Nội luật hoá các điều ước quốc tế việt nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13


BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

“NỘI LUẬT HÓA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VIỆT NAM
KÝ KẾT VÀ THAM GIA PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ”

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TIẾN SỸ HOÀNG PHƯỚC HIỆP
PHÓ CHỦ NHIỆM: TIẾN SỸ TRẦN DUY THI
THẠC SỸ NGUYỄN KHÁNH NGỌC
THƯ KÝ ĐỀ TÀI: CỬ NHÂN NGUYỄN MINH QUÂN

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TIẾN SỸ HOÀNG PHƯỚC HIỆP
PHÓ CHỦ NHIỆM: TIẾN SỸ TRẦN DUY THI
THẠC SỸ NGUYỄN KHÁNH NGỌC
THƯ KÝ ĐỀ TÀI: CỬ NHÂN NGUYỄN MINH QUÂN

Hà Nội 02-2007
DANH SÁCH BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI Chủ nhiệm: TS. Hoàng Phước Hiệp, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc
tế, Bộ Tư pháp;
Phó chủ nhiệm: Tiến sỹ Trần Duy Thi, Vụ trưởng Vụ Luật pháp và Điều
ước Quốc tế, Bộ Ngoại giao;
Thạc sỹ Nguyễn Khánh Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp
luật Quốc tế, Bộ Tư pháp;
Thư ký: Cử nhân Nguyễn Minh Quân, Chuyên viên Vụ Pháp luật
Quố
c tế, Bộ Tư pháp.
DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN


III. Nhu cầu kinh tế xã hội và địa chỉ áp dụng 10
IV. Phương pháp nghiên cứu 11
VI. Cơ cấu của báo cáo phúc trình 11
PHẦN II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ NỘI LUẬT
HÓA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
13
I. Lý luận chung về điều ước quốc tế và nội luật hóa điều ước quốc tế trong lĩnh
vực hội nhập kinh tế quốc tế
13
II. Lý luận về nội luật hóa các điều ước quốc tế và nội luật hóa các điều ước quốc
tế trong lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế
18
PHẦN III: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐIỀU
ƯỚC QUỐC TẾ VÀ NỘI LUẬT HÓA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG
LĨNH VỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 23
I. Pháp luật và thực tiễn Hoa Kỳ về điều ước quốc tế và nội luật hóa các Hiệp
định của Vòng Uruguay
23
II. Pháp luật và thực tiễn của Canada về điều ước quốc tế và nội luật hóa các
Hiệp định WTO
31
III. Pháp luật và thực tiễn của Hàn Quốc về điều ước quốc tế và nội luật hóa các
Hiệp định của WTO
36
IV. Pháp luật và thực tiễn của Cộng hoà Pháp và Liên minh Châu Âu (EU) về
điều ước quốc tế và nội luật hóa các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hội nhập
kinh tế quốc tế
38
V. Pháp luật và thực tiễn của Nhật Bản về điều ước quốc tế và nội luật hóa các

87
3. Lý luận chung v
ề quan hệ qua lại giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong
nước 96
4. Tổng quan các quan điểm lý luận và ý kiến khoa học về nội luật hóa phục vụ quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế 119
5. Tổng quan các quan điểm lý luận, ý kiến khoa học khác nhau ở các nước về thực
hiện điều ước quốc tế và nội luật hóa các đi
ều ước quốc tế 128
6. Mô hình cần chọn về chuyển hoá các quy định của điều ước quốc tế vào pháp luật
quốc gia 136
7. Pháp luật Hoa Kỳ về điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại và kinh nghiệm
của Hoa Kỳ thi hành các Hiệp định của Vòng Urugoay 142
8. Kinh nghiêm thi hành vòng Urugoay của một số nước (Canada, Hàn
Quốc) 158
9. Pháp luật của Pháp và Liên minh Châu ÂU (EU) về
điều ước quốc tế và nội luật
hóa điều ước quốc tế 171
10. Pháp luật và thực tiễn một số nước ASEAN về điều ước quốc tế và nội luật hóa
điều ước quốc tế 178
11. Kinh nghiệm của Nhật Bản về Nội luật hóa các Điều ước Quốc tế 186
12. Pháp luật và thực tiễ
n Việt Nam về điều ước quốc tế và nội luật hóa điều uớc quốc
tế trong lĩnh vực đầu tư 194
13. Pháp luật và thực tiễn Việt Nam về điều ước quốc tế và nội luật hóa điều uớc quốc
tế trong lĩnh vực thương mại 217

