HỌC VIỆN CT-HCQG HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NÂNG CAO NĂNG LỰC HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CNĐT : NGUYỄN THỊ THƠM 8259
HÀ NỘI – 2010
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
01
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
19
1.1. Nhận thức chung về quản lý nhà nước về môi trường
19
1.1.1. Khái niệm, nội dung quản lý nhà nước về môi trường 19
1.1.2. Nguyên tắc và các công cụ quản lý nhà nước về môi trường 22
1.2. Một số vấn đề lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường
36
1.2.1. Khái niệm “hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường” và các chỉ
tiêu đánh giá
36
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường 45
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về
môi trường và bài học rút ra cho Việt Nam
51
1.3.1. Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước về môi trường
cáo tác động môi trường từ 2005 đến nay
106
2.3. Thực trạng hiệu lực quản lý nhà nước trong hoạt động kiểm tra,
thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường ở Việt Nam
115
2.3.1. Tổng quan các văn bản pháp luật về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi
phạm pháp luật bảo vệ môi trường
116
2.3.2. Tình hình thực thi việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường từ năm 2005 đến nay
120
2.3.3. Đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước trong hoạt động kiểm tra, thanh
tra và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
133
2.4. Nguyên nhân
hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta
yếu kém
139
2.4.1. Hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập 139
2.4.2. Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường có
nhiều bất hợp lý
143
2.4.3. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường còn
nhiều yếu kém
147
2.4.4. Bảo vệ môi tr
ường chưa trở thành ý thức của nhiều người 150
2.4.5. Một số nguyên nhân khác 153
Chương 3:
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ PHỤ LỤC
Số hiệu Tên bảng Trang
134
Số hiệu Tên sơ đồ
3.1:
Sử dụng kênh thông tin tác động đến các doanh nghiệp
nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của
các doanh nghiệp
182
Phụ lục
203
Hình 1:
Sơ đồ tổ chức cơ quan bảo vệ môi trường Trung Quốc
Hình 2:
Sơ đồ tổ chức các cơ quan bảo vệ môi trường Singapore
Hình 3:
Sơ đồ tổ chức B
ộ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Philipine
Hình 4:
Sơ đồ tổ chức các cơ quan bảo vệ môi trường Malayxia
Hình 5:
Sơ đồ tổ chức Bộ khoa học, công nghệ và môi trường Thái Lan
BẢNG VIẾT TẮT BVMT : Bảo vệ môi trường
CKBVMT : Cam kết bảo vệ môi trường
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐPT : Đang phát triển
n đề xã hội. Những năm gần đây, bình quân mỗi
năm tạo được trên 1,5 triệu việc làm cho người lao động, tỷ lệ hộ nghèo giảm
nhanh; chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng tốt hơn, phúc lợi xã hội
ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được, ô nhiễm
môi trường ngày càng trở nên trầm trọng. Năm 2008, cùng với sự bùng nổ c
ủa
lạm phát, vấn đề môi trường nổi lên như một chủ điểm nóng mà bất cứ người
Việt Nam nào cũng phải quan tâm. Trong những sự kiện nổi bật nhất của năm
2008 ở Việt Nam, vụ việc Công ty Vedan vi phạm nghiêm trọng Luật BVMT có
thể được coi là đáng chú ý nhất. Với việc xả hàng ngàn m
3
nước thải công
nghiêp chưa qua xử lý ra môi trường trong một ngày, doanh nghiệp này đã gây
bức tử dòng sông Thị Vải. Dư luận xã hội xôn xao, nhiều diễn đàn đã đăng tải ý
kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý và của người dân, đặc biệt là của
tầng lớp trẻ (trong đó có cả những học sinh phổ thông) về những vấn đề liên
quan đến môi trường sau sự kiện trên. Nhiều câu hỏ
i đặt ra xung quanh vấn đề
này: Vì sao Vedan lại có thể xả một khối lượng lớn nước thải không qua xử lý
vào sông Thị Vải trong gần 15 năm qua, trong khi doanh nghiệp này đã cam kết
thực hiện các quy định về môi trường và trên thực tế đã xây dựng hệ thống xử lý
nước thải tập trung? Vì sao hiện nay có đến trên 70% khu công nghiệp ở Việt
Nam chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp mà vẫ
n hoạt động, trong khi
đây là quy định bắt buộc đối với các dự án sản xuất công nghiệp? Có bao nhiêu
dòng sông, kênh, rạch đang bị ô nhiễm nặng? Vì sao nhiều làng, xã hiện nay
2
đang mắc hội chứng “làng, xã ưng thư”? Vì sao nạn tàn phá rừng, kể cả rừng
2009 và các năm tiếp theo? Hoặc, trong khi doanh nghiệp đang gặp khó khăn
nếu phải thực hiện đầy đủ các quy định về BVMT sẽ làm tăng chi phí sản xuất.
