BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
Chủ nhiệm: PGS.TS Dương Đăng Huệ
Phó CN: TS Nguyễn Viết Tý
Thư ký: TS Trần Thị Thơ
3. TS Nguyễn Văn Cừ - Trường Đại học Luật Hà Nội
4. TS Phùng Trung Tậ
p - Trường Đại học Luật Hà Nội
5. TS Phạm Công Lạc - Trường Đại học Luật Hà Nội
6. TS Nguyễn Huy Anh - Vụ III - Văn phòng Chính phủ
7. ThS Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
8. ThS Nguyễn Chi Lan - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp
9. Cử nhân Nguyễn Thị Mai - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp
10. Cử nhân Cao Đăng Vinh - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp
11. Cử nhân Nguyễn Thị Chính - Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp
trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
22
Chương 2
Thùc tr¹ng ph¸p luËt vÒ së h÷u ë ViÖt Nam
2.1. Vai trò chủ đạo của Bộ luật Dân sự năm 2005 trong việc điều
chỉnh pháp luật về
sở hữu ở Việt Nam
40
2.1.1. Bộ luật Dân sự năm 2005 - nguồn cơ bản của pháp luật về sở
hữu ở Việt Nam
40
2.1.2. Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2005 về sở hữu so
với Bộ luật Dân sự năm 1995
41
2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu
ở
Việt Nam
50
2.2.1. Các hình thức sở hữu ở Việt Nam 50
2.2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu nhà nước 51
2.2.3. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tập thể 60
2.2.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tư nhân 64
2.2.5. Thực trạng điều chỉnh pháp luật
đối với sở hữu chung 66
Chương 3
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về sở hữu
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
3.2.4. Bảo đảm sự không phân biệt đối xử giữ
a các hình thức sở hữu 74
3.3. Một số kiến nghị cụ thể 74
3.3.1. Cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để thay thế hình thức sở hữu
toàn dân bằng hình thức sở hữu nhà nước
74
3.3.2. Cần làm rõ tiêu chí để xác định đúng các hình thức sở hữu đang
tồn tại ở nước ta
75
3.3.3. Cần làm rõ ngoài quyền sở hữu còn có các loại vật quyền khác
và mối quan hệ
giữa quyền sở hữu với các loại vật quyền khác
75
3.3.4. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về các loại vật quyền khác 76
3.3.5. Sửa đổi cơ bản cơ chế đăng ký quyền sở hữu và các hình thức
vật quyền khác
76
3.3.6. Cần đổi mới cơ bản cơ chế thực hiện chức năng (quyền) đại
diện chủ sở hữu Nhà nướ
c theo hướng thu hẹp và tiến tới không
còn chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh đối với công ty nhà nước
77
3.3.7. Cần tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của mô hình Công ty
đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước với tư cách là đại diện chủ
sở hữu nhà nước đối với phần vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại
các doanh nghiệp để thay thế chức năng đại diện chủ sở hữu của
bộ, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thời điểm thích hợp
77
3.3.8. Cần xem xét lại bản chất của sở hữu trong các hợp tác xã, nên
Viện Khoa học pháp lý -
Bộ Tư pháp
84
2.
Một số vấn đề về sở hữu ở nước
ta hiện nay
PGS. TS Dương Đăng Huệ -
Vụ Pháp luật DS, KT -
Bộ Tư pháp
98
3.
Pháp luật v
ề sở hữu ở Cộng hoà
liên bang Nga và bài học kinh
nghịêm đối với Việt Nam
PGS. TS Dương Đăng Huệ -
Vụ Pháp luật DS, KT -
Bộ Tư pháp
103
4.
Một số vấn đề về quyền sở hữu
trong Bộ luật Dân sự năm 2005
và hướng hoàn thiện
TS Hoàng Thị Thuý Hằng -
Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -
Bộ Tư pháp
114
5.
Sở hữu chung trong Bộ luật Dân
hộ gia đình, tổ chức ở Việt Nam:
Bản chất, nội dung và kiến nghị
hoàn thiện
Cử nhân Nguyễn Thị Mai -
Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -
Bộ Tư pháp
185
10.
Sở hữu theo pháp luật Việt Nam
thời kỳ phong kiến và thuộc địa -
khả năng vận dụng vào việc xây
dựng pháp luật về sở hữu dưới
chế độ XHCN
TS Nguyễn Huy Anh -
Vụ III - Văn phòng Chính phủ
205
11.
Sở hữu theo pháp luật của CHND
Trung Hoa
ThS Nguyễn Chi Lan -
Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -
Bộ Tư pháp
222
12.
Pháp luật v
ề sở hữu ở Cộng hoà
liên bang Đức
Cử nhân Nguyễn Thị Chính -
Vụ Pháp luật quốc tế -
Bộ Tư pháp
Tóm lại, quan hệ sở hữu có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
của bất cứ một quốc gia nào. Cũng chính vì vậy mà vấn đề sở hữu luôn được ghi nhận
một cách trang trọng trong Hiến pháp, bấ
t cứ là Hiến pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa
hay Hiến pháp của nhà nước tư bản chủ nghĩa.