14. Pháp luật và thực tiễn Việt Nam về điều ước quốc tế và nội luật hóa điều uớc quốc
tế trong lĩnh vực thuế 257
15. Thực tiễn Việt Nam về nội luật hóa các quy định về giải quyết tranh chấp thương

NT Đối xử quốc gia
NTM Các biện pháp phi thuế quan
SCM Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
SPS Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động vật và thực vật
TRIPS Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên
quan đến thương mại
URAA Luật thi hành các hiệp định Vòng Uruguay của Hoa Kỳ PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc ký kết, gia nhập các điều
ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại đã trở thành nhu cầu bức xúc
của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng. Các hiệp định thương mại
tự do, liên minh, liên kết kinh tế khu vực và song phương đã và đang thu hút
sự quan tâm rất l
ớn của các quốc gia.
Để thúc đẩy quá trình phát triển này, các nước đã xây dựng một hệ thống
những văn bản pháp lý quan trọng làm cơ sở cho việc ký kết và thực hiện các
điều ước quốc tế. Công ước Viên về luật điều ước quốc tế, thực tiễn giải thích
và áp dụng các điều ước quốc tế tại các cơ chế giải quyết tranh chấ
p như Tòa
án quốc tế, Liên Hợp quốc, WTO ngày càng có vai trò quan trọng trong quá
trình đó. Tuy nhiên, do pháp luật của các quốc gia đa dạng nên thực tiễn thi
hành các điều ước quốc tế tại các quốc gia có khác nhau: có quốc gia đặt ra
yêu cầu phải thực hiện điều ước quốc tế bằng cách cho áp dụng trực tiếp các
quy phạm của điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập, có quố
c gia đặt ra
yêu cầu áp dụng gián tiếp các điều ước quốc tế đó thông qua một quá trình

pháp luật và thực tiễn của Việt nam và các nước trong lĩnh vực điều ước quốc
tế có ý nghĩa quan trọng. Một trong những vấn đề phức tạp ở đây cần nghiên
cứu là vấn đề nội luật hoá các điều ước quốc tế trong điều kiệ
n cụ thể của Việt
Nam.
Trên thực tế, đã có một số toạ đàm, bài viết về các vấn đề khác nhau liên quan
đến đề tài nội luật hoá các điều ước quốc tế. Tuy nhiên chưa có một đề tài
nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập nhằm phục vụ quá trình h
ội nhập kinh tế
quốc tế.
Chính vì vậy việc chọn đề tài về nội luật hoá các điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là cần thiết, góp phần xây dựng cơ chế thực
hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1. Đề tài có mục tiêu tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở khoa học
pháp lý (trong nước và quốc tế) về điều ước quốc tế và nội luật hóa các điều
ước quốc tế; đánh giá thực trạng khuôn khổ pháp luật Việt Nam và thực tiễn
nội luật hóa các điều ước quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh
t
ế quốc tê; xác định các yêu cầu đạt được trong quá trình nội luật hóa các điều
ước quốc tế nhằm phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Đề tài đặt ra yêu cầu nghiên cứu pháp luật và thực tiễn điều ước quốc
tế và nội luật hóa các điều ước quốc tế của Việt Nam và các nước để từ đó
kiến nghị về c
ơ chế, mô hình và cách thức nội luật hóa các điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập phục vụ tốt hơn cho quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
3. Đề tài có phạm vi nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực hiện điều ước