3
Điều đó sẽ dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh và có thể có nhiều doanh nghiệp
phải “phá sản”. Nhưng bên cạnh đó, cũng có những phân tích ngược lại cho
rằng, để phát triển bền vững, trong đó có cả bền vững về kinh tế thì vấn đề
BVMT có vai trò hết sức quan trọng. Bởi vì, môi trường được bảo vệ tốt, nguồn
tài nguyên thiên nhiên sẽ được sử
dụng có hiệu lực, các doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu sẽ tăng sức cạnh tranh nhờ tiết kiệm đầu vào và đáp ứng được
tiêu chuẩn của các nước (trong đó có tiêu chuẩn môi trường). Do đó, cần phải
tiếp tục bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật và tăng cường sử dụng các công
cụ của chính sách để QLMT chặt chẽ hơn.
Đặc biệt, đã có
một số tác giả bàn về hiệu lực QLNN về môi trường ở
Việt Nam hiện nay. Nhưng khi bàn về nội dung cần hoàn thiện đối với lĩnh vực
này thì còn có những quan điểm chưa thống nhất. Có tác giả khuyến nghị việc
cần làm ngay là thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về môi trường.
Bởi vì, nhìn chung hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này ở Vi
ệt Nam về cơ bản
là đầy đủ, phủ khắp các lĩnh vực liên quan đến môi trường nhưng vì khâu thực
thi yếu nên hiệu lực QLNN về môi trường rất thấp và chính hạn chế này đã dẫn
đến những vấn đề môi trường trầm trọng như hiện nay. Một số ý kiến khác lại
cho rằng, cần bắt tay ngay vào hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật
để bảo đảm tính đồng bộ và ăn khớp giữa các luật, bởi đây là nguyên nhân cơ
bản làm cho luật pháp BVMT khó đi vào thực tiễn ở Việt Nam
Thực tế đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có căn
cứ khoa học về những vấn đề nêu trên. Nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài:
“Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam hiệ
lực QLNN về môi trường ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan chức năng cần
nhanh chóng rà soát lại toàn bộ hệ thống luật pháp liên quan đến môi trường
để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đồng
thời, ở nhóm này một số tác giả đã phân tích các chế tài xử phạt đối với các
hành vi vi phạ
m Quy định BVMT ở nước ta hiện nay còn ở mức quá thấp
trong mối tương quan so sánh với luật pháp của các nước khác. Do đó, luật
pháp Việt Nam chưa đủ sức răn đe và ngăn ngừa các tổ chức và cá nhân vi
5
phạm các quy định BVMT. Từ đó, các tác giả khuyến nghị phải nâng mức
phạt bằng kinh tế và áp dụng các chế tài xử phạt tương ứng với mức độ gây
thiệt hại đối với môi trường. Tuy nhiên, các phân tích mà các tác giả thuộc
nhóm này đã tiến hành chỉ mới là những gợi mở ban đầu, chưa được lý giải
một cách toàn diện vấn đề nghiên cứu. Đặc biệt là vấn
đề hiệu lực của hệ
thống pháp luật trong lĩnh vực môi trường chỉ đề cập rất ít.
Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình sau:
- Các quy định pháp luật về môi trường, tập 1, Nxb CTQG, H.1995
- Các quy định pháp luật về môi trường, tập 2, Nxb CTQG, H.1997.
- Cần hoàn thiện văn bản pháp luật hoàn thiện môi trường,Vietnamnet,
ngày 3/3/2009.
- Luật Bảo vệ môi trường, Nxb Tư pháp, H.2006.
- Chỉ thị s
ố 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về Tăng cường
công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Chiến lược BVMT quốc gia, Nxb CTQG, H.2004.
- ThS. Hoàng Thị Cường, Tăng cường QLMT đối với các Khu công
nghiệp, Tạp chí QLNN, tháng 2/2009, tr. 23-26.
- Văn bản pháp luật môi trường thiếu nhiều văn bản pháp luật răn đe,
hoạch và đều tập trung ở những điểm sau đây: Quy hoạch thiếu tính tổng thể
(ở t
ầm quốc gia, vùng), thiếu tính phối hợp (giữa quy hoạch khai thác các tài
nguyên với ngành, vùng lãnh thổ, giữa các vùng lãnh thổ kề cạnh…), các tiêu
chí về phát triển bền vững, đặc biệt là tiêu chí về môi trường chưa được đưa
nhiều vào các quy hoạch. Do đó, những hạn chế của chiến lược và quy hoạch
nêu trên là nguyên nhân làm giảm hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam.
Từ đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp xây d
ựng chiến lược và quy hoạch
dựa trên các căn cứ khoa học, đặc biệt là phải có những dự báo có chất lượng
cao. Tuy vậy, ở các công trình này còn thiếu những phân tích, đề xuất quan
trọng để xây dựng chiến lược và quy hoạch đáp ứng yêu cầu BVMT. Chẳng
hạn, nhân tố con người đối với lĩnh vực này hầu như chưa được bàn tới, hoặc
việc xây dựng cơ chế liên k
ết giữa các cơ quan chức năng trong xây dựng
chiến lược, quy hoạch còn hết sức mờ nhạt.
7
Các công trình cơ bản của nhóm nghiên cứu này bao gồm:
- TS. Lê Thị Kim Dung, Giải quyết vấn đề môi trường trong quy hoạch
phát triển: Từ văn bản pháp quy đến thực tiễn quản lý, Tạp chí Kinh tế và dự
báo, số 12/2007, tr. 21-23.
- Trương Mạnh Tiến, Môi trường và quy hoạch tổng thể theo hướng
phát triển bền vững - Một số cơ sở lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc
gia, H.2002.
- Bài chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, ÔNMTNT do
lịch sử để lại, Vietnamnet, ngày 11/11/2008.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa
đối với phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nghiên cứu tổng kết một số mô hình phát
triển bền vững ở Việt Nam, H.2006.
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, bộ
máy QLNN về tài nguyên và môi trường,
Tạp chí Tài nguyên và Môi trường,
tháng 3/2007, tr. 3-4.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Dự án VIE/01/021), Bộ Tiêu chuẩn và cơ sở
dữ liệu giám sát bền vững ở Việt Nam, H.2006.
- Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, Quản lý môi trường cho sự phát
triển bền vững, Nxb Đại học Quốc gia, H. 2001.
- Hội nghị toàn ngành Tài nguyên và Môi trường, Tăng cường công tác
QLNN về tài nguyên v\à môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường,
tháng 3/2004, tr. 3-6.
- TS. Phạm Khôi Nguyên, Vai trò c
ủa các nhà hoạch định chính sách
và các cơ quan tư pháp trong việc thúc đẩy phát triển bảo vệ ở Việt Nam, Tạp
chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 4/2005, tr. 13-15.
- TS. Phạm Khôi Nguyên, Tăng cường công tác QLNN về tài nguyên
và môi trường đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ năm 2004, Tạp chí Tài nguyên và
Môi trường, tháng 1/2004, tr. 5-7.
