7455
15/7/2009 HÀ NỘI - 2007
BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ TÊN ĐỀ TÀI: GÓP PHẦN XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ PHÒNG BỆNH CỦA
VẮC-XIN VIÊM NÃO NHẬT BẢN (VNNB) BẰNG GIÁM SÁT HUYẾT
THANH HỌC BỆNH VNNB Ở MỘT SỐ TỈNH THÀNH MIỀN BẮC
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. PHAN THỊ NGÀ
Cơ quan chủ trì đề tài: VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Cấp quản lý: BỘ Y TẾThời gian thực hiện: từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 11 năm 2007
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 120 triệu đồng
Trong đó kinh phí sự nghiệp khoa học: 120 triệu đồng
Nguồn khác nếu có
- PGS. TS. Phan Thị Ngà
- BS. Đỗ Phương Loan
- CN. Nguyễn Việt Hoàng
- KS. Bùi Minh Trang
- KTV. Lê Thị Hiền Thu
- PGS. TS. Đỗ Sỹ Hiển
- PGS. TS. Nguyễn Thu Yến
-
Ths. Vũ Hải Hà
- BS. Phạm Văn Tân
8. Các đề tài nhánh (đề mục) của đề tài (nếu có):
(a) Đề tài nhánh 1 (đề mục 1)
- Tên đề tài nhánh:
- Chủ nhiệm đề tài nhánh:
(b): Đề tài nhánh 2
- Tên đề tài nhánh:
- Chủ nhiệm đề tài nhánh:
9. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 11 năm 2007. NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
(Baby Hamster Kidney cells)
Tế bào ung thư có nguồn gốc từ nguyên bào cơ vân
(Rhabdomyosarcoma)
Tế bào có nguồn gốc từ thận khỉ xanh châu Phi
Viêm não Nhật Bản
MỤC LỤC
PHẦN A: Báo cáo tóm tắt
1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu
2. Bản tự đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài
PHẦN B: Báo cáo chi tiết
Chương 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tóm lược những nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2. Giả thiết nghiên cứu của đề tài.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Chương 2. TỔNG QUAN
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề
tài.
Chương 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thiết kế nghiên cứu
3.2. Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu
3.3. Phương pháp nghiên cứu:
3 4. Phương pháp xử lý số liệu
62
75
1
PHẦN A
BÁO CÁO TÓM TẮT
1. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt được các mục đích sau: (1)
Lựa chọn bộ sinh phẩm phát hiện IgM trong chẩn đoán căn nguyên vi rút viêm
não Nhật Bản (VNNB) gây hội chứng não cấp (HCNC); (2) Xác định hiệu quả
phòng bệnh của vắc xin VNNB. Để đạt được những mục đích nghiên cứu này,
đề tài nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phát hiện IgM kháng vi rút VNNB để
xác
định căn nguyên vi rút VNNB gây hội chứng não cấp, nhằm khẳng định hiệu
quả phòng bệnh của vắc xin trên thực địa. Nghiên cứu được thiết kế là nghiên
cứu cắt ngang và sử dụng mẫu ngẫu nhiên đơn. Đối tượng nghiên cứu là bệnh
nhân HCNC nghi ngờ do vi rút. Tiêu chuẩn lấy mẫu từ những bệnh nhân này
theo tiêu chí đề nghị của Tổ chức Y tế thế giới: một bệnh nhân lấy 1 m
ẫu dịch
não tuỷ trong giai đoạn cấp, huyết thanh kép được thu thập trong giai đoạn cấp
và giai đoạn lui bệnh. Cỡ mẫu sử dụng cho nghiên cứu là 788 mẫu.
Đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài dựa trên các tiêu chí sau: (1) so
sánh độ nhậy để phát hiện IgM kháng vi rút VNNB của các bộ sinh phẩm
MAC-ELISA (do Viện Vệ Sinh Dịch Tễ trung ương sản xuất), bộ sinh phẩm
PEN TAX (do viện Các bệnh truyền nhiễm qu
ốc gia, Tokyo sản xuất); bộ sinh
phẩm Panbio do dự án PATH cung cấp; (2) Xác định các căn nguyên vi rút
Hơn thế nữa, bộ sinh phẩm Panbio được thiết kế để phát hiện IgM trong huyết
thanh còn độ nhậy phát hiện IgM trong dịch não tuỷ thấp, cho thấy bộ sinh
phẩm này không đáp ứng được tiêu chí phát hiện IgM trong dịch não tuỷ là
“tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán VNNB. So sánh kết quả phát hiện IgM
kháng vi rút VNNB trong mẫu huyết thanh lấy trong giai đoạn cấp và giai đoạn
hồi phục, kết qu
ả cho thấy bằng bộ sinh phẩm MAC-ELISA có thể phát hiện
được 92% (24/26) số mẫu dương tính và bằng bộ sinh phẩm PEN TAX có thể
phát hiện được 96% (25/26) số mẫu dương tính. Sử dụng hai bộ sinh phẩm này
để phát hiện IgM trong mẫu dịch não tuỷ lấy trong giai đoạn cấp (7 ngày đầu
của bệnh), kết quả phát hiện được 96 % (25/26) số mẫu dương tính. Như vậy, 3
nếu sử dụng mẫu dịch não tuỷ lấy trong giai đoạn cấp để chẩn đoán có thể chỉ
bỏ sót khoảng 4 %, kết quả này khẳng định tính ưu việt về độ nhậy của phương
pháp phát hiện IgM theo nguyên lý capture. Kỹ thuật MAC-ELISA không phức
tạp, cho đến nay, kỹ thuật này đã được phổ cập ở các phòng thí nghiệm tuyến
tỉnh để chẩn đoán và giám sát VNNB. Đố
i chiếu kết quả chẩn đoán VNNB ở 3
tỉnh Bắc Giang, Hà Tây và Thanh Hoá với kết quả chẩn đoán VNNB ở Viện Vệ
Sinh Dịch Tễ Trung Ương bằng bộ sinh phẩm MAC-ELISA, kết quả cho thấy
tỷ lệ % biến thiên kết quả nằm trong giới hạn cho phép < 10 %, mặc dù trong
những năm gần đây, người chuyên trách chẩn đoán VNNB ở các tỉnh có sự
thuyên chuyển và thay đổi do việc chia tách Trung tâm phòng chố
ng HIV/AIDS
ra khỏi Trung tâm Y tế dự phòng. Tuy nhiên, trong những năm tới cần tăng
cường năng lực xét nghiệm cho các phòng thí nghiệm tuyến tỉnh để tỷ lệ % biến
thiên kết quả < 5 %, đạt giá trị lý tưởng. Nghiên cứu cũng cho thấy không có sự
sai khác về kết quả phát hiện IgM kháng vi rút VNNB bằng kháng nguyên
ừ năm 2000 sau vụ dịch lớn
viêm não mùa hè ở Bắc Giang 1999. Tuy nhiên, đến năm 2003 trên 90 % trẻ em
ở tỉnh Bắc Giang đã được tiêm phòng vắc-xin VNNB, còn Hà Tây và Thanh
Hoá đến năm 2006 mới đạt được tỷ lệ tiêm phòng trên 90 %. Kết quả giám sát
căn nguyên vi rút VNNB gây HCNC thấp nhất là ở Bắc Giang 20,6 %; tiếp đến
là ở Hà Tây 32,0 % và cao nhất ở Thanh Hoá 65,2 %. Phân tích đánh giá hiệu
quả phòng bệnh của vắc-xin VNNB gián tiếp cho thấy tỷ lệ số mắc VNNB theo
nhóm tu
ổi trước giai đoạn tiêm phòng vắc-xin VNNB (1990 – 1995) và sau giai
đoạn có sử dụng vắc-xin VNNB (1998 – 2005) đã giảm trên 50 % trong nhóm
tuổi từ 1 đến 4 ở tỉnh Hà Tây, khẳng định hiệu quả phòng bệnh bằng vắc-xin
VNNB. Tương tự như vậy, so sánh tỷ lệ tiêm vắc-xin VNNB cho nhóm trẻ từ 1
– 5 tuổi và tỷ lệ xác định căn nguyên vi rút VNNB gây HCNC ở tỉnh Thanh
Hoá, cho thấy có tương quan tỷ lệ nghịch. Tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin VNNB và
t
ỷ lệ xác định căn nguyên vi rút VNNB gây HCNC ở tỉnh Bắc Giang cũng theo
mối tương quan tỷ lệ nghịch. Tuy nhiên, số các trường hợp HCNC nghi ngờ do
vi rút về mùa hè ở tỉnh Bắc Giang không giảm, khoảng 2 – 3 năm lại có một vụ 5
dịch lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Bắc Giang, ngoài vi rút VNNB gây
HCNC còn có tác nhân vi rút khác cũng gây dịch viêm não về mùa hè mới được
phát hiện năm 2004.