Việc xác định quan hệ sở hữu một cách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ kinh tế (nhất là quan hệ trao đổi hàng hoá) phát
triển và ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế và kéo theo đó là sự
trì trệ của các quan hệ xã hội khác. Điều này đã được thực tế chứng minh rất rõ ở nhiều
nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
Nhà nước ta chỉ công nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân (sở hữu nhà
nước) và sở hữu tập thể. Các quy định này về sở hữu đã phát huy hiệ
u quả nhất định trong
thời kỳ đất nước có chiến tranh. Tuy nhiên, việc kéo dài quan điểm này về sở hữu sau khi
chiến tranh kết thúc đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội của đất nước gặp không ít khó
khăn. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là do tình trạng vô chủ trong
khu vực kinh tế tập thể và khu vực kinh tế quốc doanh. Sự vô chủ này (mà lý do chủ yếu
của nó là sự tách rời người lao
động ra khỏi quyền sở hữu của họ đối với tư liệu sản xuất
mà họ đang sử dụng để làm ra của cải vật chất cho xã hội) đã làm cho người lao động
không quan tâm đến năng suất, không hăng hái nhiệt tình trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, không gắn bó với hợp tác xã, xí nghiệp nơi mình đang làm việc. Hậu quả là, sản
xuất bị đình đố
n, đời sống vật chất và tinh thần của đa số người lao động đã rơi vào tình
cảnh khốn khó, nghèo nàn, lạc hậu, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm
trọng. Trong điều kiện đó, Chỉ thị số 100 (năm 1981) và Nghị quyết 10 (năm 1988) của
Đảng về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động và đổi mới quản lý nông
nghiệ
p đã phát huy tác dụng, biến Việt Nam từ một quốc gia thiếu ăn, đói kém triền miên
trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới.
ta đã có một bướ
c chuyển biến quan trọng: chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ hơn 20 năm qua, sự chuyển đổi này đã tạo nên nhiều thành tựu to lớn trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời với sự chuyển biến theo hướ
ng tích cực, thực tiễn
quản lý kinh tế cũng như thực tiễn sản xuất, kinh doanh cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận
mới, rất phức tạp. Nhiều vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra đã được giải quyết nhưng cũng
không ít vấn đề, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sở hữu, quyền sở hữu cho đến nay,
vẫn ch
ưa có câu trả lời thoả đáng. Ví dụ:
- Thế nào là chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, loại sở hữu? căn cứ khoa học để
phân biệt chúng với nhau là gì cho đến nay vẫn chưa được làm rõ;
- Liệu có nên giữ khái niệm sở hữu toàn dân nữa hay không bên cạnh khái niệm sở
hữu nhà nước?
- Liệu có còn khái niệm sở hữu tập thể nữa hay không hay đó chỉ là một d
ạng của
sở hữu pháp nhân?
- Làm thế nào để doanh nghiệp nhà nước với tư cách là một pháp nhân có quyền
chủ động hơn nữa trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được Nhà nước
giao?
- Quyền của doanh nghiệp nhà nước đối với tài sản được Nhà nước giao nên gọi là
quyền gì (quyền sở hữu hay quyền quản lý nghiệp vụ hay quyền vận hành kinh tế
như một
số nước (Nga) đã gọi) và mối quan hệ giữa nó với quyền sở hữu của Nhà nước nên thiết
lập lại như thế nào cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới?
- Ngoài quyền sở hữu còn có những quyền tài sản nào được gọi là vật quyền?
- Bản chất của quyền sử dụng đất là gì, nó có phải là một quyền sở hữu h
ạn chế
hay không? v.v
vấn đề về hình thức sở hữu. Tuy nhiên, các quy định về sở hữu, nhất là quy định về các
hình thức sở hữu vẫn còn chưa thực sự phù hợp với thực tế khách quan, chưa đảm bảo
tính khoa học, do đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện. Ví dụ: tại Điều 172 Bộ
luật Dân s
ự năm 2005 vẫn dùng phương pháp liệt kê trong việc xác định các hình thức sở
hữu (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp). Ngoài ra, trong khi
Hiến pháp năm 1992 vẫn giữ nguyên tên gọi là “sở hữu toàn dân” thì Bộ luật Dân sự năm
2005 đ
ã thay hình thức sở hữu này bằng một tên gọi khác là “sở hữu nhà nước”. Rõ ràng
đã có sự “vi hiến” trong Bộ luật Dân sự này. Sắp tới, để phục vụ cho cải cách hành chính,
cải cách tư pháp, chắc chắn Nhà nước ta sẽ phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Đây là một
công việc lớn, hệ trọng vì sửa đổi Hiến pháp có nghĩa là phải động chạm đến một loạt vấn
đề phức tạp, nền tảng, trong đó có vấn đề về sở hữu. Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề
về sở hữu hiện nay sẽ góp phần quan trọng vào việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp - một
hoạt động mang tính chất chính trị - pháp lý rất to lớn trong tương lai gần của Đảng và
Nhà nước ta. Và đó cũng là một lý do khiến cho vịêc nghiên cứu Đề tài này trở nên bức
xúc và bổ ích.
Tóm lại, việc nghiên cứu một cách cơ bản đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về các
hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” là một việc làm rất cần thiết, góp
phần giúp Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập một cách hợp lý các hình thức sở hữu cơ
bản ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc sửa đổi, bổ sung Hi
ến pháp và Bộ luật Dân sự
trong thời gian tới.
2. Mục tiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết ba mục tiêu cơ bản sau đây:
a) Nghiên cứu để phân biệt rõ các khái niệm, thuật ngữ như: chế độ sở hữu, hình
thức sở hữu, loại sở hữu vì những khái niệm này lâu nay được sử dụng mộ
t cách tuỳ tiện
này chỉ nghiên cứu quyền sở hữu tài sản ở phạm vi hẹp, chủ yếu là các tài sản hữu hình, ở
dạng hiện vật. Ngoài ra, Đề tài cũng chỉ nghiên cứu pháp luật liên quan đến các hình thức
sở hữu chủ yếu mà không đi sâu nghiên cứu pháp luật về tấ
t cả các hình thức sở hữu và
các dạng cụ thể của mỗi hình thức sở hữu, ví dụ: không nghiên cứu một cách cụ thể hai
loại sở hữu chung là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất hoặc trong hình
thức sở hữu nhà nước đề tài cũng chưa có điều kiện nghiên cứu đến sở hữu của cấp chính
quyền địa phương.
3. Khả
năng ứng dụng của sản phẩm nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ có ích cho các đối tượng sau:
- Sinh viên các khoa luật và trường đại học luật
- Giảng viên các khoa luật và trường đại học luật
- Các nghiên cứu sinh về pháp luật
- Những tổ chức, cá nhân khác cần nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề sở hữu
- Đặc biệt đề tài sẽ phục vụ đắc lự
c cho các cơ quan nhà nước (bộ, ngành, Chính
phủ, Quốc hội) trong việc định hướng chính sách, hoàn thiện pháp luật về sở hữu như: sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp (Luật Doanh
nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã), Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ
luật Dân sự.
4. Các chuyên đề cụ thể
Để đạt được các mục tiêu và nội dung nghiên cứu trên
đây, Ban chủ nhiệm đề tài
đã ký 14 hợp đồng nghiên cứu độc lập với các cộng tác viên là các nhà khoa học, công
chức lãnh đạo, giảng viên và các chuyên gia có bề dày kinh nghiệm công tác am hiểu lĩnh
vực về kinh tế, dân sự. Cụ thể như sau: 10
Chuyên đề 13: Sở hữu theo pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến và thuộc địa - khả
năng vận dụng vào việc xây dựng pháp luật về sở hữu dưới chế độ XHCN (TS Nguyễn
Huy Anh - V
ụ III - Văn phòng Chính phủ)
Chuyên đề 14: Sở hữu theo pháp luật của CHND Trung Hoa (ThS Nguyễn Chi Lan -
Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)
5. Tiến độ thực hiện
Đề tài bắt đầu được triển khai từ tháng 4/2005 và kết thúc vào cuối tháng 4/2006.
Trong qúa trình thực hiện đề tài, đã có sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ, trao đổi, thảo luận
thường xuyên giữa Ban chủ nhịêm đề tài với các cộ
ng tác viên của đề tài và Viện Khoa
học pháp lý. Các chuyên dề nghiên cứu nhìn chung đều đáp ứng yêu cầu, một số chuyên
đề có chất lượng cao. Các chuyên đề đều được Ban chủ nhiệm tổ chức đánh giá, nghịêm
thu đúng quy định. Để hoàn thiện Báo cáo phúc trình về kết quả nghiên cứu đề tài, Ban
chủ nhịêm đã tổ chức xin ý kiến (bằng phiếu) của các chuyên gia, các nhà khoa học về
những vấn đề còn có quan đ
iểm khác nhau.
Tháng 12/2007, Lãnh đạo Viện khoa học pháp lý đã lấy ý kiến nhận xét, phản biện
của hai chuyên gia về Đề tài. Về cơ bản các chuyên gia đánh giá cao kết qủa nghiên cứu,
nhất trí cho nghịêm thu chính thức Đề tài này. Nhóm nghiên cứu đã nghiêm túc tiếp thu ý
kiến của các chuyên gia và hoàn chỉnh lại Báo cáo phúc trình.
Đến nay, Đề tài đã được hoàn thành, Ban chủ nhiệm đề nghị Hội đồng khoa học,
Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp xem xét, nghiệm thu Đề
tài theo quy định. 11
B. NHỮNG KẾT QUẢ CHÍNH
(sở hữu toàn dân).
Thứ ba, vai trò lịch sử của mỗi hình thức sở hữu là vấn đề có tính khách quan, do
trình độ phát triển c
ủa lực lượng sản xuất quyết định. Điều này có nghĩa là, không thể tùy
tiện xóa bỏ một hình thức sở hữu nhất định theo ý chí chủ quan của Nhà nước hoặc giai
cấp cầm quyền. Muốn xóa bỏ hình thức sở hữu nào đó, thì vấn đề là phải làm sao phát
triển được lực lượng sản xuất để đến lúc trình độ của lực lượng sản xuất t
ự nó làm cho
quan hệ sở hữu trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và từ đó đòi
hỏi phải có hình thức sở hữu mới phù hợp hơn.
Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lênin còn đề cập tới tính chất giai cấp của sở hữu. Theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, trong xã hội có giai cấp, vấn đề sở hữu có ảnh hưởng quan trọng
đối với việ
c khẳng định vị trí của giai cấp thống trị trong xã hội. Giai cấp nào sở hữu
những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp đó sẽ quyết định được vận mệnh của số đông
người lao động
3
. Điều này có nghĩa rằng, vấn đề sở hữu không đơn thuần là vấn đề kinh
tế mà còn là vấn đề có ý nghĩa chính trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: giai cấp nắm
1
Xem: GS.TS. Phạm Văn Nghiên “Một số quan điểm về đổi mới chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế” - NXB Chính trị Quốc
gia 1993, tr. 89. Trong tác phẩm này, các tác giả nhận xét “sở hữu là một trong những khái niệm được định nghĩa một cách thiếu
chặt chẽ, được hiểu một cách khác nhau tùy theo các giai đoạn của lịch sử loài người, cũng như ở các nền văn hóa và các thể chế
chính trị-xã h
ội khác nhau”;
Cũng xem: TS Nguyễn Văn Thức - Sở hữu - Lý luận và vận dụng ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2004, trang 39;
2
Xem: TS Nguyễn Văn Thức, Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam - NXB Khoa học xã hội 2004, trang 11.
3
sở hữu như TS. Nguyễn Văn Thức (2004)
7
, PGS. TS. Nguyễn Văn Thạo,
TS. Nguyễn Hữu Đạt (2004)
8
đã đưa ra định nghĩa về sở hữu như sau: Sở hữu là quan hệ
giữa con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải và thông qua quan hệ ấy con
người thực hiện thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “sở hữu” thường được sử dụng đồng nhất với khái
niệm “quyền sở hữu”
9
- một khái niệm pháp lý đã tồn tại từ thời La Mã cổ đại. Theo cách
tiếp cận này, với các quốc gia thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa, “quyền sở hữu”thường
được hiểu là tập hợp nhóm quyền đối với tài sản, cụ thể đó là tập hợp nhóm 3 quyền là
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
10
. Với các nước theo hệ thống luật
án lệ (common law), định nghĩa về “quyền sở hữu” được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa
về quyền sở hữu của luật gia William Blackstone - một luật gia nổi tiếng người Anh đưa
ra từ cuối thế kỷ 18
11
. Theo định nghĩa này, “quyền sở hữu” (property) là “độc quyền chi
phối tuyệt đối đối với một bộ phận của thế giới bên ngoài (một vật), và ngăn cản tất cả
mọi người khác tiếp cận với vật ấy”
12
. Tuy khái niệm này mới hình dung tới quyền sở hữu
đối với tài sản là vật hữu hình, chưa hình dung tới quyền sở hữu đối với các loại tài sản vô
hình (trong đó có tài sản trí tuệ) mà thời luật gia Blackstone sống hầu như chưa đặt ra
4
2001, trang 2. 13
nhưng yếu tố “độc quyền chi phối” đối với tài sản rõ ràng là bộ phận cấu thành nên nội
dung quyền sở hữu.
Như vậy, theo cách quan niệm chung (dù là theo hệ thống common law hay hệ
thống civil law) thì quyền sở hữu không phải là loại quyền không thể phân chia. Ngược
lại, quyền sở hữu có thể chia thành những quyền năng thành phần. Chẳng hạn, quyền sở
hữu có thể
chia thành quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt (bao gồm quyền
cho thuê, cho mượn, chuyển giao tài sản, quyền đòi lại tài sản .v.v ). Chính vì thế, không
phải không có lý khi coi quyền sở hữu là một nhóm các quyền (a bundle of rights) của
những chủ thể nhất định đối với tài sản
13
như cách quan niệm của luật gia khá nổi tiếng
người Mỹ từ năm 1913 - Wesley Hohfeld
14
.
Ở đây cũng cần lưu ý về sự khác biệt giữa thuật ngữ “quyền sở hữu” với “chủ
quyền” (sovereignty). Đây là 2 khái niệm khác nhau. Chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu đối
với tài sản chứ không thể có chủ quyền với tài sản. Chủ quyền là loại quyền năng chính trị
đặc biệt mà chỉ Nhà nước mới có thể có được. Chính vì thế, tuy không ph
ải là chủ sở hữu
tài sản, nhưng do có chủ quyền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình thực thi quyền sở
hữu của các chủ thể trong xã hội. Nhà nước có thể có những hành vi hạn chế quyền sở
hữu của các chủ thể trong xã hội theo các trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Trong bối cảnh sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế ngày càng lớn, quyền sở
hữu c
14
Xem: Wesley Hohfeld, “Some fundamental legal conceptions as applied in judicial reasoning” (Một số khái niệm cơ bản được sử
dụng trong lập luận của tòa án”, 23 Yale Law Review 16.
15
Xem:
Cũng xem: Ownership: A case study in the representation of legal concepts – L. Thorne McCarty – GS ĐH Rugers, New Jersy (Hoa
Kỳ), 2001, trang 2.
16
Xem: PTS. Hoàng Thế Liên – Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, H. 1997,
trang 85. 14
mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn
cứ pháp luật”.
Việc tồn tại quyền sở hữu chính là cơ sở pháp lý quan trọng để một chủ thể tiến
hành các hành vi tương tác với tài sản mà các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng do
được pháp luật bảo hộ. Quyền sở hữu chính là quyền tiếp cận với tài sả
n và có các hành vi
khai thác, sử dụng, phát huy công dụng và cả bảo vệ tài sản. So sánh giữa chủ sở hữu với
các chủ thể không phải là chủ sở hữu trong xã hội, chúng ta có thể coi rằng “quyền sở
hữu” là độc quyền chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản. Chỉ có chủ sở hữu
mới có “độc quyền” này. Do đó, nhờ sự tồn tại của sở hữu, ch
ủ sở hữu có ưu thế so với
các chủ thể khác trong việc chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản. Trên cơ sở
đó, chúng ta có thể nói rằng, sự tồn tại của quan hệ sở hữu chính là sự thừa nhận của xã
hội về phân tầng giữa các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận đối với các nguồn lực khan
hiếm trong xã hội (tài sản và các sản ph
ẩm có nguồn gốc từ tài sản).
ế kỷ XIX. Đến thế kỷ XIX,
cùng với các Bộ luật Dân sự nổi tiếng được ra đời trong đó phải kể đến Bộ luật Dân sự
Napoleon, cá nhân con người mới được các bộ luật chính thức thừa nhận là chủ thể của
các quan hệ sở hữu. Trước đó, cá nhân con người thường bị lẩn khuất trong các “thiết chế
xã hội” như gia đình, cộng đồng, công xã.v.v Hiệ
n nay, giữa hai hình thức sở hữu có
tính chất đối lập là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng thường tồn tại nhiều dạng hình
thức sở hữu trung gian như sở hữu chung, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước .v.v 15
Nhìn chung, cách quan niệm về các loại hình thức sở hữu ở phương Tây và Việt
Nam có nhiều rất khác biệt.
Ở phương Tây, người ta quan niệm có ba dạng (hoặc ba hình thức) sở hữu cơ bản
là sở hữu tư nhân (private property), sở hữu tập thể (collective property) hoặc đôi khi còn
gọi là sở hữu cộng đồng (communcal ownership hoặc common property) và sở hữu công
cộng (common property)
17
. Theo chế độ sở hữu công cộng thì tài sản thuộc loại hình sở
hữu này sẽ thuộc về tất cả mọi người, mọi người đều có quyền tiếp cận (ví dụ đồng cỏ tự
nhiên, công viên .v.v ). Theo chế độ sở hữu tập thể (hay sở hữu cộng đồng), tài sản thuộc
về một cộng đồng người cụ thể và chỉ có cộng đồ
ng người đó mới có quyền quyết định về
cách sử dụng và định đoạt tài sản. Theo chế độ sở hữu tư nhân, tài sản thuộc về những cá
nhân con người cụ thể hoặc một pháp nhân tư (công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn chẳng hạn) và các quyết định liên quan tới tài sản là thuộc về riêng cá nhân, pháp
nhân đó
18
. Chính vì thế, sở hữu tư nhân đôi khi còn được gọi là “sở hữu riêng” (individual
Như vậy, có thể thấy, tiêu chí để phân định các hình thức sở hữu trong nhiều
trường hợp không phải hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên, các hình thức sở hữu khác nhau chủ
yếu ở ba yếu tố chính:
+ Chủ thể
của quyền sở hữu (chủ sở hữu là người mang quyền lực nhà nước hay
không mang quyền lực nhà nước, số lượng chủ thể bao nhiêu .v.v ?).
17
Xem: Mục “property” trong Từ điển triết học - Đại học Standford – Hoa Kỳ (
18
Xem: Mục “property” trong Từ điển triết học - Đại học Standford – Hoa Kỳ (
19
Xem:
20
Xem: Nguyễn Đăng Dung, giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, trang 78. 16
+ Nội dung các quyền năng mà chủ sở hữu có thể có (chủ sở hữu có thể bị hạn chế
quyền sở hữu của mình đến mức nào?).
+ Loại tài sản mà chủ sở hữu có thể có (đối với mỗi loại chủ sở hữu thì có thể sở
hữu những loại tài sản nào?). Chẳng hạn, đối với sở hữu tư nhân, ở Việt Nam, pháp luậ
t
không công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai. Chính vì thế, đất đai chỉ có thể là
tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, không thể là tài sản mà các cá nhân, pháp nhân có thể sở
hữu được.
1.1.2.2. Nguyên nhân của việc thay thế các hình thức sở hữu trong xã hội
Áp dụng mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhiều quốc gia phương Tây đã triệt để
khai thác và áp dụng chế độ s
.
Như vậy, theo Horald Demsetz, sở hữu tư nhân được hình thành thay thế cho sở
hữu công cộng, sở hữu tập thể là nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm trong khai
thác, sử dụng các nguồn lực trong xã hội. Nhờ việc biến tài sản thuộc sở hữu chung, sở
hữu cộng đồng thành sở hữu tư nhân, các thành viên cộng đồng sẽ ý thức rõ hơn về tính
khan hiếm nguồn lực trong xã hội và sử
dụng tài sản một cách hiệu quả, có trách nhiệm
hơn. Cũng nhờ đó, năng suất lao động, năng suất sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế
được nâng lên. Có thể coi, giải pháp “tư nhân hóa” tài sản công cộng trong lý thuyết về sở
21
Harold Demsetz, Toward a Theory of Property Rights, 57 Am. Econ. Rev. 347, 347 (1967).
Xem thêm: Harold Demsetz, Toward a Theory of Property Rights II: The Competition Between Private and
Collective Ownership, 31 J. Legal Stud. S653, S653 (2002).
22
Xem: Thomas W. Merrill, Introduction: The Demsetz thesis and the Evolution of property rights, the Journal of
Legal Studies, June, 2002. 17
hữu của Harold Demsetz là cách thức làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng nhận thức
rõ hơn về tính khan hiếm của các nguồn lực hữu ích trong xã hội.
Việc công nhận sở hữu tư nhân, bảo vệ sở hữu tư nhân, bảo vệ khả năng chuyển
nhượng tài sản thuộc sở hữu tư nhân được coi là một trong những biện pháp khuyến khích
“phúc lợi xã hội” (social welfare). Chí ít, việc công nhận sở hữu t
ư nhân với quy tắc cơ
bản là người nào đầu tư vào tài sản thuộc sở hữu của mình thì người đó phải được hưởng
thành quả của sự đầu tư ấy (hoa lợi, lợi tức từ tài sản) cũng góp phần thúc đẩy tính tích
cực trong lao động, đầu tư của mỗi người. Điều này hết sức đơn giản bởi lẽ, nếu như
thuyết về sở hữu của Harold Demsetz, trong việc bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia
đã
thay đổi quan niệm về môi trường sinh thái từ quan niệm trước đây coi môi trường sạch,
môi trường trong lành là nguồn lực vô tận sang quan niệm “môi trường sạch, môi trường
trong lành là thứ “tài nguyên khan hiếm” và cần “tư nhân hóa” loại tài sản, nguồn lực
khan hiếm này bằng cách đưa ra hệ thống “quyền gây ô nhiễm” (hoặc quyền xả thải vào
môi trường, quota phát thải) - thứ tài sản tư có thể chuyển nhượng để kiểm soát hành vi
gây ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực.
Tuy nhiên, lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz cũng gặp nhiều chỉ trích từ
chính các học giả phương Tây. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một lý thuyết có nhiều điểm
khiếm khuyết. Lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz đã không thể trả lời được câu hỏi
làm cách nào mà người ta biến từ sở hữu chung sang sở hữu t
ư nhân (cách thức chuyển
23
Xem: Louis Kaplow & Steven Shavell: “Economic analysis of law” – Working Paper 6960 (February 1999), p. 14.
24
Xem: Louis Kaplow & Steven Shavell: “Economic analysis of law” – Working Paper 6960 (February 1999), p. 14. 18
đổi chế độ sở hữu như thế nào là hợp lý và hiệu quả.v.v ) và liệu quá trình ngược lại
(biến từ sở hữu tư thành sở hữu công) có phải luôn là bất hợp lý hay không
25
.
1.1.3. Vai trò của sở hữu trong đời sống kinh tế - xã hội
Quyền sở hữu là đặc quyền tiếp cận các nguồn lực trong xã hội. Chủ sở hữu là
người có thể tiếp cận một cách đầy đủ nhất (khi so với các chủ thể khác trong xã hội) đối
với các nguồn lực trong xã hội (các tài sản vật chất và tài sản trí tuệ). Nhưng chính việc
26
.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta đã và đang tìm cách giải quyết
vấn đề sở hữu để tạo nên hệ thống quan hệ sở hữu phù hợp với những đòi hỏi khách quan
của nền sản xuất xã hội, khắc phục chế độ công hữu hình thức nhằm giải phóng mọi năng
lực sản xuất của xã hội, phát huy các động lực phát tri
ển, tăng hiệu quả của hoạt động
kinh doanh. Bởi vậy, tính đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh
cùng với sự đa dạng về các thành phần kinh tế đã được chấp nhận và đang phát huy mặt
tích cực của nó đối với quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước.
1.2. Pháp luật về sở hữu
1.2.1. Sở hữu và quyền s
ở hữu
1.2.1.1. Sở hữu
Sở hữu là phạm trù kinh tế. Là phạm trù kinh tế, sở hữu thể hiện các quan hệ sản
xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế - xã hội và
25
Thomas W. Merrill, Introduction: The Demsetz thesis and the Evolution of property rights, the Journal of Legal
Studies, June, 2002.
26
GS. TS. Hoàng Chí Bảo - Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay - NXB Lý luận chính trị 2005, trang 116. 19
quan hệ xã hội nhất định. Sở hữu trả lời cho câu hỏi: tài sản, tư liệu sản xuất, thành quả
lao động thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo
ra và phân phối các thành quả vật chất. Với nội dung kinh tế như vậy, sở hữu là quan hệ
kinh tế khách quan.
;
- Xác định các căn cứ làm phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu;
- Quy định cơ chế xác nhận, công khai hoá quyền sở hữu để mọi người biết (cơ chế
đăng ký tài sản);
- Quy định cơ chế (biện pháp, cách thức giúp chủ sở hữu bảo vệ được quyền sở hữu
của mình ).
Kết quả của việc thực hiện các công việc nêu trên là sự hình thành một nhóm các
quy
định pháp luật về sở hữu, được gọi là pháp luật về sở hữu - một khái niệm thuộc
thượng tầng kiến trúc, một phạm trù pháp lý.
Như vậy, khi sở hữu với tư cách là một phạm trù kinh tế được pháp luật điều chỉnh
thì xuất hiện quyền sở hữu với tư cách là một phạm trù pháp lý. Với tư cách là một phạm
trù pháp lý, quyền sở
hữu mang tính chất chủ quan, vì đó là sự ghi nhận của Nhà nước.
Nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền
sở hữu được quy định trước hết bởi nội dung kinh tế của sở hữu. Nhà nước quy định
quyền sở hữu, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. 20
Với tính cách là một phạm trù pháp lý, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh
vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Đây là khái niệm quyền sở hữu theo nghĩa
rộng, nghĩa khách quan. Còn theo nghĩa hẹp (nghĩa chủ quan) thì quyền sở hữu được hiểu
là các quyền năng cụ
thể của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Ở Việt Nam, chế định về quyền sở hữu được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật
Dân sự năm 2005. Trên cơ sở cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với các hình thức
được khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh
hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác (Điều 193 Bộ luật Dân sự năm 2005).
+ Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu:
1. Quyền sử dụng tài sản có thể đượ
c chuyển giao cho người khác thông qua hợp
đồng hoặc theo quy định của pháp luật, người không phải là chủ sở hữu có quyền sử dụng
tài sản đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức;
2. Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật.
Trọng tâm của việc điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề này là việc pháp luật phải
quy định được những cơ chế, biện pháp, chế độ để kích thích các chủ sở hữu khai thác tài
sản của mình một cách có hiệu quả. Sự khuyến khích này được thực hiện bằng hai cách: 21
(1) đưa ra các ưu đãi về tài chính cho bất cứ người nào đã nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản của mình và (2) hạn chế và có thể kể cả việc tước quyền tài sản đối với những ai
không sử dụng hoặc sử dụng không tốt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
- Quyền định đoạt: là quyền quyết định số phận pháp lý của tài s
ản bằng cách thay
đổi vị trí của tài sản trong hệ thống quan hệ xã hội. Điều 195 Bộ luật Dân sự năm 2005
quy định: quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở
hữu đó.
1.2.2. Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác
Chế định quyền sở hữu không chỉ tập trung quy định địa vị pháp lý và các quyền
chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở một phạm vi hẹp.
u.
Thứ hai, quyền sở hữu là loại quyền độc lập còn vật quyền khác là quyền phụ thuộc
Thứ ba, chủ sở hữu chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình,
còn người có các quyền khác đối với tài sản chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc
sở hữu của người khác. Ví d
ụ, công ty nhà nước cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt đối với tài sản được Nhà nước giao nhưng các tài sản đó vẫn là của Nhà nước, thuộc
quyền sở hữu của Nhà nước; mọi cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam cũng có quyền chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt đất đai nhưng mọi đất đai đó đều là của Nhà nướ
c, do Nhà nước
là chủ sở hữu.
27
Bình luận khoa học: Một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, 1997, tr.84. 22
Thứ tư, quyền năng của chủ sở hữu rộng hơn quyền năng của người có quyền khác
đối với tài sản. Các quyền năng của chủ sở hữu do pháp luật xác định, trong khi đó, quyền
năng của người có quyền khác đối với tài sản không chỉ do luật xác định mà còn được xác
định bởi ý chí của chủ sở hữu. Ý chí đó thường được thể hiệ
n thông qua hợp đồng giữa
chủ sở hữu và người có quyền khác đối với tài sản. Các quyền khác đối với tài sản thường
bị hạn chế về nội dung vì phạm vi quyền mà chủ sở hữu trao cho những người có quyền
này nhiều hay ít là phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu.
Tóm lại, quyền khác đối với tài sản là quyền năng của một chủ thể trong chiế
m hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản của người khác, phái sinh từ quyền của chủ sở hữu và theo ý
chí của chủ sở hữu (hoặc do pháp luật quy định), có nội dung hạn chế so với quyền sở
phân biệt giữa tài sản là bất động sản và tài sản là động sản. Bất động sản là tài sản không
thể di chuyển được. Để chuyển giao tài sản là bất động sản như quyền sử dụng đất, thì
việc đăng ký là thủ tục phải được thực hiện như là một đ
iều kiện để hợp đồng chuyển giao
có hiệu lực. Việc đăng ký đối với động sản chỉ được đặt ra khi đó là các phương tiện đi
lại, tàu thuỷ, máy bay và các tài sản khác có liên quan
29
. 28
Các bên có thể điều chỉnh mối quan hệ của riêng họ trong hợp đồng, nhưng không phải là các quyền của bên thứ ba. Bản Quy
tắc không quy định gì về việc khi bên mua tài sản có được sự bảo vệ từ chủ nợ của bên bán.
29
Luật bảo đảm của Trung Quốc, điều 41- 43. Hệ thống đăng ký bất động sản toàn quốc và đăng ký quyền sở hữu
được Luật này quy định
. 23
b) Các hình thức sở hữu
- Sở hữu nhà nước:
Theo pháp luật Trung Quốc, sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu toàn dân. Điều 7
của Hiến pháp năm 1982 quy định: "nền kinh tế nhà nước là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
và là nền kinh tế chủ đạo của nền kinh tế đất nước, trong đó quyền sở hữu là quyền sở
hữu toàn dân. Nhà nước bảo đả
m sự bền vững và tăng trưởng của nền kinh tế đất nước".