- Vedan tinh vi hay cơ quan chức năng bị che mắt, Vietnamnet, ngày
17/9/2008:
9
- Vedan và căn bệnh thường ngày của cơ quan QLNN, Vietnamnet,
ngày 20/9/2008.
- Phạm Thị Ngọc Trâm, QLNN đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát
triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, H.2006.
- Trung tâm phát triển Tài nguyên và Môi trường (Dự án VIE/01/021), Quản
lý tổng hợp lưu vực sông theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam, H.2006.
nghiên cứu đều cho rằng, mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt Nam quá thấp.
Nguồn đầu tư chủ yếu là của Nhà nước, m
ột ít viện trợ NGO và nguồn vốn
ODA, nguồn đầu tư của xã hội còn hết sức hạn chế. Đặc biệt là đầu tư phát
triển ngành công nghiệp môi trường hiện còn chưa được chú trọng đúng mức.
Trên cơ sở những phân tích ở trên, các tác giả đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện các công cụ kinh tế - tài chính trong lĩnh vực BVMT ở nước ta.
Đặc biệt, một số tác giả
đã đề nghị Việt Nam cần kịp thời áp dụng thuế môi
trường. Tuy nhiên, ở đây còn thiếu các phân tích cách kết hợp sử dụng các
công cụ của nhóm này (thuế, phí với chính sách thu hút đầu tư…) để mang lại
hiệu lực tổng hợp đối với mục tiêu BVMT. Các giải pháp mà các tác giả đề
xuất trong lĩnh vực này cũng chỉ dừng ở mức độ gợi ý chính sách, chưa có
phân tích thấu đ
áo.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu trên, có thể kể đến các công trình sau đây:
- Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Trung tâm Kinh tế Môi
trường và Phát triển vùng, Đại học KTQD, Báo cáo tổng quan đề tài “Cơ sở
khoa học và thực tiễn xây dựng các quy định về đặt cọc - hoàn trả, ký quỹ và
bảo hiểm môi trường”, H.1999.
- Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường, Giới thiệu các
công cụ kinh tế và khả nă
ng áp dụng trong QLMT ở Việt Nam, H.2001
- Bộ Tư pháp, Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong
QLMT ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện, Kỷ yếu hội thảo khoa
học, H.2005.
- Nguyễn Thế Chinh, Áp dụng các công cụ kinh tế để nâng cao năng
lực QLMT ở Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1999.
11
12
nguyên nhân làm hạn chế chất lượng của các hoạt động đánh giá tác động môi
trường, quan trắc và giám sát môi trường cũng được một số tác giả đề cập ở
những mức độ nhất định. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập đến mối tương
thích giữa các công cụ này để bảo đảm tính hiệu lực của cả nhóm, nhiều
nguyên nhân dẫn đến các hoạt động đánh giá tác
động môi trường, giám sát
môi trường chỉ mang tính hình thức.
Một số công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến
dưới đây:
- Lê Anh Sơn và Nguyễn Công Mỹ, Xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền
vững cho Việt Nam, Tạp chí kinh tế và dự báo, 9/2005
- BVMT và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tiêu chuẩn và cơ s
ở dữ liệu giám sát bền
vững ở Việt Nam, H.2006.
- Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Các biện pháp kiểm soát ô
nhiễm và quản lý chất thải - Các công cụ pháp lý và kinh tế, H.2002.
- Lê Thạc Cán, Đánh giá tác động môi trường: phương pháp luận và
kinh nghiệm thực tiễn, Nxb KHKT, H.1995.
- Các tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 14.000 và việc thực hiện đối với các
nhà xuất khẩu vào thị trường phát triển (2006).
- Cục Môi trường, Các bi
ện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường và
quản lý chất thải: các công cụ pháp lý và kinh tế, H.1998.
- Tấn Đức, Nhập khẩu phế liệu nhựa và nỗi lo môi trường, Thời báo
Kinh tế Sài Gòn, ngày 11/9/2008, tr. 22.
