Ứng dụng marketing online để thu hút nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán - Pdf 23

Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
Phần I:
A. Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong thập niên qua, nền kinh tế thế giới đã thay đổi một cách mạnh mẽ dưới
sức ép của toàn cầu hóa, sự phát triển vũ bão của công nghệ và sự mở cửa của các thị
trường mới. Sự phát triển về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã xóa đi
mọi rào cản về không gian và địa lý. Khách hàng giờ đây có nhiều quyền hơn trước
đây. Nhờ vào công nghệ họ có thể tiếp cận thông tin về sản phẩm tốt hơn, từ đó họ có
nhiều lựa chọn hơn, cùng với đó là xu hướng phát triển của nên kinh tế thị trường,
tiến trình hội nhập kinh tế.
Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển mạnh mẽ, bằng chứng là có
rất nhiều công ty ra đời với nhiều quy mô khác nhau. Dẫn đến sự cạnh tranh giữa các
công ty là một quy luật tất yếu . Sự tồn tại và phát triển buộc các công ty phải nổ lực
không ngừng và có định hướng rõ ràng trong kinh doanh nhằm nâng cao vai trò hiệu
quả cho doanh nghiệp. Việc phát triển của Internet đã tạo ra sức mạnh vô biên của
nguồn lực tài nguyên trên Internet, cùng việc kết hợp các nguồn tài nguyên này cho
công việc kinh doanh thành công, hiểu được sức mạnh to lớn của nguồn tài nguyên
trên Internet hoàn toàn miễn phí, có được cách thức để xây dựng hệ thống Marketing
Online thành công và làm việc tự động điều đó đã tạo ra một giải pháp tốt trong việc
tiếp cận khách hàng cũng như quảng bá thương hiệu của công ty. Thấy được những
tiện ích mà Marketing Online mang lại, bằng những kiến thức đã học ở trường cộng
với, nghiên cứu và việc thực tập thực tế ở Công ty Cổ phần Chứng khoán Chợ Lớn
(CLSC) em đã chọn đề tài: “ Ứng dụng Marketing Online để thu hút nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán” để làm đề tài thực tập cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Marketing Online là một xu thế mới trong lĩnh vực quảng bá sản phẩm thương
hiệu cho các doanh nghiệp. Chuyên đề này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về lĩnh vực
Marketing Online và những tiện ích mà lĩnh vực này mang lại. Qua thực tế còn giúp
sinh viên đi sâu hơn vào những kiến thức lý thuyết đã được đào tạo ở trường, nghiên
cứu những xu hướng Marketing mới trong lĩnh vực kinh doanh, so sánh giữa

P. Kotler: Quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối
với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng như cầu của tổ chức và cá nhân –
dựa trên các phương tiện điện tử và internet.
• Khái niệm 2:
Marketing online bao gồm tất cả các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong
muốn của khách hàng thông qua internet và các phương tiện điện tử
( Nguồn: Joel Reedy, Shauna Schullo, Kenneth Zimmerman, 2000).
• Khái niệm 3:
Tiếp thị điện tử ( e marketing) là cách thức tiếp thị vận dụng các tính năng của
Internet nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm hàng hóa hay dịch
vụ đến thị trường tiêu thụ.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau vể marketing điện tử (Marketing Online)
nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi đó là:
• Môi trường: marketing trong môi trường mới, môi trường internet.
• Phương tiện: internet và các thiết bị thông tin được kết nối vào internet.
• Bản chất: Vẫn giữ nguyên bản chất của marketing truyền thống là thỏa
mãn nhu cầu người tiêu
• Marketing Online ( E – marketing) là cách thức dùng các phương tiện điện
tử giới thiệu, mời chào, cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của
nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết phục họ chọn nó.
• E – commerce chí các hoạt động mua bán thông qua các phương tiện điện tử.
• E – business chỉ tất cả các hoạt động kiếm tiền từ mạng, từ việc bán hàng hóa,
dịch vụ cho đến tư vấn, đầu tư.
1.2.2 Mô hình Marketing Online
SVTH: Hồ Quang Toàn 3
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
Có nhiều mô hình marketing trực tuyến khác nhau và các cơ hội kinh doanh trực
tuyến xuất hiện liên tục. Bạn nên xác định các cơ hội tốt nhất có thể đối với doanh
nghiệp của mình thông qua việc những mô hình thông dụng nhất trong môi trường
hiện tại.

1.2.5. Một số lợi ích của Marketing Online
- Rút ngắn khoảng cách: vị trí địa lý không còn là một vấn đề quan trọng,
Internet đã rút ngắn khoảng cách, các đối tác có thể gặp nhau quan không gian máy
tính mà không càn biết đối tác ở gần hay ở xa. Điều này cho phép nhiều người mua
và bán bỏ qua những khâu trung gian truyền thống.
- Tiếp thị toàn cầu: Internet là một phương tiện hữu hiệu để các nhà hoạt động
marketing tiếp cận với các thị trường khách hàng trên toàn thế giới. Điều mà các
phương tiện marketing thông thường khác hầu như không thể.
- Giảm thời gian: Thời gian không còn là một yếu tố quan trọng. Những người
làm Marketing trực tuyến có thể truy cập lấy thông tin cũng như giao dịch với khách
hàng 24/7.
- Giảm chi phí: chi phí sẽ không còn là gánh nặng, chỉ với 1/10 chi phí thông
thường Marketing trực tuyến có thể đem lại hiệu quả gấp đôi.
1.2.6. Điều kiện áp dụng Marketing Online
• Thị trường:
 Nhận thức của khách hàng: số % người sử dụng và chấp nhận
Internet.
 Trong Marketing B2C: Khách hàng có các điều kiện tiếp cận
Internet, thói quen, mức độ phổ cập, chi phí. Doanh nghiệp, phát triển các họat động
Marketing trên Internet.
 Trong Marketing B2B: các tổ chức phối hợp nhau, giai đoạn này
chỉ mới xuất hiện ở các nước phát triển.
SVTH: Hồ Quang Toàn 5
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
• Doanh nghiệp:
 Nhận thức của các tổ chức: Internet có được coi là phương tiện
thông tin chiến lược không.
 Đánh giá được lợi ích của đầu tư vào marketing online.
• Môi trường kinh doanh:
 Sự phát triển của các mô hình kinh doanh thương mại điện tử.

sách các trang web thích hợp nhất với từ khoá mà bạn tìm kiếm.
- PR Online: Đó là việc viết và đăng bài viết về những tin tức thời sử đáng chú
ý của công ty trên hệ thống internet (báo điện tử, website, diễn đàn …).
- Article marketing: Xây dựng nội dung trang website, viết và biên tập các bài
viết liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc chia sẻ bài viết trên
các trang website có liên quan. Xu hướng này đang ngày càng mở rộng
- Blog & Social Media: Là cách xây dựng blog và cùng chia sẻ những nhận xét
hoặc quan điểm cá nhân, tạo nên những chủ đề thảo luận trên các diễn đàn cũng như
các hoạt động do chính blogger để giới thiệu đường link đến trang web sản phẩm,
dịch vụ trực tuyến.
1.2.8. Quy trình lập kế hoạch quảng cáo trực tuyến
Tương tự như các hoạt động marketing truyền thống, bạn cũng cần có một kế
hoạch cho các hoạt động marketing trực tuyến của mình. Dưới đây là những yếu tố
cơ bản của một kế hoạch marketing trực tuyến:
- Phân tích bên trong và bên ngoài: Có thể áp dụng phương pháp PEST và
SWOT để đánh giá các yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện kế
hoạch marketing cũng như các điểm mạnh và điểm yếu nội bộ doanh nghiệp. Tuy
SVTH: Hồ Quang Toàn 7
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
nhiên, bạn cũng cần xem xét những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng trong
kinh doanh trên Internet như sự chấp nhận về mặt pháp lý của chữ ký điện tử, năng
lực thanh toán trực tuyến của hệ thống ngân hàng.
- Mục tiêu marketing trực tuyến: Dù bạn xây dựng kế hoạch marketing trực
tuyến để thay thế hoặc bổ xung cho kế hoạch marketing chung, cần nêu rõ và cụ thể
các mục tiêu marketing trực tuyến.
- Chiến lược Marketing trực tuyến: Sau đó, bạn phải quyết định chiến lược
marketing để đạt mục tiêu đã định.
- Các chiến thuật marketing trực tuyến: Về cơ bản, các chiến thuật marketing mà
bạn áp dụng trên Internet tương tự như các chiến thuật truyền thống nhưng theo cách
khác. Trên Internet, khách hàng có cơ hội tốt hơn để kiểm tra các đặc điểm kỹ thuật

