Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển khu vực Phúc Yên - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1: Những lý luận chung về rủi ro tín dụng
trong NHTM

1.1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1. Khái niệm rủi ro trong ngân hàng thương mại
Trong kinh doanh, chúng ta cần phải đưa ra những quyết định, mỗi
quyết định đó lại tiềm ẩn những rủi ro. Để thành công, chúng ta không phải
chỉ tìm cách lẩn tránh những rủi ro này, mà là làm sao kiểm soát được chúng.
Vậy rủi ro là gì?
Khái niệm rủi ro nói chung theo từ điển tiếng việt “rủi ro là điều
không lành, không tốt bất ngờ xảy ra”. Theo nhà kinh tế học H. King, rủi ro
là kết quả bất lợi có thể đo lường được. Theo cuốn “Phương pháp bảo hiểm
và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” của Nguyễn Hữu Thân, rủi ro là sự
bất trắc gây mất mát thiệt hại. Các khái niệm trên phản ánh khía cạnh nào đó
của rủi ro nhưng có thể khái quát lại là: rủi ro là sự xuất hiện của một biến cố
không mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể.
Đối với ngân hàng thì sao? Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào
khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa là một
ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh
hưởng của rất nhiều rủi ro. Bản thân người quản lý ngân hàng và người lập
chính sách cần biết và hiểu những rủi ro nay để tìm cách hạn chế những đổ
vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là với ngân hàng đó và sau là toàn bộ nền kinh
tế.
Có thể nói, rủi ro của ngân hàng là khả năng xảy ra những tổn thất cho
ngân hàng, có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kiện. Ví dụ, liệu khách hàng có xin tái gia hạn khoản cho vay của anh ta hay
không? Tiền gủi có tăng trong tháng tới không? Giá cổ phiếu và thu nhập

•Vào những năm 70 các NHTM nước ngoài cho các nước kém phát
triển vay hàng trăm tỷ đô la. Vào những năm 80 những khoản vay này trở
nên khó thu hồi, các ngân hàng bị thua lỗ rất lớn.
•Ngân hàng Ilinoi năm 1984, ngân hàng BOA năm 1991 đều gặp phải
sự giảm sút rất lớn của tiền gửi, dẫn đến mất khả năng thanh toán.
•1987 Merrill Lynch mất 350 triệu USD do viêc nắm giữ các chứng
khoán thế chấp khi lãi suất tăng đột ngột.
•Đầu những năm 1990, các quĩ tín dụng của Việt Nam sụp đổ hàng
loạt gây ra tổn thất lớn cho những người gửi tiền tiết kiêm.
•Vào năm 1997, nhiều NHTM Việt Nam do mở rộng lĩnh vực cho vay
tràn lan đã rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi cao.
Rủi ro gắn liền với hoạt động của NHTM, nó phản ánh các tình
huống xảy ra ngoài dự kiến, có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Khi tổn thất
xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng giảm sút, dẫn đến tỷ suất lợi tức và
thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu giảm giá nếu không kịp
thời chấn chỉnh sẽ có thể kéo theo bán hàng loạt các cổ phiếu trên thị trường
là điểm mở đầu của quá trình mua lại, sát nhập hoặc có thể thay thế ban quản
lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng, lãi suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với
hàng loạt người gủi tiền rút tiền khỏi ngân hàng, khi đó buộc ngân hàng phải
đóng cửa hoặc tuyên bố phá sản. Tổn thất ở mức thấp, làm giảm quỹ dự
phòng giảm vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với tình huống trên buộc
ngân hàng phải giảm tiền lương hoặc giảm lao động.
1.1.3. Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.3.1. Rủi ro tín dụng
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải
chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy
đủ vốn và lãi. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không

chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy
đủ vốn và lãi.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
- Theo hình thức quản lý thì rủi ro tín dụng bao gồm hai loại:
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: Đối với rủi ro này ngân hàng
phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh
hưởng của rủi ro, đồng thời dự kiến được thời gian phát sinh từ đó có những
biện pháp phòng ngừa và hạn chế ở mực thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra cho
ngân hàng. Những rủi ro này thường ro tính chủ quan của con người gây ra,
có thể do khách hàng gây ra như kinh doanh kém hiệu quả hoặc quản lý yếu
kém, có thể do nguyên nhân từ phía ngân hàng như không tuân thủ nguyên
tắc cũng như quy trình thẩm định, năng lực, đạo đức cán bộ tín dụng…
Thông thường là do khách hàng gây ra rủi ro này.
+ Rủi ro tín dụng không kiểm soát được: Đây là loại rủi ro mà ngân
hàng không thể dự đoán trước được , không biết chúng sẽ xảy ra vào thời
điểm nào, cũng như không thể tính toán một cách chính xác được những ảnh
hưởng thiệt hại mà chúng gây ra. Những rủi ro này chủ yếu do những bất lợi
về yếu tố tự nhiên như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, hoả hoạn…Ngoài ra rủi ro
này còn do những thay đổi cơ chế cũng như chính sách của nhà nước.
- Theo tính chất của rủi ro thì chia làm hai loại:
+ Rủi ro sai hẹn: Rủi ro này xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc
và lãi đúng hẹn như trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ngân hàng và
khách hàng.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Rủi ro mất vốn: Rủi ro xảy ra khi người vay vốn không trả đầy đủ gốc tiền
vay.
1.2.3. Dấu hiệu và các biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Một số dấu hiệu của rủi ro tín dụng

khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của NH.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện
• Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh của KH
- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự
kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
- Nhiều thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ
hoạt động của KH.
- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự
gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung
quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện
đại, phương tiện giao thông đắt tiền.
- Thay đổi thường xuyên ban điều hành.
- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh
chấp trong quá trình quản lý.
- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai
dẫn đến việc đầu tư dự án không hiệu quả.
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới.
• Nhóm hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của NH
- Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính
bảo đảm của khách hàng về việc duy trì, khoản tiền gửi lớn hay
các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng, năng
lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của NH
- Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng
hạn như rút nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công
ty con hạch toán độc lập

chưa được thanh toán đùng thời hạn như trong hợp đồng khi đó rủi ro của
ngân hàng càng lớn. Thường thì các ngân hàng thường dùng chỉ tiêu nợ quá
hạn để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/Dư nợ
Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng cho vay thì có bao
nhiêu đơn vị tiền tệ ngân hàng không thể thu hồi đúng hạn tại thời điểm xác
định. Chỉ tiêu này chỉ phản ánh phần nào của nợ quá hạn. Để hiểu được bản
chất của nợ quá hạn ta phải hiểu được nguyên nhân cụ thể của nó. Thứ nhất
là do kỳ hạn nợ không đúng, không phù hợp với chu kỳ thu nhập của người
vay. Khi đến hạn trả nợ người vay không thể trả được nợ, gây ra nợ quá hạn.
Thứ hai là do đảo nợ hoặc giãn nợ. Nhiều khoản nợ người vay không có khả
năng hoàn trả có thể được đảo nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế. Để
che dấu ngân hàng cấp trên khách hàng và nhân viên ngân hàng thoả thuận
với nhau vay một khoản mới để trả nợ cũ. Hoặc nhân viên ngân hàng có thể
thực hiện giãn nợ đối với những khoản nợ mà chắc chắn người vay không
thể trả được. Những hành vi này lam cho không phản ánh đúng rủi ro tín
dụng. Thứ 3 là do chính sách vay: Có nhiều các khoản cho vay khó đòi
không thể thu hồi bằng phát mại tài sản. Những khoản cho vay này chủ yếu
là những khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ. Nợ quá hạn là rủi ro
trong hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng. Rủi ro là không thể tránh khỏi
đối với ngân hàng. Chính vì vậy ta chỉ có những biện pháp hạn chế rủi ro tín
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng. Rủi ro tín dụng coi là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên cũng phải có
tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý vì nếu nợ quá hạn cao quá thì ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động của ngân hàng vì không thu hồi được nợ. Xác định tỷ lệ nợ quá
hạn là rất cần thiết, nhiều nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ ở
mức dưới 5% là chấp nhận được và được coi là ngưỡng an toàn trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng.

• Xử lý tín dụng có vấn đề:
Mặc dù NH đã XD cơ chế đảm bảo an toàn lâu dài, nhưng đều không tránh
khỏi 1 số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín
dụng có vấn đề nhiều khoản tài sản bảo đảm tín dụng giảm đáng kể. Các
chuyên gia NH sẽ tìm ra các giải pháp nhằm thu hồi những khoản tín dụng
có vấn đề. Giải pháp tối ưu phải bảo đảm thu hồi được nợ, đồng thời tạo cơ
hội cho cả NH và khách hàng có thể duy trì hoạt động tiếp theo 1 cách bình
thường.
• Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng
+Nhóm chỉ tiêu thanh khoản:
-Chỉ tiêu thanh toán nhanh: Là khả năng chuyển tài sản lưu động thành
tiền 1 cách nhanh chóng của Doanh nghiệp.
Các tài sản lưu động chuyển thành tiền tức thời
Chỉ tiêu thanh = ------------------------------------------------------------
tóan tức thời Nợ ngắn hạn
Các tài sản lưu động không kế hàn, tồn kho
= -------------------------------------------------------
Nợ ngắn hạn
-Chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn : Phương án khả năng của Doanh nghiệp
trong việc chuyển đổi TSLĐ thành tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn.
TSLĐ
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu thanh = ----------------------
toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Nếu > 1 thì khả năng trả nợ ngắn hạn là tốt, nếu < 1 tức là Doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ ngắn hạn đúng hạn. Chỉ tiêu này phán
ánh tỷ lệ giữa TSLĐ và nợ NH mà chưa phản ánh chênh lệch số tuyệt đối
giữa chúng.

+ Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy : phản ánh quy mô so với vốn cổ phần của DN,
đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ của Doanh
nghiệp trong dài hạn
Tổng dư nợ
Tỷ số nợ = ---------------------
Tổng tài sản
Chỉ số này còn cao phản ánh hoạt động của Doanh nghiệp dựa vào
nguồn vốn vay càng lớn. Vậy khi cho vay phải xem xét thận trọng nhiều
Doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy quá cao so với bình quân ngành những DN
có hệ số đòn bẩy thấp phán ánh hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn
chủ do đó việc NH cho các DN này vay đảm bảo an toàn hơn.
Lợi nhuận trước khi trả thuế và lãi vay
- Khả năng trả lãi tiền vay = ------------------------------------------------
Chi phí lãi tiền vay
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời :
Mục đích của chỉ tiêu sinh lời là để đánh gía hiệu quả công việc sử
dụng các nguồn lực của Doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông.
- Tỷ lệ sinh lời trên Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu = ----------------------------
Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ phát sinh trên 1 đơn vị Doanh thu là bao
nhiêu với cùng 1 mức Doanh thu nếu Doanh nghiệp nào cần, giảm được chi
phí đầu vào thì tỷ lệ sinh lời trên Doanh thu càng lớn
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu ( ROE )
Lợi nhuận sau thuế
ROE = ----------------------------

của người vay trong quá khứ:
Z1 = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
với
X1 = Tỷ số “ Vốn lưu động ròng / Tổng tài sản”
X2 = Tỷ số “ Lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản”
X3 = Tỷ số “ Lợi nhuận trước thuế và tièn lãi / Tổng tài sản”
X4 = Tỷ số “Trị giá cổ phiếu / Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5 = Tỷ số “Doanh thu / Tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi Z
thấp hoặc là 1 số âm là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm nguy cơ vỡ nợ
cao. Theo mô hình này bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp 1,81 phải được
xếp, Tuy nhiên mô hình điểm số tín dụng cũng có 1 số hạn chế
Và không vỡ nợ” Nhưng trong thực tế thì vỡ nợ lại được phân thành
nhiều loại từ không trả hay chậm trễ trong trả lãi đến việc không hoàn trả
gốc và lãi.
Không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến và tẩm quan trong của
các biến số theo thời gian dù là trong ngắn hạn. Tương tự các biến X cũng
không phải là bất biến đặc biệt là khi tập thể kinh doanh thường xuyen biến
đổi, không phụ thuộc mô hình trên còn giả thuỳết rằng Xj là hoàn toàn độc
lập, không phụ thuộc, không tính tới 1 số nhân tố quan trọng nhưng khó
lượng hoá, nhưng lài ảnh hưởng đáng kể điểm sso mức độ rủi ro tín dụng cua
Khách hàng
• Mô hình điểm sô tín dụng tiêu dùng :
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các yếu tố quan trong liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình
cho để tín dụng gồm : Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người
phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản cá
nhân, thời gian công tác.

12
5
2
0
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4 Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
5
2
5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
2
1
6 Điện thoại cố định

Không
2
0
7 Số người sống cùng
Không
Một
Hai
Ba
Nhiều hơn 3
3
3

hàng ứng với nhiều thay đổi trong nền kinh tế và thay đổi trong cs gia đình.
• Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng :
Đây là phương pháp dựa trên các yếu tố thị trường để đánh giá rủi ro
tín dụng và phân tích “ Mức thường chấp nhận rủi ro gắn liền với mức sinh
lời của khoản nợ công ty hay khoản tín dụng NH đối với người vay có cùng
mức độ rủi ro. Sau đây, là trường hợp giản đơn về rủi ro tín dụng đối với NH
khi mua trái phiếu kỳ hạn 1 năm hay cấp tín dụng thời hạn 1 năm cho khách
hàng là công ty có rủi ro. Sau đó ta sẽ nghiên cứu đối với trái phiếu và tín
dụng có thời hạn dài hơn.
+ Xác suất về nợ của công cụ nợ kỳ hạn 1 năm
Giả sử, một NH yêu cầu mức thu nhập dự tính của trái phiếu công ty
thời hạn 1 năm ít nhất là bằng với mức thu nh của trái phiếu kho bạc kỳ hạn
1 năm.
Gọi P là xác suất hoàn trả đầy đủ gốc, là đối với TP công ty như vậy
( 1-P ) là SX vỡ nợ. Theo giả định người vay vỡ nợ NH sẽ không nhận
được gì. Gọi mức thu nhập của TP công ty kỳ hạn 1 năm là ( 1+k ) của TP kho
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bạc ( 1+i ) ; nhà quản trị NH sẽ đạt được kết quả như nhau khi đầu tư vào TP
công ty kho bạc khi P ( 1 + k ) = ( 1 + i ).
Nghĩa là mức thu nhập dự tính của TP công ty với mức thu nhập của TP
không có rủi ro. Giả sử i = 10 % và k = 15,8 % điều này hàm ý hoàn trả của
TP theo đánh giá của thị trường sẽ là :
1 + i 1,100
P = ----------- = ---------- = 0,95 = 95%
1 + k 1,158
Nếu xác suất hoàn trả là 0,95 thì xác suất trả nợ của TP
là ( 1 – P )=0,05=5%
Từ đó suy ra, với xác suất vỡ nợ của TP công ty là 5% thì “ mức thưởng

suất rủi ro vỡ nợ ( P ) . Ta có thể thấy sự thay thế hoàn hảo giữa β và P trên
đồ thị tại A và B.
Xác suất hoàn trả tín dụng ( p )

Tỷ lệ thu hồi khi vỡ nợ ( β )
• Xác suất vỡ nợ của công cụ nợ dài hạn
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
21
Xác suất hoàn trả tín dụng (P)
1,0
0,8
0,7
0,7
0,8 1,0
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ta có thể mở rộng phân tích để xây dựng rủi ro tín dụng đối với các
khoản tín dụng hay TP dài hạn. Cùng Ví dụ trên đối với tín dụng hay TP1
năm xác suất vỡ nợ ( 1 – P ) được xác định.
p) =
k
i
+
+
1
1
=
)158,11(
)100,01(
+
+

0,95*0,93=0,8835
Xác suất vỡ nợ tích luỹ tại thời điểm nào đó nằm giữa thời điểm bây giờ
và thời điểm cuối năm 2 là :C
p
= 1 – ( P
1
*P
2
)

= 1- ( 0,95*0,93) = 0,1165

C
p
là xs vỡ nợ của 1 người vay trong suốt kỳ hạn của tín dụng hay Tp
dài hạn. Đối với TP kỳ hạn 2 năm. C
p
= 11,65%
Giả sử hai loại chiết khấu kỳ hạn 1 năm và 2 năm. thuộc TPCP và TP
công ty. Ta có thê tính được P
2
từ việc phân tích cấu trúc kỳ hạn của lãi suất.
Ta xem đồ thị dưới đây. Các tuyến lãi suất chiết khấu công ty và CP
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
22
TP C. Phủ
TP C.ty
1 2
10%
11%

(1+i
1
)(1+f
1
).Thu nhập của TP chiết khấu có kỳ hạn 1 năm, nhưng được
đầu tư liên tiếp 2 năm. i
1
= 105 phải xác định f
1
.
Ta có : 1+f
1
=
i11
)2 i2(1
+
+
=
)10,1(
2)11,1(
= 1,12 →f
1
= 12%
Mức lãi suất dự tính tăng từ 10% ( i
1
) lên 12% f
1
trong năm tiếp theo
phản ánh mức lạm phát dự tính và các nhân tố khác trực tiếp ảnh hưởng lên
giá trị thời gian của tiền tệ. Ta có thể tính được lãi suất kỳ hạn 1 năm ( của

cho năm tiếp theo
TPCP
TP c.ty
Chênh lệch
10,0%/năm
15,8%/năm
5,8%/năm
12,0%/năm
20,2%/năm
8,2%/năm
Mức lãi suất dự tính của TP công ty kỳ hạn 1 năm là căn cứ đế xây
dựng xs hoàn trả nợ vay năm 2 ta có
P
2
=
11
11
c
f
+
+
=
202,1
120,1
=0,9318
XS dự tính xảy ra vỡ nợ năm 2 là; 1 – P
2
= 1-0,9318 = 0,0682
XS trả nợ khoản tín dụng kỳ hạn 1 năm được thực hiện sau 2 năm nữa
là:

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các XS vừa tính là XS cận biên trên cơ sở gt là không có vỡ nợ xảy ra
trước đó. Ta có thể đề cập đến khái niệm “ XS vỡ nợ tích luỹ” từ đó cho
phép nhà đầu tư xác định được mức rủi ro tổng hợp trong suốt thời hạn đầu
tư. Trong ví dụ đang xét XS vỡ nợ tích luỹ
C
p
= 1 – (P
1
*P
2
) = 1 – ( 0,95*0,9318) = 11,479%
Mô hình này cũng hạn chế nhất định. Song ưu điểm của phương pháp
này là cho phép nhà đầu tư biết trước được mức độ rủi ro dự tính 1 cách rủi
ro dự tính 1 cảch rõ ràng dựa trên các yếu tố thì trường. Hơn nữa nếu thị
trường Tp chiết khấu CP và công ty là thanh khoản thì dễ dàng dự tính được
rủi ro vỡ nợ trong tương lai
1.2.5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Chúng ta đã biết hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu
của ngân hàng, phần lớn thu nhập của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng.
Song hoạt động tín dụng luôn đi kèm với hoạt động rủi ro ma không ngân
hàng nào có thể loại trừ được mà chỉ có biên pháp để hạn chế. Chính vì vậy
hoạt động tín dụng là hoạt động quyết định đến sự tồn tại, phát triển hoặc
phá sản của ngân hàng.
1.2.5.1. Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng thì trước tiên nó ảnh
hưởng đến thu nhập của ngân hàng, nó làm giảm khả năng thanh toán của
ngân hàng, không những thế nó còn có nguy cơ gây mất vốn kinh doanh của
ngân hàng. Nếu mức độ rủi ro nằm trong mức chịu đựng được của ngân hàng
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status