CHƯƠNG 1 - CÂY LẠC
(Arachis hypogaea .L)
I. GIÁ TRỊ KINH TẾ - PHÂN LOẠI - TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
1. Giá trị kinh tế của lạc
1.1 Giá trị thực phẩm
Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Lạc là nguồn thức ăn giầu
về dầu lipit và prôtêin, thành phần sinh hoá của lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào
giống, vào sự biến động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả,
các yếu tố không bình thường như: Sâu bệnh hại, và phương pháp phân tích khác
nhau cũng ảnh hưởng đến thành phần sinh hoá của hạt lạc.
(Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Thành phần sinh hoá của lạc
Các chất
Tử diệp Vỏ quả
(%)
Vỏ lụa
(%)
Phôi
(%)
Hạt bóc
vỏ lụa
Bột lạc
khử dầu
Phạm vi bình quân
Độ ẩm b b b 9,01 - 37 7,3
prôtêin
(%)
25,4 - 33,8 27,6 4,8 -7,2 11,0 -13,4 26,5 - 27,8 43,2 47,9 - 56,8
Lypít
(dầu)
44,5 - 56,0 52,1 1,2-2,8 0,5-1,9 39,4 - 43,0 16,6 8,6 - 9,2
- A xít béo no (20%): A xít panmitíc chiếm 6-13%; A xít stearic
Trong dầu lạc người ta quan tâm tới tỷ lệ axít oleic/ linnoleic (tỷ lệ này biến
động trong khoảng 1,2 - 1,5, hoặc có thể lên tới 2). Nếu tỷ lệ này càng cao thì dầu
càng dễ bảo quản. Ở nhiệt độ bình thường dầu lạc là 1 chất lỏng màu vàng nhạt.
Ngoài ra,trong thành phần của dầu lạc còn có các buahydro thơm, gây mùi thơm đặc
trưng của lạc, các vi ta min B1, B2, PP, E, F Dầu lạc hầu như không có vi ta min A,
C, K.(Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Một số tính chất chung của dầu lạc
Chỉ số I ốt 82-106
Chỉ số xà phòng hoá 188 - 195
Chỉ số a xêtila 8,5-9,5
Độ a xít tự do 0,02- 0,6%
Chỉ số khúc xạ (ND20) 1,4697-1,4719
Tỷ trọng ở 15
0
C 0,917- 0,921
Tỷ trọng ở 20
0
C 0,910- 0,915
Độ nhớt trung bình 20
0
C 71,07- 86,15 centipoise
Độ chuẩn 26 - 32
0
C
Nhiệt lượng nóng chảy 21,7 cal/g (không hiđrô hoá)
24,7cal/g (hiđrát hoá)
Màu sắc Vàng nhặt
Mùi vị và hương thơm Gần như hạt dẻ
* Prôtêin của lạc
Bảng 1.4: A xít amin không thay thế được trong protein 1 số hạt có dầu (g/16gN)
A xit amin
Hàm lượng
chuẩn lý tưởng
Hàm lượng trong hạt
Lạc Đỗ tương Bông
Ly cin 4,2 3,0* 6,8 4,1*
Triptophan 1,4 1,0* 1,4 1,2*
Phenylalanin 2,8 5,1 5,3 4,7
Metionin 2,2 1,0* 1,7* 1,6*
Trionin 2,8 2,6* 3,9 4,7
Lơxin 4,8 5,7 8,0 6,6
I zolơxin 4,2 4,6 6,0 3,7
Valin 4,2 4,4 5,3 5,3*
(* Thiếu so với tiêu chuẩn lý tưởng. Milner, 1962)
Như vậy, thành phần a xít amin của prôtêin lạc phải cần được bổ xung thêm
lycin, Triptophan, Metionin, Trionin để phù hợp với tiêu chuẩn lý tưởng, trong đó
quan trọng nhất là Metionin.