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đó là các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, có chú ý
đến phương pháp so sánh, phân tích pháp luật, tọa đàm chuyên đề, điều tra
khảo sát thực tiễn
- Việc thăm dò ý kiến dư luận xã hội, thu th
ập ý kiến phản biện xã hội
được tiến hành trong phạm vi kinh phí cho phép.
VI. CƠ CẤU CỦA BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Báo cáo phúc trình của Đề tài gồm năm phần chính:
Phần I: Phần mở đầu
Phần II: Lý luận chung về điều ước quốc tế và nội luật hoá điều ước
quốc tế trong lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế
Phần này tập trung trình bày một số vấ
n đề về lý luận chung về điều
ước quốc tế và nội luật hóa các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hội nhập kinh
tế quốc tế
Phần III: Pháp luật và thực tiễn của một số nước về điều ước quốc tế
và nội luật hóa các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hội nhập kinh tế
quốc
tế
Phần này tập trung phân tích pháp luật và thực tiễn của một số nước
điển hình thuộc hệ thống Common law và Civil law liên quan đến điều ước
quốc tế và nội luật hoá các điều ước quốc tế làm cơ sở tham khảo có chọn lọc
cho việc xử lý vấn đề này ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
;
Phần IV: Pháp luật và thực tiễn Việt Nam về điều ước quốc tế và các
vấn đề về nội luật hóa điều ước quốc tế trong lĩnh vực hội nhập kinh tế
quốc tế


thiếu của nó trong quan hệ liên quố
c gia với tính cách là nguồn cơ bản của
pháp luật quốc tế, là “chất keo” kết nối giữa các chủ thể của pháp luật quốc tế.
Một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế đó là Luật điều ước quốc tế.
Luật điều ước quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh
trình t
ự ký kết, điều kiện hợp pháp, có hiệu lực và chấm dứt hiệu lực điều ước
quốc tế. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng trong mọi lĩnh vực đời sống
quốc tế thì vai trò đặc biệt của luật điều ước ngày càng lớn, bởi vì chính nó là
công cụ gắn kết quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.
Vấn đề pháp điể
n luật điều ước quốc tế được thảo luận khá sớm, song chỉ
trong khuôn khổ Liên hợp quốc tới năm 1969 mới soạn thảo và thông qua
được Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế và mãi đến năm 1980 Công
ước này mới có hiệu lực. Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế đã
pháp điển hóa và phát triển hàng loạt các quy phạm vốn là t
ập quán quốc tế
trong lĩnh vực điều ước quốc tế. Điều 1 của Công ước quy định rõ: “Điều ước
là từ dùng để chỉ một thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các
quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế và được pháp luật quốc tế
điều chỉnh, dù được ghi nhận trong mộ
t văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay
nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.
Mặc dù đã được định nghĩa như vậy, nhưng cách hiểu và giải thích về nó
cũng như áp dụng trên thực tế hầu như chưa có sự thống nhất trong các quốc
gia thành viên, kể cả các quốc gia chưa phải là thành viên của Công ước.
Cách hiểu của Việt Nam về khái ni
ệm điều ước quốc tế cũng không hoàn toàn
nhất quán. Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc
tế năm 1998, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

qua văn bản điều ước bằng hội nghị quốc tế hoặc cơ quan được ủy nhiệm
của tổ chức quốc tế.
- Giai đoạn thứ hai: công nhận hiệu lực bắt buộ
c của các quy phạm điều ước.
Nó bao gồm tất cả các hành vi cụ thể riêng biết của các quốc gia. Các hành vi
này phụ thuộc vào quy định cụ thể các điều kiện ghi trong điều ước và được
biểu hiện bằng nhiều cách như: ký, phê duyệt, phê chuẩn, thông qua Vấn đề
gia nhập điều ước quốc tế cũng có thể nằm trong giai đoạn này hoặc nằm ở
một công đoạn độc lập với giai đoạn ký kết nói trên tùy thuộc vào từng hoàn
cảnh cụ thể.
- Ký điều ước quốc tế:
phụ thuộc vào từng điều ước cụ thể, việc ký điều ước
quốc tế có thể là kết thúc quá trình ký kết (nếu điều ước có hiệu lực từ thời
điểm ký) hoặc chỉ là một trong các giai đoạn ký kết (nếu như điều ước còn
cần phải phê chuẩn hoặc phê duyệt).
Ký tắt (paraphé) là ký của các vị đại diện vào vă
n bản dự thảo điều ước để xác
nhận văn bản đó là văn bản đã được thỏa thuận; sau ký tắt cần phải ký đầy đủ
hoặc ký ad referendum.
Ký ad referendum là ký của vị đại diện dưới điều kiện có sự đồng ý tiếp sau
đó của cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật trong nước. Ký ad referendum
khác ký tắt ở chỗ, nếu ký ad referendum được cơ quan có thẩm quy
ền của các
bên tỏ rõ ý tán thành thì không phải ký đầy đủ nữa, còn ký tắt chỉ là một bước
để tiến tới ký đầy đủ. Ký đầy đủ (ký chính thức) - làm cho văn bản dự thảo

điều ước trở thành văn bản pháp lý thể hiện ý chí của các bên tham gia điều
ước.
- Phê chuẩn điều ước quốc tế:
là việc cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước

nhau phê duyệt mà không cần phải phê chuẩn để điều ước quốc tế có hiệu lực
thi hành. Phê duyệt điều ước là hành vi biểu hiện sự đồng ý ràng buộc của
quốc gia vào điều ước quốc tế nào đó. Khác với phê chuẩn, việc phê duyệt
điều ướ
c thường được tiến hành tại cơ quan hành pháp tối cao của nhà nước.
Phê duyệt điều ước và phê chuẩn điều ước, về nguyên tắc đều giống nhau, đều
là hành vi biểu hiện sự đồng ý ràng buộc của một nước với một điều ước nào
đó. Song cần phân biệt phê duyệt điều ước với khái niệm thông qua văn bản
điều ước. Phê duy
ệt điều ước có nghĩa là Chính phủ hoặc một cơ quan hành
pháp có thẩm quyền cụ thể chuẩn y điều ước đó, nếu như điều ước liên quan
tới thẩm quyền của họ và không cần trình lên cấp cao hơn như Quốc hội. Còn
thông qua văn bản điều ước có thể là hành vi cần thiết cho việc ký chính thức
văn bản điều ướ
c quốc tế.

- Gia nhập điều ước quốc tế.

Gia nhập điều ước quốc tế là việc một chủ thể của luật quốc tế thể hiện rõ
ràng sự đồng ý ràng buộc mình với các quyền và nghĩa vụ của một điều ước
quốc tế nhiều bên. Gia nhập điều ước quốc tế phải được thể hiện rõ theo các
quy định cụ thể của điều ước qu
ốc tế nhiều bên đó. Còn điều ước nào được
gia nhập, điều ước nào không được gia nhập thì lại phụ thuộc vào quy định cụ
thể của từng điều ước hoặc phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các thành viên
của điều ước.
Những quốc gia gia nhập phải chấp nhận những điều khoản của điề
u ước theo
những quy định và thủ tục cụ thể của điều ước đó, không có quyền thêm nội
dung mới vào điều ước đó khi gia nhập, song lại có quyền bảo lưu những điều

không có quyền viện dẫn luật nước mình (trật tự công cộng nước mình hoặc
chưa có quy định trong nước)
để không thực hiện điều ước quốc tế.
Qua phân tích ở trên cho thấy nguyên tắc Pacta sunt servanda là nguyên tắc
nền tảng của pháp luật quốc tế hiện đại và nguyên tắc này bảo đảm cho việc
các điều ước quốc tế thực hiện. Theo nguyên tắc này, các quốc gia phải có
nghĩa vụ tận tâm thực hiện hết khả năng các cam kết quốc tế của mình.

Pháp luật quốc tế nói chung không quy định cụ thể quốc gia cần phải thực
hiện điều ước quốc tế bằng cách thức nào, hay nói cách khác các quốc gia
toàn quyền có thể tự do lựa chọn các cách thức để thực hiện điều ước, miễn là
điều ước quốc tế được thực hiện một cách tận tâm và đầy đủ. Ngoại lệ ở đây
là khi các qu
ốc gia thành viên điều ước có thoả thuận cụ thể về một cách thức
nào đó sẽ được sử dụng để thực hiện một điều ước cụ thể hoặc có khuyến
nghị hay đề xuất về khả năng sử dụng cách thức thực hiện nào đó.
2. Hệ thống các điều ước quốc tế của Việt Nam liên quan đến h
ội nhập
kinh tế quốc tế
Trong những năm gần đây, số lượng các điều ước các điều ước quốc tế mà
Việt nam ký kết và gia nhập ngày càng có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo
tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
(1998-2005), Việt Nam đã ký kết, gia nhập hơn 700 điều ước quốc tế (ch
ưa kể
các điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa bộ, ngành). Chỉ tính riêng 10
năm gần đây, số lượng điều ước quốc tế của Việt Nam ký kết đã bằng số
lượng của gần 50 năm trước đó. Trong đó, các điều ước quốc tế liên quan đến
hội nhập kinh tế quốc tế chiếm mộ
t phần không nhỏ.
Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế

trong nước và thi hành điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật
trong nước vốn là quy phạm của điều ước quốc tế đó. Quá trình chuyển hóa
đó thường được gọi là chuyển hóa điều ước quốc tế hoặc nội luật hóa các điều
ước quốc tế.
b) Ở Việt Nam, có nhiều ý kiến khác nhau về "nội luật hóa". Có th

nêu lên hai cách hiểu khái niệm nội luật hoá sau đây:
- Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc
của điều ước quốc tế. Như vậy, theo quan điểm này thì nội luật hóa dường
như đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của
điều ước.
Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước chấp nhận sự ràng buộc
của điều ước quốc tế thì các quy định của điều ước có giá trị pháp lý và được
áp dụng trên lãnh thổ quốc gia. Việc có thêm hoạt động lập pháp trong nước
tiếp theo là hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan hành pháp. Điều đó có nghĩa là
văn bản được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quy
ền chấp nhận sự
ràng buộc hiệu lực pháp lý của điều ước (văn bản phê chuẩn, phê duyệt )
được coi là văn bản nội luật hóa, làm cho điều ước quốc tế đó có hiệu lực thực
thi như văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
- Cách hiểu thứ hai cho rằng nội luật hoá và quá trình chấp nhận hiệu
lực pháp lý của điều ước qu
ốc tế là hai khái niệm pháp lý khác nhau và có
mối quan hệ tương đối độc lập với nhau: việc chấp nhận hiệu lực pháp lý của
điều ước là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất các thủ tục
pháp lý trong nước và thông qua đó thể hiện việc quốc gia tham gia điều ước
chấp nhận việc áp dụng các quy định của điều ước đó đối với mình. Trong khi
đó, n
ội luật hoá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các


Quá trình nội luật hóa có thể diễn ra sớm hoặc muôn hơn quá trình thực
hiện điều ước quốc tế. Nó có thể được diễn ở các giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn tạo lập thỏa thuận ý chí của các quốc gia hay các chủ thể
khác của luật quốc tế.
Hoạt động nội luật hóa ở giai đoạn này có thể là các hành vi cụ thể như
:
soạn thảo văn bản pháp luật trong nước có nội dung pháp lý thống nhất với
nội dung pháp lý của dự thảo điều ước quốc tế đã được các bên tạo lập. Bên
cạnh đó, giai đoạn này nếu không có việc soạn thảo văn bản trong nước thì
cũng có thể có hoạt động cho phép xác định nội dung pháp lý cần nội luật hóa
- Giai đoạn công nhận hiệu lự
c bắt buộc của các quy phạm điều ước.
Hoạt động nội luật hóa ở giai đoạn này có thể gồm nhiều hành vi cụ thể
riêng biết của các quốc gia. Các hành vi này phụ thuộc vào quy định cụ thể
các điều kiện ghi trong điều ước và được biểu hiện bằng nhiều cách như: ban
hành văn bản, phê duyệt, phê chuẩn, gia nhập, thông qua các văn bản quy
phạm pháp luậ
t trong nước có nội dung pháp lý thống nhất với nội dung pháp
lý của điều ước quốc tế đã được ký kết
Có thể nói vấn đề nội luật hóa đích thực bắt đầu từ giai đoạn này. Do
vậy, việc chuyển hóa các quy định của điều ước quốc tế phải bắt đầu từ các
thao tác cụ thể của cơ quan có thẩm quyền của n
ước ký điều ước quốc tế đó,
phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế. Trong nhiều trường hợp, văn
kiện phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập được coi là văn kiện nội luật hóa
điều ước quốc tế. Nó là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong nước thực hiện các điều ước quốc tế c
ụ thể đó.
- Giai đoạn thực hiện điều ước quốc tế.

thể trong nước.
d) Đặc điểm quan hệ so sánh giữa điều ước quốc tế, pháp luậ
t trong
nước và quá trình nội luật hóa.
Đây là vấn đề thường bị nhầm lẫn, thường bị bỏ qua trong nghiên cứu
quan hệ tương tác giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Trong lý luận
pháp luật quốc tế, có các ý kiến khác nhau về mối quan hệ giữa hai hệ thống
pháp luật này, có quan điểm quá nghiêng về trường phái nhất nguyên luận (hệ
thống này là bộ phận của hệ thống kia), có quan điểm lại ở vào tình tr
ạng
dung hòa, nghiêng về trường phái nhị nguyên luận (hai hệ thống đó độc lập
với nhau nhưng có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau). Chính những
người có quan điểm theo nhị nguyên luận là những người quan tâm nhiều hơn
về vấn đề chuyển hóa hay nội luật hóa điều ước quốc tế để thi hành.
3. Các mô hình nội luật hóa các điều ước quốc tế ở Vi
ệt Nam
a) Các tiêu chí để xác định mô hình
:
Có nhiều tiêu chí khác nhau có thể được lựa chọn để xây dựng mô hình nội
luật hóa các điều ước quốc tế. Trong phạm vi Đề tài này, có thể nêu lên các
nhóm tiêu chí sau và phù hợp với chúng là các mô hình tương ứng:

- Nhóm tiêu chí cơ bản là các nghĩa vụ cơ bản của Việt Nam theo các cam kết
trong lĩnh vực cần có nội luật hóa. Các tiêu chí này có thể phân ra thành các
tiểu nhóm theo nội dung đã có trong pháp luật Việt Nam và chưa có trong
pháp luật Việt Nam. Theo tiểu nhóm nội dung đã có trong pháp luật Việt Nam
thì có những nội dung phù hợp và có những nội dung trái, chưa phù hợp với
pháp luật Việt Nam.
- Nhóm những tiêu chí bổ sung (để làm hoàn thiện mô hình) là các nghĩa vụ
không cơ bản và các quy

ốc gia.
Trong khi đó, mô hình cải lương thì tạo lập từ từ, theo từng mảng vấn đề của
pháp luật trong nước, dần dần đưa điều ước quốc tế vào thực thi trong nước.
Áp dụng mô hình cách mạng có mặt không lợi là dễ dẫn đến những hậu quả
nhất định trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là những cam kế
t
quốc tế liên quan trực tiếp đến cuộc sống của đông đảo người dân. Trong khi
đó, áp dụng mô hình cải lương có thể không bị xáo trộn đời sống kinh tế - xã
hội, nhưng có thể phải tốn nhiều thời gian, mất cơ hội trong kinh doanh quốc
tế, làm giảm niềm tin của cộng đồng thương mại quốc tế vào nước ký kết điều
ước quốc tế
.

c) Các cách thức nội luật hóa

Có nhiều cách thức để nội luật hóa. Có thể nêu lên một số cách thức sau theo
mô hình nội luật hóa đã nêu:
- Thứ nhất, cách thức “một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật”. Đây là cách thức
được áp dụng theo mô hình “cách mạng” trong nội luật hóa điều ước quốc tế.
Thực tiễn nhiều nước áp dụng cách thức này trong nội luật hóa các cam kết
quốc tế trong lĩnh vực h
ội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn Việt Nam ta thời
gian qua cũng áp dụng một phần cách thức này.
- Thứ hai, cách thức tiến hành sửa đổi, bổ sung, ban hành mới từng văn bản
quy phạm pháp luật để thực thi điều ước quốc tế như Việt Nam ta vẫn làm.
Cách thức này được áp dụng theo mô hình cải lương, chuyển hóa từ từ điều
ước quốc t
ế. Trong một số trường hợp, việc nội luật hóa các điều ước quốc tế
để thi hành còn có thể được thực hiện theo cách thức ban hành một số văn bản
hướng dẫn thi hành của các cơ quan hành pháp, đặc biệt là ban hành các quyết

1. Pháp luật về điều
ước quốc tế và điều ước quốc tế trong lĩnh vực hội
nhập kinh tế quốc tế
Hoa kỳ có thể chế pháp luật và thực tiễn thi hành các điều ước quốc tế
1
khá
phức tạp về nhiều khía cạnh, từ thẩm quyền, thủ tục đến việc phải dung hoà
các quyền lợi khác nhau của các đảng phái chính trị trong nước. Bản thân các
cơ quan hành pháp Hoa Kỳ khi đàm phán, ký và thực hiện các điều ước quốc
tế có thể bị kiện ra toà án trong nước vì có vi phạm các quy định của Hiến
pháp
2
hoặc luật của Quốc hội. Một thực tế gần đây cho thấy Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) đã ra quyết định về một số quy định nhất định của pháp
luật thương mại Hoa kỳ, đặc biệt là quy định về chống bán phá giá, không
phù hợp với các nghĩa vụ của Hoa kỳ tại WTO, cho dù Hoa kỳ là nước tham
gia nhiều nhất vào các tranh chấp th
ương mại quốc tế. Hoa kỳ là nước có
quan điểm khá rõ ràng về vấn đề nội luật hóa các quy định của điều ước quốc
tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế và là nước theo trường phái nhị nguyên
luận cho dù trong thực tiễn thì ưu tiên áp dụng pháp luật trong nước khi pháp
luật Hoa Kỳ và điều ước quốc tế mà Hoa Kỳ là thành viên có quy định khác
nhau.
Vấn đề thẩ
m quyền ký kết các điều ước quốc tế tại Hoa Kỳ là điểm được trao
đổi, tranh luận nhiều từ góc độ lý luận và thực tiễn. Có không ít vụ kiện liên
quan đến vấn đề này. Sự phức tạp không chỉ ở vấn đề thẩm quyền giữa các cơ
quan hành pháp và cơ quan lập pháp mà còn giữa chính quyền liên bang và
chính quyền bang. Trong nhiều trường hợp, các bên đã phải nhờ đến toà án
can thi

Hoa kỳ.
Có 5 thủ tục cơ bản được quy định cho việc đàm phán và thi hành các điều
ước quốc tế của Hoa kỳ
4
, và tương ứng với chúng là 5 loại điều ước quốc tế
5
:
- Thứ nhất, thủ tục đàm phán một điều ước quốc tế sau đó cần có 2/3 số phiếu
của Thượng nghị viện ủng hộ phê chuẩn điều ước này theo các quy định của
Hiến pháp;
- Thứ hai, Tổng thống có thể cho phép đàm phán một điều ước quốc tế để thi
hành chi tiết một hiệp ước đã được ký kết;
- Th
ứ ba, Tổng thống có quyền ký kết các "hiệp định hành pháp" để thực thi
quyền hạn của mình trong quan hệ đối ngoại mà không cần có sự tham gia
hay cho phép của Quốc hội. Tuy nhiên, thủ tục này không được áp dụng đối
với các hiệp định thương mại vì Hiến pháp quy định cụ thể là Quốc hội có
quyền "quy định và thu thuế xuất nhập khẩu và "đặt ra các quy định đối với
thương mại v
ới nước ngoài" (Điều I, khoản 8, Hiến pháp hoa kỳ).
- Thứ tư, Tổng thống đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế với sự uỷ
quyền của Quốc hội. Điều này có thể thấy rõ qua quy định tại Điều 101 của
Luật Thương mại 1974;
- Thứ năm, Tổng thống đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế vớ
i sự phê
chuẩn và nội luật hoá các điều khoản của điều ước quốc tế sau khi được ký,
điều này được nói đến trong Luật về các Hiệp định Bretton Woods.
Như vậy, để đàm phán và thực hiện các hiệp định thương mại thì Tổng thống
cần có sự hợp tác từ Quốc hội theo cách thứ tư hoặc thứ năm.
Chính vì sự hợp tác giữa T

sau đó phải được nội luật hoá thông qua việc Quốc hội ban hành luật trên cơ
sở có sự đồng thuận của cả hai Viện Quốc hội.
Với lịch sử dài của các điều ước quốc tế liên hành pháp và l
ập pháp như trên
thì điều ước quốc tế thương mại thường được ký kết không theo con đường
của một hiệp định. Tuy nhiên, việc lựa chọn đàm phán và ký kết một điều ước
quốc tế về thương mại theo thủ tục nào là một quyết định chính trị, trừ một
ngoại lệ là các Hiệp định song phương của Hoa kỳ về đầu tư
(BIT) phải được
đàm phán và thi hành theo thủ tục các hiệp ước với sự phê chuẩn của Thượng
nghị viện. Mặc dù vậy, khi Vòng đàm phán Uruguay kết thúc, vấn đề thẩm
quyền đàm phán và thi hành các hiệp định của Vòng này lại một lần nữa là
chủ đề gây nhiều tranh cãi vì hai lý do chủ yếu là việc thành lập WTO và cơ
chế giải quyết tranh chấp mới của WTO có tác động lớn tới chủ quy
ền quốc
gia của Hoa kỳ (đây là một trong các lý do quan trọng đem lại sự đổ vỡ của
Tổ chức Thương mại Quốc tế năm 1947). Ngoài ra, các hiệp định của Vòng
này cũng có tác động lớn tới thẩm quyền của các bang. Đã có những đề xuất
của một số Nghị sĩ Quốc hội về việc Thượng nghị viện phê chuẩn các hiệp
đị
nh này như các hiệp ước của Hoa kỳ. Tuy nhiên, thực tiễn đi theo hướng các
hiệp định này được phê chuẩn và cho thi hành như các hiệp định liên hành
pháp và lập pháp.
Tìm hiểu pháp luật Hoa kỳ về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế nói chung
và điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại nói riêng cho thấy có sự phức
tạp do có việc thay đổi quyền lực của Tổ
ng thống và Quốc hội về vấn đề này.
Trước năm 1934 chính sách thương mại của Hoa kỳ về đại thể nằm trong tay
Quốc hội, các mức thuế nhập khẩu được ghi cụ thể trong luật và Hoa kỳ
không đàm phán các vấn đề thuế cụ thể. Với uỷ quyền của Quốc hội lúc đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status