hình thức tiếp thị qua Internet với nhóm khách hàng tiềm năng là giới trẻ và nhân
viên văn phòng.
2.3. Marketing Online tại Việt Nam là một xu hướng tất yếu
2.3.1. 10 lý do nên đưa Internet vào chiến lược tiếp thị
- Internet – điểm đến để tìm kiếm thông tin: Có lẽ lý do quan trọng nhất để các
công ty cần có một chiến lược marketing trên Internet là sự thay đổi ở cách thức các
khách hàng tìm kiếm thông tin. Mặc dù số lượng hách hàng thăm viếng các cơ sở
kinh doanh truyền thống vẫn chiếm số đông nhưng số người sử dụng Internet như
một kênh thông tin quan trọng nhất, tiện lợi nhất, đang càng ngày càng tăng với tốc
độ chóng mặt
- Internet – điều kỳ vọng của khách hàng: Internet không chỉ là nơi tập trung các
nguồn thông tin khác nhau về mọi loại hình sản phẩm, dịch vụ, mà nó còn đang được
kỳ vọng là nơi mà các khách hàng có thể nghiên cứu về các sản phẩm cũng như thực
hiện việc mua bán một cách đơn giản nhất, tốn ít thời gian nhất
- Qua internet, các doanh nghiệp có thể nắm bắt được nhiều thông tin về khách
hàng: Là một công cụ thu thập thông tin, Internet đóng vai trò vô cùng hiệu quả trong
việc cung cấp thông tin về hoạt động của khách hàng.
- Internet giúp bạn dễ dàng marketing đến đúng đối tượng mục tiêu: Cách làm
hiệu quả nhất đối với các chuyên gia marketing là nhắm vào những ai đang quan tâm
SVTH: Hồ Quang Toàn 9
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
đến những thứ mà họ chào bán. Internet là công cụ tiện lợi nhất để truyền tải thông
tin với tốc độ nhanh nhất đến không chỉ một vài chục người, vài trăm người, mà là
hàng triệu triệu người trong thế giới rộng mở không còn cách biệt bởi biên giới địa lý
này.
- Internet là công cụ hữu hiệu kích thích tâm lý mua hàng tùy hứng: Bất kể
khách hàng có thích sản phẩm hay không, Internet đã tỏ ra là công cụ rất tốt để thúc
đẩy các trường hợp tiêu dùng mang tính tùy hứng. Sự tiến bộ của công nghệ cao có
thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng làm được việc này.
- Internet cho phép nhà sản xuất chào bán các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu

của khách hàng co nhiều thay đổi.
2.3.3. Ưu thế của việc quảng cáo trực tuyến so với một số hình thức quảng
cáo truyền thống khác
- Quảng cáo trực tuyến giúp giảm tối đa chi phí: Quảng cáo trên mạng
( quảng cáo trực tuyến) có rất nhiều hình thức. Tùy theo ngành nghề kinh doanh,
chiến dịch quảng cáo mà chọn những hình thức khác nhau và mức chi phí khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung các hình thức quảng cáo trực tuyến khá rẻ, vì vậy, bạn sẽ giảm
được một khoản chi phí tối ưu
- Quảng cáo trưc tuyến giúp tìm đúng khách hàng tiềm năng: Quảng cáo
trực tuyến bao gồm nhiều hình thức quảng cáo, với mỗi hình thức quảng cáo khác
nhau sẽ giúp bạn hướng đến một nhóm đối tượng khách hàng khác nhau, lựa chọn
đúng được khách hàng tiềm năng và sẽ dễ dàng quản lý theo dõi và hỗ trợ khách hàng
hơn.
- Quảng cáo trực tuyến – dễ thực hiện và quản lý chiến dịch: Việc vận
hành và quản lý các chiến dịch cũng dễ dàng, bạn có thể chạy chiến dịch 24/24, ở bất
kỳ đâu trên thế giới và có thể ngưng lại bất cứ khi nào bạn muốn. Bạn có thể quản lý
được các chi phí, hoạch định chi phí cho chiến dịch quảng cáo một cách dễ dàng.
SVTH: Hồ Quang Toàn 11
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
2.3.4. Thực trạng Marketing trực tuyến tại Việt Nam
Năm 2005, luật giao dịch điện tử được ban hàng, sau đó nghị định hướng dẫn thi
hành luật trong thương mại điện tử được ban hành năm 2005. Vào năm 2007, nghị
định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet
cũng được ban hành. Mới đây, vào tháng 8/ 2008, nghị định về chống thư rác cũng đã
ra đời. có thể thấy rằng các văn bản pháp luật và các nghị định đã ban hành tương đối
đầy đủ, tạo tiền đề cho thương mại điện tử và đặc biệt là E- Marketing phát triển
mạnh mẽ. Chính vì thế ngay từ bây giờ các doanh nghiệp Việt Nam cần khẩn trương
đẩy mạnh công tác Marketing trực tuyến nhằm thu hút khách hàng và phát triển
doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, trong năm 2010 các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư từ 7 – 10%

quốc gia và vùng lãnh thổ
Bị giới hạn bởi biên giới
quốc gia và vùng lãnh thổ
Thời gian Mọi lúc, mọi nơi, phản ứng nhanh,
cập nhật thông tin sau vài phút
Chỉ vào một số giờ nhất
định, mất nhiều thời gian
và công sức để thay đổi
mẫu quảng cáo hoặc clip.
Phản hồi Khách hàng tiếp nhận thông tin và
phản hồi ngay lập tức
Mất một thời gian để
khách hàng tiếp cận thông
tin và phản hồi
Khách hàng Có thể chọn được đối tượng cụ thể,
tiếp cận trực tiếp với khách hàng.
Không chọn được một
nhóm đối tượng cụ thể
Chi phí Chi phí thấp với ngân sách nhỏ vẫn
thực hiện được và có thể kiểm soát
được chi phí quảng cáo (Google
adwords), tốn ít nguồn lực, thực
hiện nhiều lần.
Chi phí cao, ngân sách
quảng cáo lớn được ấn
định dùng một lần, tốn
nhiều nguồn lực, thực hiện
1 lần
Lưu trữ thông
tin

Các nhà tiếp thị cần nghiên cứu kỹ hành vi khách hàng nhằm mục đích nắm bắt
được nhu cầu, sở thích, thói quen của họ để xây dựng chiến lược Marketing phù hợp,
từ đó thúc đẩy khách hàng mua sắm sản phẩm dịch vụ của mình.
SVTH: Hồ Quang Toàn 14
Nhu cầu, cảm
xúc các giá trị
và tích cách
Cấu trúc nhân
khẩu học và hộ
gia đình
Hành vi mua
sắm và sử
dụng
Điều chỉnh
chính sách
dể bảo vệ
quyền lợi
người tiêu
dùng.
Sự hiểu
biết hành vi
NTD
Những tác
động của
nhóm
Xử lý thông tin
và ra quyết định
Chiến lược
marketing
nhằm thõa

Mô hình HS quan tâm đến 03 nhóm khách hàng tiêu dùng là: người mua, người
sử dụng và người chi trả để mua.
Có 4 nhân tố tổng quát:
• Đầu vào.
• Cấu trúc khái niệm (perceptual constructs).
• Cấu trúc học hỏi ( learning constructs)
• Đầu ra ( nội bộ hoặc bên ngoài)
- Mô hình bettman: hay còn gọi là mô hình xử lý thông tin.
Mô hình Bettman nhấn mạnh vào quá trình xử lý thông tin.
Có 2 cấu trúc đặc biệt dựa trên lập luận là khách hàng là những người giám sát
tích cực. Các cơ cấu quét / ngắt ( scanner / interrupt).
- Mô hình HCB ( Hawkins – coney – best): Nhấn mạnh vào quá trình ra
quyết định mua, hình ảnh bản thân và lối sống.
Có 2 cấu trúc tác động là:
• Tác động bên ngoài
• Tác động bên trong.
- Mô hình của Solomon: hay còn gọi là “Bánh xe của hành vi khách hàng tiêu
dùng”, xem hành vi khách hàng tiêu dùng là trọng tâm, bao quanh là các cấu trúc là
khách hàng là những cá nhân độc lập. Ở mức rộng hơn, khách hàng là những người
ra quyết định, kế đến ông khảo sát khách hàng và nhánh văn hóa mà khách hàng
thuộc vào. ở mức rộng nhất là khách hàng và văn hóa
SVTH: Hồ Quang Toàn 16
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
- Mô hình của peter – olson: Peter và Olson trình bày mô hình nghiên cứu về
hành vi khách hàng tiêu dùng ở dạng “bánh xe phân tích khách hàng”, bánh xe này
bao gồm 3 thành phần cơ bản là:
• Thành phần hành vi.
• Thành phần nhận thức và cảm xúc.
• Thành phần môi trường.
Mô hình của Peter – Olson có xuất phát điểm là từ định nghĩa về hành vi khách