- Trần Chí Viễn, Hướng đi mới trong công tác quản lý môi trường,
Các công trình tiêu biểu thuộc nhóm nghiên cứu này, bao gồm:
- Bảo vệ môi trường: cần ý thức trong mỗi cá nhân, Vietnamnet, ngày
12/8/2008.
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh, Báo Quân đội nhân
dân, ngày 10/9/2007.
- Phạm Thị Ng
ọc Trâm, QLNN đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát
triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, H.2006.
14
- Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Xanh hoá
công nghiệp - vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ, Ngân hàng
Thế giới, H.2000.
- Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, Cần tạo chuyển biến trong nhận
thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi
trường, tháng 2/2007, tr. 17-18.
- Cộng đồng và giáo dục môi trường, Vietnamnet, ngày 24/2/2008
- Hành trình Xanh - cầu nối thân thiện với môi trường, Vietnamnet,
ngày 19/10/2008
- Phạm Thị Ng
ọc Trâm, Nhân tố xã hội nhân văn trong QLNN về tài
nguyên và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008, tr. 5-7.
- Sẽ bùng nổ nhu cầu nhân lực môi trường, Vietnamnet, ngày 22/3/2009.
2.4. Hướng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về QLNN trong lĩnh vực
môi trường và rút ra bài học cho Việt Nam
Các tác giả của các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này chủ yếu tập
trung phân tích kinh nghiệm sử dụng các công cụ kinh tế như thuế, phí, đặt
cọc - ký quỹ, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường, bi
ện pháp giáo dục
- truyền thông môi trường. Từ đó, các tác giả rút ra được một số bài học bổ
giới và một số định hướng cho Việt Nam, Tạp chí Tài
chính, tháng 11/2002, tr. 45-47.
- Trung tâm phát triển Tài nguyên và Môi trường, Viện Môi trường và
Phát triển bền vững, Quản lý tổng hợp lưu vực sông theo hướng phát triển
bền vững ở Việt Nam (Dự án VIE/01/021), H. 2006.
2.5. Hướng nghiên cứu về hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường
Hiện nay đã có một số công trình đề cập đến hiệu lực QLNN về môi
tr
ường. Chẳng hạn như:
- TS. Phạm Khôi Nguyên, Nâng cao hiệu quả QLNN về tài nguyên và
môi trường phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp
chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 11/2003, tr. 9-10.
- Nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường, thiennhien.net, ngày
13/02/2009.
16
Tuy nhiên, các công trình này mới dừng ở mức kêu gọi cần phải nâng
cao hiệu lực QLNN về môi trường nói chung, chưa bàn gì về khái niệm, các
chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực QLNN về môi trường
và cũng chưa có những đánh giá cụ thể về thực trạng hiệu lực QLNN về môi
trường ở nước ta.
Như vậy, có thể thấy mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứ
u liên
quan đến nội dung QLNN về môi trường, nhưng có rất ít công trình nghiên
cứu về hiệu lực QLNN trong lĩnh vực này. Thực hiện đề tài này, chúng tôi
mong muốn và hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu lý luận và
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường ở Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
3.1. Mục tiêu của đề tài
- Bước đầu xác lập cơ sở lý luận và thự
1
, nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọn đánh giá hiệu lực
QLNN về môi trường trên ba nội dung quản lý sau:
- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về khắc phục ô
nhiễm, suy thoái môi trường.
- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về thẩm định
báo cáo ĐTM.
- Hiệu lực QLNN trong thực thi các văn bản pháp luật về kiểm tra,
thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật BVMT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để
đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử
dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác
như: Phương pháp hệ thống hóa, Phương pháp thống kê, Phương pháp suy
luận, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp đối chiếu, so sánh,…
5. Nội dung nghiên cứu: 1
Tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ ba năm 2010 do Bộ TN và MT tổ chức vào hai ngày
17,18/11/2010 đã xác định trong thời gian tới sẽ thực hiện một dự án đánh giá hiệu lực QLNN về môi trường
trên phạm vi toàn quốc.
18
Nội dung của đề tài ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo sẽ được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU LỰC QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG