đặc điểm môi trường kinh doanh và khách hàng của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển khu vực phúc yên - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1: Những lý luận chung về rủi ro tín dụng
trong NHTM

1.1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1. Khái niệm rủi ro trong ngân hàng thương mại
Trong kinh doanh, chúng ta cần phải đưa ra những quyết định,
mỗi quyết định đó lại tiềm ẩn những rủi ro. Để thành công, chúng ta
không phải chỉ tìm cách lẩn tránh những rủi ro này, mà là làm sao
kiểm soát được chúng.
Vậy rủi ro là gì?
Khái niệm rủi ro nói chung theo từ điển tiếng việt “rủi ro là điều
không lành, không tốt bất ngờ xảy ra”. Theo nhà kinh tế học H. King,
rủi ro là kết quả bất lợi có thể đo lường được. Theo cuốn “Phương
pháp bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” của Nguyễn
Hữu Thân, rủi ro là sự bất trắc gây mất mát thiệt hại. Các khái niệm
trên phản ánh khía cạnh nào đó của rủi ro nhưng có thể khái quát lại
là: rủi ro là sự xuất hiện của một biến cố không mong đợi gây thiệt
hại cho một công việc cụ thể.
Đối với ngân hàng thì sao? Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh
nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa
là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất
của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro. Bản thân người quản lý
ngân hàng và người lập chính sách cần biết và hiểu những rủi ro nay
để tìm cách hạn chế những đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là với
ngân hàng đó và sau là toàn bộ nền kinh tế.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Có thể nói, rủi ro của ngân hàng là khả năng xảy ra những tổn
thất cho ngân hàng, có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan

1.1.2. Tác động của rủi ro tới hoạt động của ngân hàng
Rủi ro có tác động rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng
thương mại. Sau đây là một vài dẫn chứng về tổn thất trong hoạt
động của ngân hàng.
• Vào những năm 70 các NHTM nước ngoài cho các nước
kém phát triển vay hàng trăm tỷ đô la. Vào những năm 80 những
khoản vay này trở nên khó thu hồi, các ngân hàng bị thua lỗ rất lớn.
• Ngân hàng Ilinoi năm 1984, ngân hàng BOA năm 1991 đều
gặp phải sự giảm sút rất lớn của tiền gửi, dẫn đến mất khả năng
thanh toán.
• 1987 Merrill Lynch mất 350 triệu USD do viêc nắm giữ các
chứng khoán thế chấp khi lãi suất tăng đột ngột.
• Đầu những năm 1990, các quĩ tín dụng của Việt Nam sụp đổ
hàng loạt gây ra tổn thất lớn cho những người gửi tiền tiết kiêm.
• Vào năm 1997, nhiều NHTM Việt Nam do mở rộng lĩnh vực
cho vay tràn lan đã rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi cao.
Rủi ro gắn liền với hoạt động của NHTM, nó phản ánh các tình
huống xảy ra ngoài dự kiến, có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Khi
tổn thất xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng giảm sút, dẫn đến
tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu
giảm giá nếu không kịp thời chấn chỉnh sẽ có thể kéo theo bán hàng
loạt các cổ phiếu trên thị trường là điểm mở đầu của quá trình mua
lại, sát nhập hoặc có thể thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín
dụng, lãi suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với hàng loạt người
gủi tiền rút tiền khỏi ngân hàng, khi đó buộc ngân hàng phải đóng
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cửa hoặc tuyên bố phá sản. Tổn thất ở mức thấp, làm giảm quỹ dự
phòng giảm vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với tình huống

Rủi ro tồn đọng vốn xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho
vay và đầu tư làm thu nhập của ngân hàng giảm sút.
1.1.3.6. Rủi ro khác
Các rủi ro khác là khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn
trong thanh toán, hoả hoạn…
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân
hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả,
hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
- Theo hình thức quản lý thì rủi ro tín dụng bao gồm hai loại:
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: Đối với rủi ro này ngân
hàng phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro, ước tính được
mức độ ảnh hưởng của rủi ro, đồng thời dự kiến được thời gian phát
sinh từ đó có những biện pháp phòng ngừa và hạn chế ở mực thấp
nhất thiệt hại có thể xảy ra cho ngân hàng. Những rủi ro này thường
ro tính chủ quan của con người gây ra, có thể do khách hàng gây ra
như kinh doanh kém hiệu quả hoặc quản lý yếu kém, có thể do
nguyên nhân từ phía ngân hàng như không tuân thủ nguyên tắc cũng
như quy trình thẩm định, năng lực, đạo đức cán bộ tín dụng…Thông
thường là do khách hàng gây ra rủi ro này.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Rủi ro tín dụng không kiểm soát được: Đây là loại rủi ro mà
ngân hàng không thể dự đoán trước được , không biết chúng sẽ xảy
ra vào thời điểm nào, cũng như không thể tính toán một cách chính
xác được những ảnh hưởng thiệt hại mà chúng gây ra. Những rủi ro

của KH.
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn.
- Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn.
- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng, không có khả năng hoàn
trả hoặc KH không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu
hồi còn nợ chậm hơn dự tính.
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt
quá nhu cầu dự kiến.
- Tài sản bảo đảm không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút
so với định giá khi cho vay. Có dấu hiện tài sản đã cho người
khác thuê, bán hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại.
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều
nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của NH.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều
kiện
• Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình
tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của KH
- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với
mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
- Nhiều thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay
mức độ hoạt động của KH.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý
như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập
trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện
đại, phương tiện giao thông đắt tiền.
- Thay đổi thường xuyên ban điều hành.
- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều

viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấu hiệu kém
lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn. Khoản cho vay có vấn
đề được xây dựng dựa trên quy định của ngân hàng. Trong quá trình
thực hiện hợp đồng vay vốn, cán bộ tín dụng thường xuyên kiểm tra
đánh giá các hoạt động của dự án có tuân thủ các điều đã ghi trong
hợp đồng tín dụng không. Có như vậy mới hạn chế được khách
hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc đầu tư vào các hoạt động
kinh doanh có rủi ro cao dễ dẫn đến họ không có khả năng trả nợ cho
ngân hàng.
* Nợ quá hạn: là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi
đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là
biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng, nó là kết quả của mối
quan hệ tín dụng không hoàn hảo, khi người vay vi phạm nguyên tắc
tín dụng là phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, gây mất lòng
tin của người cấp tín dụng với người được cấp tín dụng. Nếu tỷ lệ nợ
quá hạn càng cao thì càng có nhiều các khoản nợ chưa được thanh
toán đùng thời hạn như trong hợp đồng khi đó rủi ro của ngân hàng
càng lớn. Thường thì các ngân hàng thường dùng chỉ tiêu nợ quá
hạn để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/Dư nợ
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng cho vay thì
có bao nhiêu đơn vị tiền tệ ngân hàng không thể thu hồi đúng hạn tại
thời điểm xác định. Chỉ tiêu này chỉ phản ánh phần nào của nợ quá
hạn. Để hiểu được bản chất của nợ quá hạn ta phải hiểu được
nguyên nhân cụ thể của nó. Thứ nhất là do kỳ hạn nợ không đúng,
không phù hợp với chu kỳ thu nhập của người vay. Khi đến hạn trả
nợ người vay không thể trả được nợ, gây ra nợ quá hạn. Thứ hai là

rủi ro tín dụng, là sự mất mát vốn trong hoạt động tín dụng. Thể hiện
ở chỗ khoản vay không thu hồi được. Tổn thất tín dụng được đo
lường bằng chỉ tiêu tổn thất tín dụng ròng:
Tổn thất tín dụng = Khoản cho vay bị mất – Giá trị thu hồi được
1.2.4. Các mô hình phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng
• Phân tích tín dụng
Đối với mỗi đơn xin vay, cán bộ tín dụng cần phải đi sâu vào
phân tích mức độ tín nhiệm của người đi vay, phải xem xét xem hợp
đồng tín dụng được ký kết có đúng đắn, hợp lý không và ngân hàng
có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản bảo đảm. Một số khách hàng có
tín nhiệm cao thì không cần có bảo đảm tín dụng.
• Kiểm tra tín dụng
Kiểm tra tín dụng không phải là việc thừa, lãng phí mà rất cần
thiểt để hình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành
mạnh. Nó không những giúp cho nhà quản lý nhận ra những vấn đề
một cách nhanh chóng mà còn có tác dụng kiểm tra thường xuyên
sem cán bộ đã có chấp hành đúng chính sách cho vay của NHNN.
Mặt khác, nó giúp Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành trong
việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro với NH từ đó đưa ra biện pháp
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phòng chống những định hướng chính sách và chiến lược tăng vốn
chủ của NH.
• Xử lý tín dụng có vấn đề:
Mặc dù NH đã XD cơ chế đảm bảo an toàn lâu dài, nhưng đều không
tránh khỏi 1 số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là
những khoản tín dụng có vấn đề nhiều khoản tài sản bảo đảm tín
dụng giảm đáng kể. Các chuyên gia NH sẽ tìm ra các giải pháp nhằm
thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề. Giải pháp tối ưu phải bảo

Chỉ tiêu này đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản
của Doanh nghiệp
- Vòng quay hàng tồn kho
Doanh thu hàng năm
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
- Kỳ thu nợ bình quân :
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân mà công ty phải chờ đợi kể
từ khi bán hàng dựa cho đến khi thu được tiền
Tài khoản phải thu bình quân
Kỳ thu nợ bình quân =
Doanh số bán chịu hàng ngày bình quân
- Vòng quay tổng tài sản :
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực của Doanh nghiệp trong việc sử
dụng tổng tài sản để tạo doanh thu là ntn?
Chỉ tiêu này càng cao càng có lợi so với các đối thủ cạnh tranh.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh thu hàng năm
Vòng quay tổng tài sản =
Tổng tài sản.
+ Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy : phản ánh quy mô so với vốn cổ phần
của DN, đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ
của Doanh nghiệp trong dài hạn
Tổng dư nợ
Tỷ số nợ =
Tổng tài sản
Chỉ số này còn cao phản ánh hoạt động của Doanh nghiệp dựa
vào nguồn vốn vay càng lớn. Vậy khi cho vay phải xem xét thận trọng

Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng tổng tài
sản của Doanh nghiệp là ntn ?
Tóm lại, các NH luôn được mong đợi cho tất cả các khách hàng
có chất lượng vay tiền và cho vay luôn là chức năng KT cơ bản của
NH, nhưng còn chứa dựng tiềm ẩn rủi ro cao. Để có thể kiểm soát
được rủi ro thì chức năng cho vay của NH phải được thực hiện 1
cách chặt chẽ nhằm tuân thủ chính sách và thực hành hoạt động của
NH.
Các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng :
Trước những năm 80 hầu hết các NH chỉ dựa vào phương pháp
định tính để đánh giá rủi ro tín dụng người vay. Phương pháp này
vừa mất thời gian, tốn kém và mang tính chủ quan. Chính vì vậy, các
NH không ngừng cải tiến các phương pháp đánh giá rủi ro. Ngày nay
một số NH đã sử dụng mô hình cho để lượng hoá rủi ro tới người
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay. Mô hình này cho phép xử lý nhanh một khối lượng đơn xin vay
lớn, chi phí thấp, khách quan dưới đây là một số mô hình cơ bản mà
NH hay sủ dụng.
•Mô hình điểm số Z
Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối
với người vay và phụ thuộc vào:
1 Trị số của các chỉ số tài chính của ngưòi vay ( Xj)
2 Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác
suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ:
Z1 = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
với
X1 = Tỷ số “ Vốn lưu động ròng / Tổng tài sản”

thường được sử dụng ở NH
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín
dụng
Điểm số
1 Nghề nghiệp của người vay
Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
Công nhân ít có kinh nghiệm.
Nhân viên văn phòng.
Sinh viên.
Công nhân không có kinh nghiệm.
Công nhân bán thất nghiệp.
10
8
7
9
4
2
2 Trạng thái nhà ở
Nhà riêng
Nhà thuê hay căn hộ
Số người cùng bán hay người thầu
6
4
2
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3 Xếp hạng tín dụng
Tốt
Trung bình

4
2
8 Các khoản tại NH
Cả tài khoản tiết kiệm và phát hánh séc
Chỉ tài khoản tiết kiệm
Chỉ tài khoản phát hành séc
Không có
4
3
2
0
Khách hàng có điểm cao nhất là 43 điểm, thấp nhất là 9 điểm.
Giả sử mức 28 điểm là danh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng có tín dụng xấu, trên cơ sở đó NH hình thành 1 khung
chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số sau :
Tổng điểm số của khách hàng Quyết định tín dụng
Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng
29-30 điểm Cho vay đến 500$
31-33 điểm 1000$
34-36 điểm 2500$
37-38 điểm 3500$
39-40 điểm 5000$
41-43 điểm 8000$
Mô hình này loại bỏ được sự nhận xét chủ quan trong quá trình
cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của NH. Tuy
nhiên mô hình này càng có 1 số nhược điểm không thể tự điều chỉnh
nhanh chóng để khách hàng ứng với nhiều thay đổi trong nền kinh tế

Từ đó suy ra, với xác suất vỡ nợ của TP công ty là 5% thì “ mức
thưởng chấp nhận rủi ro “ tương ứng phải là 5,8%
∆K = k – i = 15,8% -10,0% = 5,8%
Vậy khi xác suất hoàn trả ( P ) giảm thì xác suất vỡ nợ ( 1 – p )
tăng đòi hỏi mức chênh lệch ∆ giữa k và i sẽ tăng lên.
Để phù hợp với thực tế ta có thể mở rộng ví dụ : khi công ty vỡ
nợ NH không mất toàn bộ gốc, lãi. Nhiều khoản tín dụng được quyền
thu nợ = TS cầm cố hay thế chấp nều người vay vỡ nợ do đó nếu gọi
β là tỉ lệ thu hồi được gốc, lãi trong trường hợp vỡ nợ. Ví dụ đối với
trái phiếu đầu cơ
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thì β = 0,4
Nhà quản trị NH sẽ đạt được kết quả như nhau khi đầu tư vào
TP công ty hay TP khi bạc khi:
β ( 1 + k )(1 – p ) + p ( 1+ k ) = 1 + i
Với β( 1+k )(1-p) là khoản thu dự tính khi con nợ vỡ nợ. Vậy nếu
khoản tín dụng có bảo đảm = TS (β > 0), thì “ mức thưởng chấp nhận
rủi ro “đối với tín dụng phải giảm ứng với xác suất rủi ro là ( 1 – P) .
Bảo đảm tín dụng là phương pháp kiểm soát rủi ro vỡ nợ, có vai trò
thay thế trực tiếp “ mức thưởng chấp nhận rủi ro “ trong việc ấn định
mức lãi suất tín dụng.
Để thấy được điều này chúng ta tính “ mức thưởng chấp nhận rủi
ro và ∆” như sau :
(1 + i )
∆=k-i = - ( 1+ i )
(β + p – pβ)
Theo ví dụ đang xét khi i = 10% , P= 0,95 ; β = 0,9 → ∆ = 0,6%
Ta nhận thấy rằng giữa β và p có thể thay thế cho nhau. Điều này