Về mặt cung cấp năng lượng: Do hạt lạc có hàm lượng dầu cao, nên năng lượng
cung cấp rất lớn như: trong 100gam hạt lạc, cung cấp 590cal, cũng lượng như vậy
trong hạt đậu tương cung cấp 411cal, gạo tẻ cung cấp 353cal, thịt lợn nạc cung cấp
286cal, trứng vịt cung cấp 189cal
Do có giá trị dinh dưỡng cao lạc từ lâu loài người đã sử dụng như một nguồn
thực phẩm quan trọng. Sử dụng trực tiếp (quả non luộc, quả già, rang, nấu ) ép dầu
để làm dầu ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và thực phẩm khác. Gần đây nhờ có
công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến thành rất nhiều mặt hàng thực
phẩm có giá trị từ lạc, như rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc, kẹo lạc
1.2 Giá trị trong nông nghiệp
* Giá trị chăn nuôi
Giá trị làm thức ăn gia súc của lạc được đánh giá trên các mặt: Khô dầu lạc, thân
dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi. Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh
dưỡng tương dương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà vịt công nghiệp rất tốt. Như
vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏ quả lạc để làm
thức ăn cho gia súc, góp phần quan trọng trong việc phất triển chăn nuôi.
* Giá trị trồng trọt
Lạc là cây trồng có ý nghĩa đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt với các
nước nghèo vùng nhiệt đới. Ngoài giá trị kinh tế của lạc, đối với ép dầu, trong công
nghiệp thực phẩm, trong chăn nuôi, lạc còn có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo đất do
khả năng cố định đạm (N) của nó. Cũng như các loại họ cây đậu khác, rễ lạc có thể
tạo ra các nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là vi khuẩn
Rhizobium vigna. Rhizôbium vigna có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ đậu. Nhưng
với lạc thì tạo được nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn cả.
Theo nhiều tác giả, lượng đạm cố định của lạc có thể đặt 70-110kgN/ha/vụ.
Chính nhờ có khả năng này mà hàm lượng của prôtêin ở hạt và các bộ phận khác của
cây cao hơn nhiều loại cây trồng khác. Cũng nhờ khả năng cố định đạm, sau khi thu
hoạch thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất
tăng và khu hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với cây trồng
sau.
1.3. Giá trị trong công nghiệp
Lạc phục vụ cho công nghiệp ép dầu, dầu lạc được dùng làm thực phẩm và chế
biến dùng cho các ngành công nghiệp khác như (chất dẻo, xi mực in, dầu diesel, làm
dung môi cho thuốc bảo vệ thực vật ), ngoài ra khô dầu lạc còn được dùng làm thức
ăn cho người và chăn nuôi gia súc và gia cầm. Khô dầu lạc, đậu tương dùng chế biến
thành đạm gồm 3 nhóm(bột, bột mịn, thô, đạm cô đặc), khô dầu lạc, đỗ tương có thể
chế biến thành hơn 300 sản phẩm khác nhau phục vụ cho các ngành thực phẩm, trên
300 loại sản phẩm công nông nghiệp.
2. Nguồn gốc phân loại
2.1 Nguồn gốc lịch sử
Cây lạc có nguồn gốc lịch sử ở Nam Mỹ. Vào thời kỳ phát hiện Châu Mỹ, cùng
vói sự thâm nhập của Châu Âu vào lục địa mới, người ta mới biết cây lạc.
"
. Bartolomé Las Casas (khoảng 1527) đã nhận xét: Cây lạc
(người Tây Ban Nha gọi là Mani) là một cây thực phẩm quan trọng thường được dân
bản xứ trồng trọt. Tác giả có thể là người Châu Âu đầu tiên gặp cây lạc ở Châu Mỹ.
Nhưng tác phẩm của ông mãi tới năm 1875 mới được xuất bản. Không có tài liệu về
sự du nhập đầu tiên của cây lạc vào Châu Âu. Việc sưu tập và phổ biến các loại cây
trồng có ích từ Châu Mỹ sang Châu Âu được thực hiện sau chuyến đi thứ nhất của
Columbus. Vậy chắc chắn cây lạc được đưa vào Châu Âu vào thế kỷ XVI.
Krapovickas,1968 cho rằng: Vùng Bolovian (Nam Bolovian- Tây bắc Achentina) là
vùng nguyên sản của loài lạc trồng. Theo Ông, vùng này có 5 trung tâm phát nguyên
của lạc trồng. Gregory (1976) bổ sung thêm trung tâm thứ 6, đó là các vùng:
1. Vùng Gnarani (Paraguay, Parana).
2. Vùng Goias và Minas Gerais (tocantin, san.Fraxisco).
3. Vùng Rondonia và tây bắc Manto (nam Amazôn).
4. Vùng Bôlôvian (tây nam Amazôn).
5. Vùng Pêruvian (trên Amazôn và ven biển miền tây).
6. Đông bắc Bzaxin (bổ sung của Gregory 1976)
Theo Gregory (1979-1980), tất cả các loài hoang dại thuộc chi Arachis tìm thấy
ở Nam Mỹ và phân bố từ Đông Bắc Bzaxin đến Tây- Nam Achentina và từ bờ biển
nam Uruguay đến Tây bắc Manto Grosso. Tức là phía nam sông Amazôn và từ sườn
đông Andes Hồ đại Tây Dương.
2. Phân loại
Lạc thuộc họ đậu: Fabacaea.
Chi: A rachis.
Loài lạc trồng: Arachis hypogaea.
Loài lạc trồng Arachis hypogaea được mô tả như mộ loài thực vật là do
Linnaeus công bố năm 1753, và trong một thời gian dài người ta chỉ biết 1 loài trong
chi A rachis, tức là loại lạc trồng (Arachis hypogaea). Năm 1841 (gần 90 năm sau),
BenTham mô tả 5 loài dại phát hiện ở Bzaxin là các loài A.glabrala, A.piessilla,
A.prôsttrala, A. villosa và A. tuberosa. Ông đã xếp chúng thành 3 chi là: chi Arachis,
hạt < 50g.
- Căn cứ vào thời gian sinh trưởng, Ông chia ra làm 3 nhóm chính như: nhóm
chín sớm có thời gian sinh trưởng < 120 ngày; nhóm chín trung bình có tgst từ 130 -
140 ngày; nhóm chín muộn có tgst > 150 ngày.
* Quan điểm của nhóm tác giả Krapovickas (1958, Gregonry(1951)
Gần dây, kết hợp các phương pháp phân loại trên, các tác giả Krapovickas
(1958) và Gregonry (1980) đã mô tả 4 dạng thực vật của loài lạc trồng và xếp thành 2
loài phụ với 4 thứ như sau: Loài lạc trồng Arachis hypogaea gồm 2 loài phụ:
- Loài phụ hypogaea gồm 2 thứ:
+ Thứ Hypogaea: Dạng Virginia (Gregory;1951); (Bolivian, Amazonian).
+ Thứ Hirsuta (Peruvian).
- Loài phụ Pastigiata gồm 2 thứ:
+ Thứ Patigiata; Dạng Valencia.
+ Thứ Vulgaris:DạngSpanish(Gregory,1951),(Guaranian,Goias và Minas
Gerais; Tây bắc Bzaxin).
* Phân loại Grygonry và Bunting (1951)
Hệ thống phân loại dựa trên cơ sở tập tính phân cành của Gregory và
Bunting(1951) được phổ biến rộng rãi hơn cả. Theo hệ thống phân loại này, thì loài
phụ Hypogaea có thứ hypogaea thuộc dạng Virginia- Phân nhánh xen kẽ. Loài phụ
Fastigiata có đặc điểm phân nhánh liền hoa với dạng: Valencia và Spanish.
Đặc điểm chính của các loại hình này như sau:
* Nhóm phân nhánh xen kẽ (Dạng virginia).
- Thân chính không bao giờ có hoa;
- Trên cành thứ cấp, 2 đốt đầu tiên luôn phát sinh cành dimh dưỡng. Đốt mang
cành và đốt mang hoa xen kẽ nhau theo thứ tự 2 đốt mang cành dinh dưỡng xen kẽ
với 2 đốt mang cành sinh thực. Cứ kế tiếp như vậy tới gần đầu cành tận cùng bằng 1
đốt bất dục.
- Số lượng cành và số cấp cành nhiều, cấp cành có thể đạt tới n+4, n+5.
- Dạng cây có thể dạng bò (phổ biến) hoặc dạng nửa bò, dạng bụi.
+ Một số đặc điểm phụ (không áp dụng cho giống lai).
hơn 2. Nói chung, nhạy cảm với bệnh đốm lá. Không có giống nào chống virus.
Bảng 1.6: Phân biệt giữa dạng valencia (loại Fastigiata) với dạng Spanish (loại
vulgaris) thuộc loài phụ Fastigiata theo Bunting
Spanish (A.hypogaea và vulgaris) Valencia (A. hypogaea và pastigiata)
- Thân chính ít hoa,chiều cao thân và
2 cành cấp I đầu tiên gần bằng nhau.
- Thân chính thường cao hơn 2 cành cấp I
đầu tiên.
- Số cành cấp I thường đạt 4-6 cành. - Số cành cấp I ít, thường dưới 4 cành; số
cành cấp II (n+2) thường ít.
- Thân dứng ít nghiêng ngả. - Thân thường có màu đỏ tím.
- Lá chét nhỏ hơn và xanh đậm hơn.
- Quả phần lớn 2 hạt. Rất ít quả 3 hạt. - Tỷ lệ quả 3-4 hạt tương đối cao, số quả
2 hạt vẫn là chính. Có 1 số giống quả 3-4
hạt chiếm >50% tổng số quả.
* Phân biệt các giống lạc
Các tính trạng di truyền độc lập đối với ngoại cảnh được sử dụng có ích nhất để
phân biệt các giống lạc khác nhau là khích thước và hình dạng quả, số hạt trong quả
và màu sắc vỏ lụa. Khích thước quả thay đổi tương đối lớn:
- Loại quả rất to, có đường kính trên 20mm.
- Loại quả to, có đường kính trên 15-20mm.
- Loại quả trung bình, 10-15 mm.
- Loại bé < 10 mm.
Trọng lượng quả biến động P
100
hạt = 80 - 250g.
Quả thắt eo lưng và eo bụng, eo có thể rõ hoặc không, sẽ cho những hạt có 1
phần dẹt ở chỗ tiếp xúc với hạt bên cạnh, quả có eo sâu trái lại cho những hạt có hình
dạng đều đặn, mỏ quả cũng có hình dạng khác nhau tuỳ giống. Đường vân trên vỏ
quả có thể rõ hoặc mờ, đều hoặc không đều. Màu sắc vỏ lụa cũng là 1 chỉ tiêu để
- Nhóm chín sớm có thời gian sinh trưởng 120 ngày.
- Nhóm chín trung bình có thời gian sinh trưởng từ 130 - 140 ngày.
- Nhóm chín muộn có thời gian sinh trưởng > 150 ngày.
2.3 Phân vùng sản xuất lạc
Lạc dễ trồng và thích ứng rộng với các vùng sinh thái khác nhau, từ ôn đới đến nhiệt
đới. Cây lạc trồng phân bố rất rộng từ 40
0
vĩ bắc đến 40
0
vĩ nam, cao hơn 1000m so
với mặt nước biển. Trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói giêng phân bố trồng lạc
theo vùng sinh thái khác nhau.
3. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước
3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, lạc có vị trí quan trọng.
Mạc dù lạc đã có từ lâu đời, nhưng tầm quan trọng kinh tế của lạc chỉ mới được xác
định trong khoảng 125 năm trở lại đây. Khi công nghiệp ép dầu lạc được phát triển ở
Pháp (xưởng ép dầu ở Max xây) bắt đầu nhập cảng lạc từ Tây Phi để ép dầu, mở đầu
thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu được xây dựng với tốc
độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới.
Trong những năm gần đây, người ta chú ý nhiều đến prôtêin trong hạt lạc, nhân
loại đặt nhiều hy vọng vào các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đói prôtêin trước mắt
và trong tương lai.
Trong các cây bộ đậu của thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 sau
cây đậu tương, với diện tích 22-26 triệu ha/năm, sản lượng 37.144,13 tấn (Bảng 1.7).
Bảng 1.7: Tình hình sản xuất lạc trên thế giới ( 2002 - 2007)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Vùng sản xuất lạc chủ yêu trên thế giới là vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới của lục
địa Á-Phi. Song năng suất vùng này không cao (Bảng8).
- Về diện tích, Trung Quốc có diện tích lớn nhất năm 2005 là 4.871,8 triệu ha,
tiếp sau đó là Việt Nam có 269,6 nghìn ha và Argentina, đứng thứ 4 là Braxin có diện
tích 0.125,5 triệu ha.
- Năng suất, Trung Quốc là nước có năng suất cao nhất thế giới đặt từ 30,0-
38,50 tạ/ha, tiếp đến là Argentina năng suất đạt 21 - 28 tạ/ha. Sau đó là Braxin năng
suất đạt từ 22,60- 23,26 tạ/ha.
- Về sản lượng, cao nhất là Trung Quốc và Argentina là 2 nước có sản lượng lớn
nhất trên 14 triệu tấn.
Như vậy, hướng sản suất lạc trên thế giới trong những năm tới tốc độ phát triển
sẽ chậm hơn so với những năm trước. Diện tích trồng lạc sẽ có thay đổi nhiều do các
chính sách quản lý, thương mại. Năng suất là chỉ tiêu để phản ánh tiến bộ nghiên cứu
về cây lạc và cây đậu tương, và chính sách là yếu tố quan trọng quyết định tương lai
của cây trồng này. Những yếu tố quan trọng quyết định năng suất cao là:
- Cải tiến kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt
đới, đặc biệt các nước đang phát triển.
- Chú trọng đến công tác chọn tạo giống mới có năng suất cao hơn, phẩm chất
tốt, giống phải phù hợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sản suất hàng
hoá, cơ giới hoá sản suất. Thuốc trừ sâu, trừ cỏ, bệnh tốt hơn.
- Chế biến, đi sâu vào lĩnh vực chế biến dầu thực vật, hỗ trợ và giúp đỡ các nước
đang phát triển về xuất khẩu và nhập khẩu lạc nhân.
Trong tương lai, sự tác động của công nghệ sinh học, di truyền học phân tử đối
với cây trồng có thể mở ra 1 tiềm năng mới trong tương lai phát triển cây lạc, cây đậu
tương ccó thể làm tăng năng suất cây lạc, cây đậu tương lên nhiều thông qua các
giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Công nghệ sinh học cũng là yếu tố
quan trọng để cải tiến chất lượng đậu tương, lạc. Những tiến bộ kỹ thuật này cũng có
thể cải tiến hiệu quả sản suất và tiêu dùng sản phẩm lạc, đậu tương.
3.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Cây lạc được du nhập vào nước ta và được trồng từ bao giờ không có tài liệu xác
2000 244.900 14,50 355.30
2001 244.600 14,84 363.10
2002 246.700 16,23 400.00
2003 242.800 16,65 406,20
2004 255.000 16,51 489,00
2005 269,600 18,10 489,30
2006 249.300 18,70 464,80
2007 246.700 19,86 505,00
(Nguồn: Niên giám thống kê 2008)
Trong những năm chiến tranh (1955- 1975) diện tích lạc cả 2 miền Nam- Bắc
năm cao nhất chỉ đạt 86.000 ha, nhưng ngay sau ngày thống nhất đất nước, sản xuất
lạc tăng nhânh và trong những năm 80 diện tích lạc đã vượt lên 200.000 ha với sản
lượng trên 200.000 tấn/năm. Đến năm 1994 diện tích đạt 246,600 nghìn ha, sản lượng
đạt trên 300.000 tấn với mức tăng trưởng nhanh như vậy, sản phẩm lạc không chỉ đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng.
Trong 10 năm trở lại đây,(1997- 2007) năng suất cao nhất là (19,86tạ/ha) năm
2007; thấp nhất là (13,86tạ/ha )năm 1997. Như vậy, có thể nhận thấy rằng diện tích
giảm, năng suất tăng. Sản lượng đạt 505 nghìn tấn năm 2007.
Theo số liệu thống kê năm 2008 của cục thống kê. Việt Nam hiện nay có 8 vùng
trồng chính (Bảng 1.10).
Bảng 1.10: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của các vùng trọng điểm
ở Việt năm 2008
Chỉ tiêu
Vùng
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản Lượng
(nghìn tấn)
prôtêin trên thế giới, vì vậy nguồn prôtein thực vật là nguồn đóng góp lớn trong cân
bằng prôtêin cho nhân dân, lạc rễ trồng phù hợp với khí hậu nhiệt đới - sẽ là nguồn
thực phẩm giầu prôtêin chủ yếu của chúng ta.
Đất đai nông nghiệp của ta bị rửa trôi và phong hoá nhanh, hàm lượng mùn và
dinh dưỡng thấp - nhất là đất bạc màu, đất phù sa cổ, đất dốc tụ Lạc trồng là cây cải
tạo đất quan trọng trong hệ thống canh tác đa canh ở nước ta.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế của lạc, vấn đề là phải tạo vùng sản xuất tập trung
để nâng cao tỷ lệ lạc thương phẩm và phấn đấu nâng cao năng suất. Cùng với việc
hợp tác quốc tế và công tác nghiên cứu chọn tạo giống trong nước, chúng ta đã phổ
biến một số giống cải tiến trong sản xuất như B5000, 75/23, V79, MD7 Góp phần
nâng cao ổn định năng suất lạc. Trước mắt, với mức đầu tư như hiện nay, nếu năng
suất lạc bình quân 1,3 - 1,7 tạ/ha thì sẽ có khả năng cạnh tranh với các cây trồng
khác, nhất là ở đất bạc màu, đất cằn
* Phương hướng sản xuất lạc của Việt Nam đến năm 2010
Thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp ở Việt Nam cho đến năm 2010 về
sản xuất mặt hàng nông sản (trong đó lạc là quan trọng). Xuất khẩu lạc đạt 40% tổng
sản lượng lạc của cả nước và đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cả nước ở nhiều dạng
khác nhau. Chính vì vậy mà sản xuất lạc của Việt Nam ngày càng tăng. Dưới đây là
dự kiến sản xuất, diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Việt Nam đến năm 2005 &
2010.
- Diện tích: 400. 000ha.
- Năng suất bình quân 25 - 30 tạ/ha.
- Sản lượng: 900.000tấn/ha.
- Kim ngạch xuất khẩu đạt:150 triệu USD (nguồn: Viện KHKT Nông Nghiệp
Việt Nam).
Để thực hiện chiến lược này, nhà nước ta cần có biện pháp đổi mới bộ giống,
đưa nhanh các giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với đặc điểm từng
vùng sinh thái.
+ Ưu tiên phát triển lạc ở các vùng thâm canh, chuyên canh, các vùng sản xuất
tập trung cho chế biến và xuất khẩu.
Cây lạc lớn lên nhờ mầm sinh trưởng ở ngọn cây và ngọn cành, thân lạc mền,
lúc còn non thì tròn, sau khi ra hoa phần trên thân có cành rỗng, hoặc có cạnh. Thân
có 15-25 đốt, ở phía dưới gốc đốt ngắn, ở giữa và phía trên thân đốt dài, thân thường
có màu xanh hoặc màu đỏ tím, trên thân có lông tơ trắng, nhiều hay ít tuỳ thuộc vào
giống, tuỳ vào điều kiện ngoại cảnh. Thân lạc tương đối cao và phụ thuộc chủ yếu
vào đặc điểm di truyền giống.
Theo Min kevic (1968) thân lạc có thể có chiều cao tới 2m. Những quan sát ở
nước ta cho thấy những giống có dạng bụi thương có chiều cao đạt 70-150cm, dạng
đứng có chiều cao 40-80cm, dạng bò 15-30cm. Trường hợp lạc bị vóng lốp, lạc đứng
có thể cao 100-150cm; trong trường hợp này cây lạc thường hay bị đổ.
Tốc độ sinh trưởng chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
(thời kỳ cây con) và đạt cao nhất trong thời kỳ hoa rộ (khoảng 10-15 ngày), tốc độ
tăng trưởng chiều cao thân trong thời kỳ đầu sinh trưởng (2-5 lá) đạt 0,1-0,3 cm/ngày;
thời kỳ trước ra hoa (5-8lá) đạt 0,3- 0,6 cm/ngày. Tốc độ tăng nhanh trong thời kỳ ra
hoa và cuối thời kỳ ra hoa rộ, dặt tốc độ cao nhất khoảng 0,7-1,5 cm/ngày. Ngay sau
đó, khi cây chuyển sang giai đoạn đâm tia, hình thành quả rộ, tốc độ tăng chiều cao
thân giảm rõ rệt, chỉ còn khoảng 0,2-0,5 cm/ngày. Trong thời kỳ chín, nếu gặp điều
kiện thuận lợi, tốc độ tăng chiều cao thân có thể đạt 0,3-0,7cm/ ngày trong thời kỳ thu
hoạch .
* Sự phát triển cành
Khả năng đam cành của lạc rất lớn, nhất là những giống thuộc loại phụ Hypogaea,
những giống này có thể có tới 4-7 cấp cành với tổng số cành có thể đạt 20-30 cành.
Loại phụ Pastigiata có số cành ít hơn thường chỉ có 2,3 cấp cành (chủ yếu chỉ có 2
cấp cành n+1; n+2) với tổng số cành 6-12. Ở Việt Nam, lạc trồng chủ yếu thuộc
nhóm Spanish, thân đứng có 2 cấp cành với tổng số cành 6-10 cành (thường là 4 - 6
cành cấp I và 2 - 4cành cấp 2). Quy luật phân cành của lạc như sau (loài phụ
Fastigiata).
+ Cành cấp 1: thường có 4- 6 cành.
Cành cấp 1, mọc từ nách lá thân chính. Hai cành đầu tiên mọc từ nách lá mầm.
Vì 2 lá mầm gần như mọc đối nên 2 cành này cũng ở vị trí gần như đối nhau qua thân