng 2 tỷ USD. Nhưng nay, khoản vốn đầu tư
này đã sụt giảm, đồng thời các khoản đầu tư mới gần như không phát sinh. Điều này
khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung đang khó
thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, khi các doanh nghiệp khó tiếp cận được
vốn (là một trong những khó khăn lớn nhất trong hoạt động), thì họ sẽ gặp khó trong kinh
doanh, làm giảm doanh thu và lợi nhuận đóng thuế. Ở một góc độ nào đó, thực tế này làm
giảm hiệu quả của các chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các
chuyên gia tài chính, chứng khoán không phải là cuộc chơi cho giới nhà giàu, mà là thị
trường huy động vốn hiệu quả.
Những tháng cuối năm 2012, các nhà đầu tư chứng khoán đã được giảm 50% thuế
thu nhập cá nhân và họ mong muốn rằng năm nay sẽ tiếp tục được giảm thuế vì nền kinh
Ông Preben Hiorlund, chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Châu Âu
(Eurocham) than phiền: "Các cơ quan chính quyền yêu cầu các doanh nghiệp thành viên
của chúng tôi phải nộp các tài liệu bổ sung ngày càng nhiều, mặc dù các tài liệu và văn
bản này không có trong yêu cầu pháp luật (Sở Kế hoạch Đầu tư coi những tài liệu này là
NHÓM 5 – CHNH ĐÊM 1 – K22 GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN
TÁI CẤU TRÚC CƠ SỞ NĐT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THEO ĐỀ ÁN 1826 Page 24
tiền đề để xem xét các hồ sơ đăng ký) và kết quả là tỷ lệ các doanh nghiệp phải mất hơn 3
tháng để hoàn tất toàn bộ thủ tục cần thiết để bắt đầu kinh doanh hoặc cấp phép cho một
dự án đã tăng lên đáng kể". Quá trình phê duyệt cấp phép vẫn quá dài ngày, bị trì hoãn,
các thủ tục rườm rà, phức tạp yêu cầu doanh nghiệp phải trao đổi nhiều lần với chính
quyền địa phương.
Một dẫn chứng khác được ông Seck Yee Chung, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh
nghiệp Singapore nêu là việc tra cứu thông tin. “Một số thông tin hoàn toàn không có,
hoặc rất khó để tìm kiếm được như thông tin về sở hữu đất, quyền sử dụng đất, về quy
hoạch, về các vụ phá sản, kiện tụng”, khi thông quan hàng hóa vào Việt Nam, có những
đòi hỏi về các khoản tiền không hợp pháp để được tạo điều kiện thuận lợi và nếu không
chấp thuận, doanh nghiệp sẽ phải chịu sự chậm trễ, ách tắc. Vì sự kèm minh bạch này nên
nhiều nhà doanh nghiệp Singapore đã ngần ngại đưa ra các quyết định đầu tư vào Việt
Nam. Họ e ngại những rủi ro không thể dự báo trước. Thậm chí, họ không đủ cơ sở để
xác định về đối tác làm việc với mình tại đây.
Mặc dù dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vẫn tăng qua các năm nhưng giai
đoạn hiện nay cần nhiều hơn nữa dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK để phát triển.
Do vậy, việc thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài là một vấn đề lớn cần phải
đặc biệt quan tâm. Các thủ tục hành chính cũng cần phải được cải cách theo hướng đơn
giản hóa các bước, theo tiêu chuẩn quốc tế để các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng hơn
trong việc tiếp cận TTCK
2.2.3. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật thị trường
Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật thị trường bao gồm hệ thống giao dịch, hệ thống đăng
ký lưu ký, thanh toán bù trừ, hệ thống công bố thông tin, hệ thống giám sát tạo sự tiện lợi
chưa đáp ứng được yêu cần của NĐT, vì vậy cần nâng cáp hệ thống lưu ký, đắng ký
chứng khoán cho cả NĐT trong nước lẫn nước ngoài.