Ôn thi Đại học môn Văn - Pdf 13

Đề:5: Phân tích bài Mộ (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh
Bài Làm
Hồ Chí Minh bò bắt ngày 19/8/1942 tại phố Túc Vinh thuộc TRấn Thiện
Bỏa, tỉnh Quảng Tây (TRung Quốc). Sau đó chính quyền Tưởng Giới Thạch giải
Người ngược trở lại phía biên giới để giam giữa tại nhà ngục huyện Tỉnh Tây;
Đúng ngày quốc khánh trung hoa cũ (10-10), Hồ Chí Minh lại bò “giải vãng
thiên bảo ngục”. Trên đoạn đường trên dưới 100 Km từ Tỉnh Tây đến Thiên
Bảo, Người phải đi bộ trong 2 ngày. Tuy vậy Hồ CHí MInh vẫn tức cảnh sinh
tình, sáng tác 3 bài thơ “Tẩu lộ” (Đi đường); “Mộ” (Chiều tối); “Dạ túc long
tuyền” (Đêm ngủ ở Long Tiền); đó là chưa kể đến bài thơ sáng tác trên chặng
đường này, bài “Mộ” được xem là ánh thợ tuyệt bút.
Phiên âm : Mộ
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ bao ma túc,
Bao túc ma hoàn lô dó hồng.
Dòch thơ
- Chiều Tối
o Chim mỏi về rừng tìm chồn
ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
1
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng.
Qua vài nét chấm phá, hai câu đầu của bài thơ đã để lại một bức tiểu hoạ
về cảnh thiên nhiên vùng sơn cước ở thời điểm “Chiều tối”. Những buổi chiều
như vậy đâu có thiều trong văn chương cổ kim ; Nhưng nếu cảnh ấy qua cái nhìn
của một Lý Bạch tiêu diêu, một khuất nguyên u uất chắc chắn sẽ đầy ảm đảm,
thê lương. Còn ở đây, nếu không rỏ xuất xứ, nhiều người sẽ lầm tưởng “Mộ” là
bài thơ của thời Thònh Đường. Có nhiều người nhận xét cảnh thiên nhiên chiều
tối trong bài “Mộ” có cái gì ấm áp, thậm chí có cả niềm vui nửa ở hình ảnh

Bao túc ma hoàn lô dó hồng
“Sơn thôn thiếu nữ” dòch là “cô em xóm núi” đúng trên bgìng diện nghóa
của từ thì không có gì sai. Nhưng câu thơ dòch đã không thể hiện được cái nhìn
trân trọng của nhân vật trữ tình đối với con người; giọng điệu trang tròng của câu
thơ nguyên tác không hiện diện trong lời thơ dòch (mà nhiều khi giọng điệu còn
quan trọng hơn cả cái được miêu tả). Người phụ nữ đã nhiều lần có mặt trong
thơ chữ hán, nhưng phần lớn họ đều thuộc giới thượng lưu chí ít cũng gần gũi
3
giới thượng lưu. Không rõ trước Hồ Chí Minh đã có một “Sơn thôn thiếu nữ”
thực sự là người lao động bước vào thế giới của nàng thơ hay chưa ? Chỉ biết
rằng việc đặt hình ảnh “Sơn thôn thiếu nữ” ở vò trí trung tâm của bức tranh
phong cảnh chiều tối đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh về
cuộc sống con người. Sự chuyển đổi ấy thể hiện 1 khuynh hướng vận động của
hình tượng thơ và quan điểm nhân sinh của Bác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào,
Hồ Chí Minh cũng gắn bó với cuộc sống con người nơi trần thế – đặc biệt là
cuộc sống nhân dân lao động.
Về mặt nghệ thuật, ở hai câu thơ kết, người đọc thấy nhà thơ dường như
không tả, ngòi bút của Người chỉ ghi nhận một cách khách quan “những điều
trong thấy” trong cảnh chiều tối. Điệp ngữ liên hoàn “ma bao túc” nói liì©n
dòng thơ thứ ba với dòng thơ kết đã góp phần diễn tả được cái vòng quay liên
tục, điều đặng của động tác xay ngô. Điều đáng tiết là bài thơ dòch đã không thể
hiện được điều ấy. Để cảm thụ giá trò tiết điệu của câu thơ, không thể không
tiếp xúc với phần phiên âm chữ hán.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dó hồng
Vòng quay của chiếc cối chấm dứt, công việc kết thúc (bao túc ma hoàn)
thì lò than cũng vừa đỏ (lô dó hồng), ánh lửa đỏ ấm nồng xuất hiện thực bất ngờ,
tỏ sáng vào đêm tối. Tài hoa của Hồ Chí Minh là ở chổ tả cảnh thiên nhiên, tả
cảnh chiều tối mà Người không phải dùng đến một tính từ chỉ thời gian nào.
Người dùng ành lửa đỏ để thể hiện thời gian đã tối (trời có tối, lò mới rực hồng).

hiện tượng này có nghóa là tìm hiểu qui luật sáng tác văn học độc đao của Hồ
Chí Minh. Có thể nói quan điểm sáng tác nhất quán của Bác là nguyên nhân
tạo nên phong cách nghệ thuật hết sức đa dạng, phong phú của thơ văn Hồ Chí
Minh. Quan điểm sáng tác ấy là : Coi hành vi sáng tác văn chương trước hết
phải phục vụ hết sức hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng, phải có đối tượng và
mục tiêu cụ thể thiết thực. Vì vậy trước khi cầm bút, người luôn luôn tự đặt cho
mình các câu hỏi: viết cho ai ( đối tượng) ? viết để làm gì ( mục đích ) ? viết cái
gì ( nội dung ) ? và viết như thế nào ( hình thức ) ? Hồ CHí Minh trên bước
đường hoạt động của mình, từ đông sang tây, từ ngoài nước đến trong nước, tuỳ
từng nơi, từng lúc, tuỳ từng tình huống cụ thể, người đã phải giải quyết bao
nhiệm vụ khác nhau, phải liên kết bao bạn bè gần xa, phải đối phó với bao kẻ
thù lớn nhỏ sau cho phù hợp với chiến lược và sách lược cách mạng từng thời
kỳ. Phục vụ cho những yêu cầu cách mạng cụ thể ấy, nhằm vào những mục tiêu
và đối tượng vận động cách mạng cụ thể rất khác nhau, thơ văn của người tất
nhiên cũng phải hết sức phong phú đa dạng từ nội dung đến hình thức từ tư
tưởng đến phong cách nghệ thuật. Có thể coi đó là quan điểm và qui luật sáng
6
tác văn học độc đáo của Hồ Chí Minh. Quan điểm ấy thể hiện rất rõ qua những
truyện ký và tập thơ Nhật ký trong tù của người.
Trước hết tính chất phong phú đa dạng của phong cách nghệ thuật Hồ
CHí Minh thể hiện ngay ở sự khác biệt hầu như hoàn toàn giữa phong cách viết
truyện ký và phong cách viết thơ Nhật ký trng tù. Nói như Phạm Huy Thông
trong bài tựa bản dòch truyện ký Nguyễn i Quốc : “ Hồ Chủ Tòch đã viết Nhật
ký trong tù bằng chử Hán với phong cách Đường, Tống và đã viết những truyện
ký bằng tiếng Pháp (…) như một ngòi bút phương Tây sắc xảo, rất điêu luyện,
rất Pháp.

Đề:6: Nêu những nét lớn về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh. Kể
tên những tác phẩm văn xuôi và những tác phẩm thơ của Người (trước và
sau cách mạng tháng 8).

nước, đồng thời vẫn ung dung lạc quan và có một tâm hồn rất thi só …
8
+Di sản văn hoạ độc đáo phong phú của Hồ Chí Minh có những giá trò to
lớn đặc biệt về nhiều mặt, chẳng những ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng tình cảm
của người Việt Nam mà còn vò trí quan trọng trong lòch sử văn học Việt Nam.
Tác phẩm;
+ Truyện và kí Nguyễn Ái Quốc (những năm 20).
+ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).
+ Nhật kí trong tù (1942-1943).
+ Hồ Chí Minh, thơ (1941-1968).
Đề 8: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu: " ta
về, mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Bài làm
"Việt Bắc " là bài thơ đặc sắc của tập thơ "Việt Bắc" (1947-1954) nói riêng
và thơ ca kháng chiến Việt nam giai đoạn 1946-1947 nói chung. Việt Bắc gồm
150 câu thơ lục bát được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, hoà bình lập lại ở miền
Bắc, Trung ương Đảng và chính phủ tạm biệt căn cứ đòa Việt bắc về quản thủ
đô Hà Nội. Mượn hình ảnh, cách nói quen thuộc của ca dao dân ca, " Việt Bắc
cất lên tiếng hát ngợi ca cuộc kháng chiến và con người kháng chiến anh hùng
của dân tộc ta trong " mười lăm năm ấy ai quên ". Xa Việt Bắc trong nổi nhớ
cảnh, nhớ người ở cung bậc cao nhất của tình cảm. Tố Hữu đã xúc động viết
những câu thơ chân tình để ghi lại tâm tư ấy"
9
" ta về, mình có nhớ ta………………………………….
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Vừa ngọt ngào, đằm thắm như những lời thơ của các đoạn thơ trước hai câu
thơ đầu của đoạn thơ mà ta tìm hiểu vừa là lời hỏi của người ra đi - người cán bộ
kháng chiến, vừa là lời khẳng đònh tình cảm thủy chung son sắc với cảnh với
người Việt Bắc

Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Xuân đến núi rừng Việt Bắc bừng sáng vì:" mơ nở trắng rừng".Hoa mơ- hoa
xuân tự nhiên của Việt Bắc giăng giăng khắp mọi nẻo đường rừng núi. Màu
trắng mảnh mai tinh khiết của " mơ nở trắng rừng" gieo vào lòng người sự trẻ
trung trong sáng vô ngần. Hoa xuân ấy làm cho "ta" thêm sức sống mới và càng
yêu cuộc sống này hơn. Đi giữa rừng mơ nở hoa đẹp như thực như ảo ấy ta " gặp
người đan nón chuốt từng sợi giang". Tố Hữu , người cán bộ kháng chiến"nhớ'
11
mãi những đôi bàn tay chòu thương chòu khó, khéo léo "chuốt từng sợi giang"
trắng tinh, mềm mại để làm đẹp cho đời. Rồi lại đến mùa hè:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Âm thanh của Việt Bắc là tiếng "ve kêu" đâu đâu trên mọi miền đất nước
cũng rộn rả âm thanh ấy mổi khi hè về. Nhưng " ve kêu" trên núi rừng "Việt
Bắc " lại mang âm hưởng rất riêng mà ít nợi nào có được. Ta đi giữa âm thế giới
âm thanh của rừng ve, thời gian không gian như được đan dệt bằng triệu triệu
những âm thanh réo rắt của tiếng "ve kêu". Màu sắc bạt ngàn của núi rừng Việt
bắc ở mùa xuân là màu xanh điểm màu trắng của hoa mơ, sang hè, nó đột ngột
"đỗ vàng"của những rừng phách. Một màu vàng tươi của " rừng phách" nhuộm
lấy đất trời Việt Bắc. Chỉ bằng một câu thơ 6 chữ Tố Hữu đã thâu tóm được âm
thanh sắc màu rất đặc trưng của Viêït Bắc trong những tháng mùa hạ đầy nắng.
Đi giữa thời gian không gian ấy nhà thơ lại:
Nhớ cô em gái hái măng một mình
"Cô em gái" trẻ trung, chăm chỉ trong công việc thường ngày"hái măng"
mổi khi hè đến đã thành ấn tượng không phai trong tâm hồn người ra đi. Cuối
cùng, trong tâm tưởng nhà thơ là nổi nhớ:
Rừng thu trăng rọi hoà bình.
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Nhớ mùa thu, những đêm thu ở Việt Bắc là Tố Hữu nhớ hình ảnh " trăng rọi

Tiến". Quang Dũng đã giành 8 câu thơ đẹp nhất, đầy tâm huyết khắc hoạ hình
ảnh người lính Tây Tiến, những con người đã sống và chết anh hùng trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Tây tiến đoàn binh không mộc tóc……….
Sông mã gầm lên khúc độc hành.
Dọc theo chặng đường hành quân, hình ảnh người lính Tây Tiến đã được
nhà thơ thể hiện sinh động: lúc thì "sài khao sương lấp đoàn quân mỏi", khi thì"
heo hút cồn mây súng ngưởi trời". Hình ảnh người lính cứ chập chờn hoà vào
con đường Tây Tiến " Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống" xa xôi. Với tình
yêu và sự kính phục đồng đội, Quang Dũng đặt tả bức chân dung người chiến só
trong đoàn quân Tây Tiến.
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Đây là bức tranh vừa có nét toàn cảnh vừa có nét cận cảnh miêu tả hình
dáng, tư thế bên ngoài và nhòp đập trái tim giấu trong màu xanh quân phục.
14
Trong tâm trí của nhà thơ, đồng đội hiện về với hình ảnh "Tây Tiến đoàn binh
không mọc tóc". Hình ảnh đó là ấn tượng không thể nào quên được về từng con
người, cả đoàn binh Tây Tiến. Chi tiết "không mọc tóc" của người linh là thực,
cái thực trong sinh hoạt của người lính bấy giờ. Hình ảnh đó còn gợi lên cuộc
sống thiếu thốn bệnh tật của họ giữa nơi rừng thiêng nước độc. Những cơn sốt
rét rừng làm cho người lính "không mọc tóc " được. Vậy mà nhìm vào gương
mặt của cả đoàn binh "không mọc tóc ấy"ta nhận thấy ở họ có nét ngang tàng,
liều lónh pha chút bất cần đời cả đoàn binh tiếp tục được miêu tả khái quát"
quân xanh màu lá dữ oai hùm". "Quân xanh màu lá" màu xanh của quân phục,
của lá ng trang, của nước da sốt rét hoà vào với màu xanh trùng điệp của "
dốc lên khúc khuỷa dốc thăm thẳm". Màu xanh ấy không làm mất đi tư thế" dữ
oai hùm"của ngững con người cắt rừng mà đi, vượt dốc tiến về phía trước. Sau
khi phát hoạ những nét khái quát về người lính, Quang Dũng dừng lại miêu tả

thơm "ấy được. Chính tứ thơ này đã làm cân bằng tâm hồn người lính, chính tình
cảm này giúp họ thêm sức mạnh hành quân. Qua cách cảm nhận của Quang
Dũng đồng đội của anh vừa có tính sắt thép lại vừa có trái tim nóng bỏng yêu
thương. Vẻ đẹp thật sự của anh bộ đội Cụ Hồ phải là như vậy!
16
Những người lính Tây Tiến đã sống thực và mộng mơ dường ấy và họ giám
chấp nhận, vượt lên mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Bốn câu thơ
còn lại của khổ thơ, Quang Dũng tiếp tục miêu tả một hiện thực bi tráng thường
xảy ra trên con đường Tây tiến:
Rải rác biên cương mồ viển xứ Sông mã gầm lên khúc độc hành !
Với câu thơ 7 chữ, cách ngắt nhòp 4,3, lời thơ phảng phất âm hưởng trầm
lắng, cổ kính như Đường Thi, Quang Dũng đã thể hiện những xúc cảm chân
thành của lòng mình trước sự hy sinh của đồng đội. Vượt qua " ngàn thước lên
cao ngàn thước xuống" xuyên trong rừng núi hoang vu, người lính đã nếm trải
bao nhiêu thiếu thốn và bệnh tật. Vì thế, trước khi đối mặt với quân thù đã có
người " gục lên súng mũ bỏ quên đời" âm thầm lặng lẻ ra đi vónh viển nơi " rải
rác biên cương viển xứ". Lời thơ man mác buồn pha lẫn sự xót xa. Từ láy " rải
rác " gợi lên cái chết cứ bám theo từng bước hành quân của họ. Nhưng " mồ
viển xứ " nơi " biên cương " xa vắng ở chân trời như đánh dấu từng chặng đường
hành quân đầy hy sinh mất mát. Biết thế, người lính vẫn chấp nhận vadừ vượt
lên bởi lời thề thôi thúc : " chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Câu thơ âm
vang hơi thở tràn đầy nhiệt huyết " quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của thời
đại lúc đó.Người lính Tây Tiến cũng như hàng vạn người con ưu tú khác vẫn sẳn
sàng đi theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng của chủ tòch HCM: "Không! Chúng
ta thà hy sinh tất cã chứ nhất đònh không mất nước, nhất đònh không chòu làm nô
lệ". Trước cái chết phẩm chất của người lính càng ngời sáng. Quang Dũng đã
giành tình cãm thiêng liêng nhất cho đồng đội trong giấy phút vónh biệt!
Áo bào thay chiếu anh về đất
17
Sông mã gầm lên khúc độc hành

"rừng xà nu" nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng cây xà nu, hình tượng
nghệ thuật đó có sức biểu cảm sinh động cho chủ đề tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học, những dòng viết miêu tả cảnh sắc thiên nhiên đều
thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Cảnh bao giờ cũng ẩn chứa tư tưởng, tình
cảm của nhà văn với con người, cuộc sống. Cảm nhận về con người Tây
Nguyên trong những năm tháng đầu chống mỹ cứu nước, ở bài thơ " bóng cây
Khơ nia"(1959)nhà thơ Ngọc Anh chọn cây Kơ nia để làm hình ảnh nghệ thuật
biểu hiện, vì dáng cây, bóng cây Kơ nia gợi lên sự gắn bó yêu thương giữa mẹ
và con, sự sắc son chung thuỷ giữa vợ và chồng. n chứa trong đó là Bắc - Nam
chung một cội nguồn, một tổ quốc Việt nam thống nhất. Trong truyện ngắn "
rừng xà nu", nhà văn Nguyễn Trung Thành lại chọn cây xà nu để làm hình
tượng nghệ thuật. Bởi khi nói đến núi rừng Tây Nguyên ta không thể quên cây
xà nu, một loại cây họ thông có sức sống dẻo dai, mạnh mẻ. Ngay lần đầu gặp
lại cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã có ấn tượng rất sâu sắc: "ấy là một loại
19
cây hùng vó và cao thượng mổi cây cao vút, vạm vở tán lá vừa thanh nhã
vừa rắn rỏi" ( về một truyện ngắn rừng xà nu). Cây xà nu có sức vươn cao , mọc
thẳng, rất ham ánh sáng mặt trời. Ở đâu có cây xà nu là ở đó có rừng xà nu cho
nên bảo giông không thể quật ngã được nó. Những đặc điểm trên của cây xà nu,
rừng xà nu có thể biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp cho những cộng
đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Điều đó đã gợi cảm hứng mảnh liệt để
Nguyễn Trung Thành chọn cây xà nu làm hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm
của mình.
Hình tượng lớn bao trùm toàn tác phẩm là hình tượng cây xà nu, rừng xà nu.
Chính nó đã đem lại sự sinh động, sức khái quát cho tác phẩm. Hình tượng cây
xà nu khơi nguồn cảm hứng dạt dào cho tác giả, nó trở thành biểu tượng để nhà
văn suy ngẫm về mạch sống của tây Nguyên, của đất nước, nhân dân trong cuộc
kháng chiến chống mỹ cứu nước. Mở đầu tác phẩm là hình tượng cây xà nu,
rừng xà nu trong chiến tranh do đế quốc mỹ gây ra:'" hầu hết đạn đại bác đều
rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không

những ngày tháng rất quyết liệt. Nhân dân Tây Nguyên, nhân dân miền Nam
chấp nhận gian khổ hy sinh; một người ngã xuống muôn người đứng lên tiếp tục
21
chiến đấu với ý chí " nhọn hoắt như một mũi lê" sẳn sàng tiêu diệt quân xâm
lược Mỹ.
Hình ảnh con người Tây Nguyên cũng như cây xà nu, rừng xà nu vậy. Cụ
Mết, người đã đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, đang đi tiếp cuộc kháng
chiến chỗng Mỹ, như cây xà nu lớn sừng sửng giữa đại ngàn Tây Nguyên. Hình
ảnh Tnú, Dít như những cây xà nu trưởng thành tràn đầy nhựa sống, họ đủ sức
gánh vác công việc trọng đại mà Tây Nguyên và đất nước giao phó. Đánh Mỹ
và thắng Mỹ! Hình ảnh bé Heng khẩu súng trên vai bằng chiều cao của nó, là
những cây xà nu đang lớn, phóng nhanh lên bầu trời để tắm ánh nắng. Dân làng
Xô man là một rừng xà nu kiên cường cả Tây Nguyên điệp trùng những rừng
xà nu hùng vó mà bom đạn kẻ thù không thể khắc phục được nó.
Mở đầu tác phẩm là hình ảnh cây xà nu, rừng xà nu với sức sống mảnh liệt
đang vươn lên trong giông tố của sự hủy diệt kết thúc tác phẩm,trong mắt của
Tnú" đến hút tầm mắt cũng không thấy già khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp
chạy đến chân trời". Cách kết cấu đầu cuối tương ứng về hình ảnh cây xà nu,
rừng xà nu gây ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc. Màu xanh, sức sống kỳ diệu của
cây xà nu, rừng xà nu gợi cho ta niềm tin tuyệt đối vào những con ngưởi Tây
Nguyên, vào sự nghiệp chống mỹ tất thắng của dân tộc ta.
Hình tượng cây xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn
Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và bằng tài năng nghệ
thuật của mình đã đem đến cho nó một ý nghóa mới. Những lốp nghóa khác nhau
đẹp đẻ phong phú được bạn đọc tiếp nhận nhờ cách viết vừa tả vừa gợi rất linh
hoạt của tác giả. Bằng cảm hứng sử thi, Nguyễn Trung Thành đã đóng góp cho
22
văn chương Việt nam thời chống mỹ một hình tượng nghệ thuật xuất sắc:hình
tượng cây xà nu! /.
Đề 11: Hãy phân tích hình tượng cây “xà nu” và những vẽ đẹp khác nhau

yếu với một tác phẩm văn học. Vì thế với cách đặt “Rừng xà nu” nó không chỉ ghi
nhận tâm hồn tình cảm tác giả, mà hơn cả nó còn bao chứa toàn bộ vẽ đẹp tác
phẩm, vẽ đẹp của một thế giới sinh động, ngân vang nồng căng sự sống.
Đi suốt chiều dài tác phẩm, xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống mạch
hồn tác phẩm. Trước hết ta bắt gặp đó là vẻ đẹp rất thực, rất động của núi rừng Tây
Nguyên hiển hiện qua những dáng nét xà nu kiêu dũng, qua những mầm sống căng
ngọt nồng nàn, khúc tráng ca về sức sống bất diệt được mở ra trong một âm điệu
đều đều, chậm rãi mà không kém phần gay gắt, kiên cường “Làng ở trong tầm đại
bác của đồn giặc”. Trong truyện Nguyễn Trung Thành hơn hai mươi lần nói đến
Rừng xà nu ở nhiều gốc độ khác nhau” Cây xà nu, nhựa xà nu, ngọn xà nu, đồi xà
nu, khói xà nu, lửa xà nu, dầu xà nu… và khái quát bao trùm là Rừng xà nu. Một
sự vô tình mà hữu ý của tạo hóa chăng? Cây sinh ra là để che chở cho con người.
Và một điều không tránh khỏi cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không
bị thương, nhưng cái làm nên một rừng xà nu không phải là ở đó, mà ngay trong cái
chết cây vẫn kiêu dũng vẻ đẹp của mình, đổ ào ào như một trận bão. Câu văn
không hề chìm lặng mà như thăng hoa kết tụ trong một vẽ đẹp đến sửng sờ “ở chổ
24
vết thương nhựa ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt”. Sự sống
lấn át cái chết và bút lực nhà văn cũng như chạy đua với vẽ đẹp đầy chất thơ của xà
nu, một vẽ đẹp hùng tráng man dại đẩm tố chất núi rừng. Cây xà nu ‘sinh sôi nảy
nở nhanh mạnh bạt ngàn”, “sinh sôi nảy nở khỏe hơn ánh sáng mặt trời” trải dài ra
“đến hết tầm mắt… nối tiếp tới chân trời”. Đặc biệt gây ấn tượng về sức sống bất
diệtcủa cây khi tác giả nhấn mạnh trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở
khỏe như vậy. Bên một cây ngã xuống đã có liền bốn năm cây con vươn dậy lao
thẳng lên bầu trời,chúng lao lên để đón nhận ánh sáng và kỳ diệu làm sao thứ ánh
nắng ấy như chỉ để dành riêng cho loài cây bất diệt này “Từng luồng lớn thẳng tắp,
lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mơ màng”. Có những cây
mới nhu khỏi mặt đất, nhọn hoắc như mũi lê “đại bác không giết nổi chúng, những
vết thương của chúng chóng lành như một thân thể cường tráng”. Câu văn như có
cánh đẫm chất thơ tràn đầy chất nhạc và nõn nà tươi mới hình ảnh, hương vị, đưa ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status