Các kết quả khác của đề tài liên quan với khoa học, kỹ thuật và kinh tế.
- Đã đào tạo được 01 cử nhân sinh học có nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Có ba bài báo liên quan đến đề tài đã được công bố trên tạp chí quốc gia.
- Đã xây dựng được mạng lưới chẩn đoán phòng thí nghi
ệm bệnh VNNB bằng
kỹ thuật MAC-ELISA, quy trình đánh giá để củng cố hệ thống chẩn đoán.
• Kéo dài thời gian nghiên cứu
Tổng số thời gian kéo dài tháng
Lý do phải kéo dài
b. Thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đưa ra
• Thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra
•
Thực hiện được các mục tiêu nhưng không hoàn chỉnh
• Chỉ thực hiện một số mục tiêu đề ra
• Những mục tiêu không thực hiện được (ghi rõ)
c. Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến trong bản đề cương
• Tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến trong bản đề cương
• Chất lượng sản phẩ
m đạt yêu cầu như đã ghi trong bản đề cương
• Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng chất lượng có sản phẩm chưa đạ
• Tạo ra đầy đủ các sản phẩm nhưng tất cả không đạt chất lượng.
• Tạo ra được một sản phẩm đạt chất lượng
• Những sản phẩm chưa thực hiện
được (ghi rõ) X
Đề xuất về tài chính: Không
Đề xuất về quản lý khoa học: Không
Đề xuất liên quan đến đề tài: 1. Có thể sử dụng bộ sinh phẩm MAC-ELISA hoặc PEN TAX để phát hiện
IgM cho chẩ
n đoán VNNB.
2. Có thể giám sát bệnh VNNB bằng một mẫu dịch não tuỷ.
3. Cần phát triển sinh phẩm chẩn đoán đối với các vi rút khác gây HCNC
mới được phát hiện ở Việt Nam.
8
PHẦN B: BÁO CÁO CHI TIẾT
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tóm lược những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài,
tính cấp thiết cần nghiên cứu của đề tài:
43, 49]. Tuy nhiên, trong số mẫu lấy trong những ngày đầu của bệnh, có khoảng
20 % số mẫu không phát hiện được IgM kháng vi rút VNNB [2, 29]. Để tránh
bỏ sót trong chẩn đoán VNNB, yêu cầu lấy mẫu máu kép cũng được đề cập
đến; theo tiêu chuẩn dự thảo của Tổ chức Y tế thế giới về giám sát VNNB trong
giai đoạn khống chế bệnh VNNB trong giai đoạn 2010 - 2015: đặt ra mục tiêu
cần đạt ≥ 80 % bệnh nhân được lấy 3 mẫu bệnh phẩm bao gồm có mẫu DNT,
mẫu máu lấy trong giai
đoạn cấp và giai đoạn lui bệnh. Trong nhiễm vi rút arbo
có hướng tính thần kinh, kháng thể qua hàng rào máu não để bảo vệ hệ thần
kinh trung ương, do vậy hiệu giá IgM kháng vi rút VNNB trong DNT thường
cao hơn trong máu bệnh nhân – kết quả phát hiện được IgM trong DNT là bằng
chứng của sự mới nhiễm vi rút và là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán VNNB
[29, 51, 73]. Hiện tại, chưa có bộ sinh phẩm phát hiện IgM kháng vi rút VNNB
thương mại trên thị trường quốc tế, các nước sử
dụng sinh phẩm và bộ sinh
phẩm chẩn đoán là sinh phẩm và bộ sinh phẩm tự sản xuất, như ở Việt Nam sử
dụng bộ sinh phẩm MAC-ELISA chẩn đoán VNNB là một sản phẩm nghiên
cứu của đề tài cấp Nhà nước (1991 – 1994).