"Sở hữu nhà nước bao gồm cả sở hữu đối với khu vực đất đai thành thị, các nguồn tài
n xuất nông
nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế nông nghiệp hoặc Uỷ ban xã quản lý và đưa vào sử dụng.
Đất thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế tập thể nông dân ở tỉnh, thành sẽ do nông dân ở
tỉnh, thành đó sở hữu.
Tài sản thuộc sở hữu tập thể được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ tổ chức, cá
nhân nào được phép niêm phong, lấn chiếm, chia c
ắt, phá huỷ hoặc phong toả, chiếm giữ,
tịch thu một cách bất hợp pháp”.
- Sở hữu cá nhân:
Điều 75 Bản Quy tắc quy định: “Tài sản thuộc sở hữu cá nhân bao gồm: thu nhập
hợp pháp, nhà, khoản tiết kiệm, các vật dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu sống hàng
ngày, sách, vở, tác phẩm nghệ thuật, cây cối, vật nuôi cũng như các tư liệu sản xuấ
t khác
mà pháp luật cho phép cá nhân được chiếm giữ và các tài sản hợp pháp khác. 24
Tài sản thuộc sở hữu của công dân sẽ được pháp luật bảo vệ, không một tổ chức,
cá nhân nào được phép sử dụng, lấn chiếm, phá huỷ hoặc phong toả, chiếm giữ, tịch thu
một cách bất hợp pháp”.
Điều 76 Bản Quy tắc quy định: “Công dân có quyền thừa kế tài sản theo quy định
của pháp luật”.
- Các hình thức sở hữu khác:
Bản Quy tắc của Trung Quốc còn quy định về
tài sản hợp pháp của các tổ chức xã
hội, bao gồm tổ chức tôn giáo và một số loại hình sở hữu khác như sau:
Điều 77 Bản Quy tắc quy định: Tài sản hợp pháp của các tổ chức xã hội, bao gồm
cả các tổ chức tôn giáo sẽ được pháp luật bảo vệ.
Điều 78 Bản Quy tắc quy định về đồng sở hữu do hai hoặc nhiều công dân, pháp
1999, địa vị của thành phần tư nhân lại một lần nữa được phát triển. C
ăn cứ vào Hiến
pháp sửa đổi năm 1999 "cá nhân, tư nhân và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
cùng tồn tại trong phạm vi pháp luật quy định là những bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa". Chỗ đứng của thành phần tư nhân lại một lần
nữa được chuyển dịch trong bản Hiến pháp sửa đổi năm 2004. Sự quan trọng của các
thành ph
ần kinh tế này đã vượt ra ngoài sự công nhận. Các thành phần tư nhân ngày nay
được đặc biệt "khuyến khích và ủng hộ"
30
.
30
Xem Hiến pháp Điều 11 25
Trong khi cùng với các chính sách của Nhà nước và sở hữu công được quy định
trong Hiến pháp, đây là sự công nhận một cách rõ ràng, dứt khoát sở hữu công là một
thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thì sự phát triển của các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng được khuyến khích một cách bình đẳng
31
. Chủ
tịch Giang Trạch Dân đã tuyên bố rõ ràng trong bản báo cáo 1997: "hệ thống kinh tế cơ
bản của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội là đặt sở hữu công trong
một vị trí chủ đạo và có sự đa dạng các hình thức sở hữu khác cùng phát triển". Thêm vào
đó, Hiến pháp sửa đổi năm 1999 đã có quy định đặc biệt rằng: Nhà nước sẽ bảo vệ các
quy
ền và lợi ích hợp pháp của các thành phần kinh tế cá nhân và tư nhân và trong thời
vào đó, chỉ một số doanh nghiệp quan trọng trong số doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục
do Nhà nước kiểm soát thông qua cơ chế cổ đông chi phối. Với một khung chính sách
như vậy, ranh giới giữa sở hữu nhà nước và sở hữu ngoài quốc doanh đã được xác định tại
mứ
c độ cổ đông. Kết quả là, "doanh nghiệp nhà nước" được chuyển đổi thành "doanh
nghiệp do nhà nước quản lý" là kết quả của quá trình cải cách "phân chia quyền" trong
giai đoạn trước đã trở thành "doanh nghiệp do nhà nước đầu tư" sau khi các doanh nghiệp
này chuyển đổi thành một tập đoàn hiện đại với đa đạng cơ cấu vốn. Sở hữu công và tư
nhân không được bảo hộ bình đẳng, nh
ưng đồng thời “thống nhất” trong một hệ thống
như vậy. Vì vậy, với một mức độ thấp nhất, sở hữu công và sở hữu tư nhân là rõ ràng
trong sự biến hoá có tính chất thống trị ở cả hai mức độ chính sách và Hiến pháp.
1.1.5.2. Tại Cộng hòa Liên bang Đức:
31
Xem Hiến pháp điều 6 (1982, sửa đổi 1999)
32
Xem Hiến pháp Điều 11
33
Xem báo cáo của Chủ tịch Giang Trạch Dân