Công ty Cổ phần Chứng khoán Chợ Lớn được thành lập theo giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh số: 4103005796 do sở KH & ĐT TP. HCM cấp ngày 26/12/2006
và giấy phép thành lập và hoạt động số: 39/UBCK – GPHĐKD do Ủy Ban Chứng
Khoán Nhà Nước cấp ngày 28/12/2006 với vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ đồng và ngày
22/8/2007 tăng lên 90 tỷ đồng.
Các mốc dấu ấn tượng quan trọng trong quá trình phát triển của CLSC thành lập
với vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ đồng do 03 (ba) cổ đông tham gia góp vốn là:
- Công ty Xuất nhập khẩu và Đầu tư Chợ lớn (Cholimex).
- Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu dịch vụ và Đầu
tư Tân Bình (Tanimex).
- Công ty Cổ phần Thực phẩm CholimexFoods)
Ngày 28/12/2006: Được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động
kinh doanh số 39/UBCK – GPHĐKD với các loại hình kinh doanh là: Môi giới
chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, lưu ký
chúng khoán.
Ngày 18/05/2007: CLSC được công nhận là thành viên của Trung tâm Giao dịch
chứng khoán TP. HCM nay là Sở GDCK TP. HCM và chính thức hoạt động giao
dịch trên TTCK Việt Nam.
Ngày 07/08/2007: CLSC là thành viên chính thức của Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội.
Ngày 22/08/2007: Thực hiện tăng vốn điều lệ lên 90 tỷ đồng từ việc phát hành cổ
phiếu với tổng mệnh giá là 60 tỷ đồng. Trong đó phát hành cho cổ đông hiện hữu 15
tỷ đồng còn lại phát hành cho cán bộ công nhân viên và các cổ đông bên ngoài là 45
tỷ đồng. Được UBCK nhà nước cấp giấy phép số 65/UBCK – GP về việc điều chỉnh
vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng lên 90 tỷ đồng.
SVTH: Hồ Quang Toàn 18
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Th.s Vũ Nhật Tân
Ngày 17/03/2009: Thực hiện theo quy định của luật chứng khoán về vốn pháp
định, do vậy CLSC đã thực hiện rút bớt nghiệp vụ kinh doanh ( nghiệp vụ tự doanh).
Được UBCK chấp thuận theo quyết định số 212/UBCK – GPĐC ngày 17/03/2009

- Đổi mới công nghệ.
Quy mô hoạt động
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất yếu của tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, Việt nam không thể tách rời xu thế đó. Thị trường chứng
khoán hình thành và phát triển sẽ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước những cơ hội để phát triển
mạnh mẽ, đi cùng với sự phát triển đó là những cơ hội và thách thức cho các công ty
chứng khoán.
Với chiến lược phát triển lâu dài, CLSC có thể nắm bắt được quy luật và những
yêu cầu tất yếu của thị trường để định hướng chung của ngành, cụ thể như quy mô
hoạt động, dịch vụ sản phẩm và trình độ công nghệ.
- Quy mô vốn điều lệ
Tính đến thời điểm cuối năm 2009, thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng
105 công ty chứng khoán đã được cấp giấy phép và đã đi vào hoạt động với tổng số
vốn điều lệ khoảng hơn 20.824 tỷ đồng, trong đó CLSC đứng thứ 64 với vốn điều lệ
là 90 tỷ đồng.
- Thị phần nghiệp vụ
Sau hơn hai năm thành lập và đi vào hoạt động, thương hiệu CLSC đã được nhiều
nhà đầu tư biết đến. Cụ thể số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại CLSC
đã liện tục tăng, tính đến tháng cuối tháng 11 năm 2009 có hơn 3.000 tài khoản. Thị
phần doanh thu phí môi giới của CLSC hiện nay chiếm thị phần khá lớn trong công
đồng người Hoa sống tại Tp. HCM. Dịch vụ tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng
khoán đã có nhiều khách hàng quan tâm và tư vấn thành công. Tính đến nay CLSC đã
thực hiện được hơn sáu hợp dồng tư vấn phát hành và tổ chức bán đấu giá cổ phần.
- Trình độ công nghê
Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, đặc biệt là hoạt động về môi giới –
giao dịch chứng khoán thì công nghệ thông tin đòi hỏi phải hiện đại để đáp ứng việc
xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Đối với CLSC đã triển khai giao
SVTH: Hồ Quang Toàn 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status