)100,01(
+
+
= 0,05
Giả sử nhà quản lý NH tìm được xác suất vỡ nợ đối với tín dụng
hay TP có kỳ hạn 2 năm, khi đó nhà quản lý phải dự tính được xác
suất xảy ra vỡ nợ của TP trong năm thứ 2 trên cơ sở xác suất không
vỡ nợ năm 1. Xác suất vỡ nợ của Tp trong năm bất kỳ gọi là “ XS vỡ
nợ cận biên “ . Đối với TP kỳ hạn 1 năm thi ( 1 – P
2
)= 0,57 vừa là
xác suất vỡ nợ cận biên vừa là xs vỡ nợ tích luỹ. C
p
của năm 1. Đối
với khoản tín dụng 2 năm thì xác suất vỡ nợ cận biên năm 2 là ( 1 –
P
2
). Ta xem xét phương pháp để nhà quản lý NH có thể dự tính
được P
2
. Giả định 1 – P
2
= 0,07 nghĩa là
1 – P
1
=0,05 = XS vỡ nợ năm 1
1 – P
2
=0,07 = XS vỡ nợ năm 2
Vậy xs không vỡ nợ từ thời điểm 0 đến cuối năm 2 là P

hạn của lãi suất. Ta xem đồ thị dưới đây. Các tuyến lãi suất chiết
khấu công ty và CP
Từ đồ thị ta thấy khi kỳ hạn TP càng dài thì lãi suất chiết khấu
cua CP và công ty càng phát triển. Ta phải xây dựng xác suất vỡ nợ
đối với TP công ty có kỳ hạn 2 năm. Ta nhìn đường lãi suât của
TPCP. Điều kiện đế xảy ra kd chênh lệch lãi suất là thu nhập từ
TPCK kỳ hạn 2 năm phải = Thu nhập dự tính từ việc đầu tư liên tiếp
vào TPCK kỳ hạn 1 nằm trong vòng 2 năm. Ta tính được lãi suất dự
tính áp dụng cho năm thứ 2 năm. Ta tính được lãi suất dự tính áp
dụng cho năm thứ 2 là (1+i
2
)
2
= (1+i
1
)(1+f
1
).
(1+i
2
)
2

=

Thu nhập từ TP chiết khấu có kỳ hạn 2 năm i
2
= 11%
(1+i
1

Kỳ hạn (năm)
Mức lãi suất %
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mức lãi suất dự tính tăng từ 10% ( i
1
) lên 12% f
1
trong năm tiếp
theo phản ánh mức lạm phát dự tính và các nhân tố khác trực tiếp
ảnh hưởng lên giá trị thời gian của tiền tệ. Ta có thể tính được lãi
suất kỳ hạn 1 năm ( của năm 2 ) của Tp công ty căn cứ vào tuyến lãi
suất của TP công ty. Tuyến lãi suất của Tp công ty nói lên mức lãi
suất của TP chiết khấu kỳ hạn 1 năm là k1 = 15,8%, lãi suất của TP
chiết khấu kỳ hạn 2 năm k
2
=18%Gọi C
1
là mức lãi suất kỳ hạn của TP
công ty năm 2, ta có :
1 + C
1
=
k1) (1
k2)2 (1
+
+
=
1,158
(1,180)2
=1,202.

=
202,1
120,1
=0,9318
XS dự tính xảy ra vỡ nợ năm 2 là; 1 – P
2
= 1-0,9318 = 0,0682
XS trả nợ khoản tín dụng kỳ hạn 1 năm được thực hiện sau 2
năm nữa là:
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
P
3
=
21
21
c
f
+
+
f
2
là thu nhập dự tính của Tp kho bạc thời hạn 1 năm được phát
hành sau 2 năm nữa.
c
2
là thu nhập dự tính của TP công ty thời hạn 1 năm được phát
hành sau 2 năm . Từ đó ta có thể hình thành được toàn bộ cấu trúc
kỳ hạn của XS vỡ nợ của TP công ty kỳ hạn 1 năm được phát hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status