Cho đến nay, người ta đã xác định vi rút VNNB có 5 nhóm genotyp; tuy
nhiên, chỉ có vi rút VNNB genotyp 3 được xác định lưu hành rộng rãi nhất,
ngược lại trước những năm 90 vi rút VNNB genotyp 1 được xác định lưu hành
chủ yếu ở Thái Lan. Do vậy một số chủng vi rút VNNB thuộc nhóm genotyp 3
đã được chọn để sản xuất vắc-xin phòng bệnh như các chủng Nakayama,
Beijing-1, SA-14-14 và các chủng Nakayama, Beijing 1 và JaGA-01 thường 10
được sử dụng để sản xuất kháng nguyên cho chẩn đoán VNNB ở nhiều nước
[25, 36, 56, 64, 68, 80, 83]. Trong những năm gần đây, có sự xuất hiện của vi
rút VNNB genotyp 1 ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Miền Bắc Việt Nam, cho
11
1.3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá chất lượng bộ sinh phẩm phát hiện IgM để chẩn đoán căn nguyên vi
rút VNNB gây HCNC.
- X¸c ®Þnh hiÖu qu¶ phßng bÖnh cña v¾c-xin VNNB. 12
Chương 2. TỔNG QUAN
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
2.1.1. Tác nhân gây bệnh, tình hình bệnh VNNB, khả năng dự phòng bằng
vắc-xin:
Lâm sàng bệnh VNNB được mô tả rất sớm ở Nhật Bản từ những năm
1871 nhưng phải hơn nửa thế kỷ sau, năm 1935 tác nhân gây bệnh – vi rút
VNNB mới được phân lập từ não tử thi của một bệnh nhân ở Tokyo, Nhật Bản
(chủng Nakayama), tiếp đó năm 1937 vi rút VNNB được phân lập t
ừ não ngựa
ốm và năm 1938 vi rút VNNB được phân lập từ Culex tritaeniorhynchus.
Những nghiên cứu tiếp theo ở Nhật đã xác định lợn và chim là những vật chủ
chính nhiễm vi rút huyết qua Culex truyền đến người [29, 32, 33, 35, 56, 68,
81, 87].
Vi rút VNNB là vi rút Arbo do muỗi truyền, thuật ngữ Arbo xuất phát từ
tiếng lóng của phòng thí nghiệm được sử dụng từ những năm đầu 1940 trong số
những nhà nghiên cứu ở California để chỉ m
ột loại vi rút động vật được truyền
cho động vật có xương sống từ những loài véc-tơ chân đốt hút máu [9, 29, 38].
Vi rút VNNB thuộc chi vi rút Flavi, trên cơ sở phân loại bằng huyết thanh học,
vi rút VNNB thuộc về phân nhóm vi rút West Nile [29, 39, 45]. Các vi rút thuộc
chi vi rút Flavi gây bệnh cho người với ba hội chứng chính: nhóm các vi rút
78].
Trong những vùng có vi rút VNNB lưu hành, trẻ em là đối tượng có nguy
cơ mắc cao. Tỷ lệ mắc VNNB ở trẻ em dưới 10 tuổi chiế
m 87,7%, hiếm khi gặp
ở trẻ sơ sinh [4, 38, 48]. Đối với những người sống ngoài vùng lưu hành vi rút
VNNB, nguy cơ mắc bệnh VNNB đối với các lứa tuổi là ngang nhau. Khách du
lịch tới Châu Á rất dễ bị nhiễm vi rút VNNB, tuy nhiên nguy cơ này còn phụ
thuộc rất nhiều yếu tố như mùa du lịch, nơi đến, thời gian sống trong vùng có vi
rút VNNB lưu hành, nguy cơ tiếp xúc với muỗi truyền bệnh [60, 78]. 14
Các nghiên cứu cũng đã xác định các loài chim hoang dại hoặc chim di
cư là ổ chứa vi rút qua giám sát huyết thanh học hoặc bằng kết quả phân lập vi
rút [20, 29, 78]. Điều tra về sự liên quan giữa các trường hợp VNNB và tỷ lệ
lợn có kháng thể kháng vi rút VNNB bằng kỹ thuật ức chế ngưng kết hồng cầu
cho thấy chúng có mối liên quan mật thiết tỷ lệ thuận: ở những nơi tỷ lệ kháng
thể kháng vi rút VNNB thấp khoảng 50 % trong quần thể lợn thì không phát
hiện được trường hợp nào bị VNNB [8, 52, 55].
Hiện tại, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB, nên điều trị triệu
chứng là chủ yếu. Do vậy, phòng bệnh VNNB là biện pháp tốt nhất. Về nguyên
lý, phòng bệnh là cắt đứt một trong ba mắt xích của dây chuyền dịch tễ: ổ chứa
vi rút (chim, lợn), vec-t
ơ truyền bệnh (các loài muỗi Culex) và đối tượng cảm
nhiễm người [29, 36, 38, 78]. Trên thực tế, loại trừ vi rút từ ổ chứa không thể
kiểm soát được vì các loài chim di cư bị nhiễm vi rút sẽ mang các vi rút từ vùng
này đến vùng khác, mặt khác những nghiên cứu gần đây cũng đã chứng minh vi
rút VNNB tồn tại ở chim qua mùa đông [38, 45, 54, 78]; việc tiêm phòng văc-
xin cho đàn lợn cũng khó thực hiện vì sự luân chuyển liên t
học, kháng thể xuất hiện trong dịch não tủy để diệt trừ vi rút, bảo vệ hệ thần
kinh trung ương trước sự tấn công của vi rút. Do vậy, hiệu giá kháng thể kháng
vi rút VNNB trong dịch não tủy thường cao hơn trong máu [3, 6, 16, 22, 37, 45,
51]. Trong trường hợp nhiễm ẩn (hoặc tiêm phòng vắc-xin), vi rút VNNB
không xuất hiện trong hệ thống thần kinh trung ương nên cơ thể không có biểu
hiện bệnh lý gì và trong dịch não tủ
y không có kháng thể, nhưng sự nhiễm ẩn
được ghi nhận bằng sự có mặt của kháng thể đặc hiệu kháng vi rút VNNB trong
huyết thanh.
Có ít nhất 3 loại kháng thể được tạo ra sau khi nhiễm vi rút, đó là kháng
thể ức chế ngưng kết hồng cầu, kháng thể kết hợp bổ thể và kháng thể trung
hoà. Mỗi kháng thể có đặc trưng riêng về thời gian xuất hiện, sự gia tăng hiệu
giá, thời gian t
ồn tại và tính đặc hiệu. Tuy nhiên về bản chất kháng thể là các 16
globulin miễn dịch gồm 5 lớp, trong đó IgG và IgM là các kháng thể chiếm tỷ lệ
chủ yếu trong dịch thể. IgM xuất hiện sớm sau khi nhiễm vi rút và tồn tại
khoảng 30 - 90 ngày tuỳ theo nhiễm tiên phát hay nhiễm thứ phát. IgG xuất
hiện muộn hơn và tồn tại trong một thời gian khá dài có khi suốt đời. Do vậy
việc phát hiện được IgM kháng vi rút trong mẫu bệnh phẩm lâm sàng là bằng
chứng của sự mới nhiễm vi rút [22, 43, 45, 46, 51, 67, 86].
Trong chẩn đoán VNNB trước đây thường sử dụng kỹ thuật ức chế
ngưng kết hồng cầu, kỹ thuật kết hợp bổ thể. Tuy nhiên, để chẩn đoán bằng
những kỹ thuật này cần có cặp máu kép lấy trong khoảng thời gian nhất định
sau khi khởi bệnh. Do vậy, thường chỉ có khoảng 10 – 20 % số mẫu nhận được
đáp ứng yêu cầu cho chẩ
tuỳ theo t
ừng giai đoạn, trước những năm 1990, vi rút VNNB genotyp 1 chủ
yếu lưu hành ở Thái Lan, các chủng vi rút VNNB genotyp 1 được phân lập
phần lớn từ muỗi và lợn, chỉ có 5 chủng vi rút VNNB genotyp 1 được phân lập
từ bệnh nhân ở Thái Lan trong những năm 1970; ngược lại các chủng vi rút
VNNB genotyp 3 phân bố rộng rãi hơn ở hầu khắp các nước trong khu vực
châu Á. Đây chính là cơ sở để lựa chọn chủng vi rút VNNB thuộc genotyp 3 để
sả
n xuất vắc-xin VNNB để phòng bệnh trên thế giới [19, 26, 31, 42, 47, 57, 64,
66, 68, 80].
Trong những năm gần đây, sự lan rộng của vi rút VNNB đã được xác
định bằng kết quả phân lập vi rút ở những vùng trước đây bệnh VNNB không
được ghi nhận như miền bắc nước Úc, hoặc có sự mới xuất hiện vi rút VNNB
genotyp 1 ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên và miền bắc Việt Nam. Lý do cho sự
lan rộng của vi rút VNNB và mới xu
ất hiện của vi rút VNNB genotyp 1 cho đến
nay có nhiều giả thiết, một trong những giả thiết đó là do chim di cư, nhưng cho
đến nay vẫn chưa có công bố nào về kết quả phát hiện được vi rút VNNB từ các 18
loài chim di cư [26, 42, 50, 56, 61, 62, 68, 80, 88]. Việc chưa tìm ra câu trả lời
thoả đáng cho sự lan rộng và mới xuất hiện của vi rút VNNB ở nhiều nước là
một lo ngại cho việc phòng bệnh trong tương lai.
2.1.2. Nghiên cứu vắc-xin VNNB, các loại vắc-xin hiện nay đang sử dụng,
hướng dự kiến cho vắc-xin VNNB toàn cầu.
Vi rút VNNB gây HCNC có tỷ lệ tử vong và di chứng cao nên nghiên
cứu sản xuất vắc-xin phòng bệnh được Mitamura và cộng sự
Như vậy, chỉ cần tiêm nhắc lại lần thứ hai là
đảm bảo có miễn dịch suốt đời, giá
thành một liều vắc-xin thấp [18, 38, 46, 66, 77, 78, 81]. Vắc-xin bất hoạt ưu
điểm an toàn, nhưng kháng thể tạo ra bởi vắc-xin thường giảm dần theo thời
gian, nên sau khi tiêm đủ 3 liều cơ bản cần có sự tiêm nhắc lại khoảng 3 - 4
năm / lần cho đến khi trẻ 15 tuổi. Mặt khác giá thành một liều vắc-xin bất hoạt
tinh khiết sản xuấ
t từ não chuột thường cao. Do vậy, cho đến nay mới chỉ có
một số nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Nam Triều Tiên sử dụng
vắc-này rộng rãi để khống chế bệnh. Vắc-xin sống giảm độc lực có ưu điểm là
tạo được miễn dịch bền vững sau khi tiêm, tuy nhiên vắc-xin này mới chỉ được
công nhận ở cấp quốc gia, chưa
được quốc tế công nhận, nên hiện tại vắc-xin
mới được sử dụng ở một số nước Trung Quốc, Nepal và Triều Tiên, cho thấy
cần tiến hành thử nghiệm vắc-xin này ở nhiều nước khác ở châu Á như Việt
Nam, Thái Lan để xác định lại phản ứng phụ và hiệu quả bảo vệ của vắc-xin
[29, 66, 78, 81, 84]. Như vậy nguồn vắc-xin VNNB rất phong phú, tuy nhiên để
khống ch
ế bệnh VNNB ở khu vực châu Á, rất cần có một loại vắc-xin phòng
VNNB an toàn, có số lượng lớn đáp ứng nhu cầu sử dụng và là vắc-xin có tính
miễn dịch cao trong cả đời tiêm không quá hai liều.
2.1.3. Điểm lại các nước đã khống chế bệnh VNNB bằng vắc-xin:
Nếu không có vắc-xin, bệnh VNNB có thể là một trong những vấn đề y
tế nghiêm trọng nhất ở châu Á. Giám sát bệnh VNNB trước và sau tiêm phòng
vắc-xin VNNB ở một số nước như Nhật Bản, Triều Tiên là một minh chứng
cho nhận định này. Ở Triều Tiên, trước khi sử dụng vắc-xin phòng bệnh (1949 20