Vụ Thị trờng trong nớc Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu xây dựng giải pháp phát triển
thị trờng thức ăn chăn nuôi Cnđt: Nguyễn Xuân Chiến 8521
Hà nội 2010
cầm lên đến 397,3 triệu con, đạt 2,256 triệu tấn thịt.
Bên cạnh đó, với sự tăng trưởng đều của nền kinh tế Việt Nam, thu
nhập bình quân đầu người cũng liên tục gia tăng hàng năm, dẫn tới cơ cấ
u
tiêu dùng thực phẩm của dân cư cũng thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ lệ
tiêu thụ gia súc, gia cầm. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi theo
phân tích ở trên dẫn tới nhu cầu thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cũng tăng
trưởng theo. Thực tế những năm vừa qua cho thấy nhu cầu TĂCN tăng
khoảng 7%-8% một năm, cụ thể là năm 2008 nhu cầu TĂCN là 14,6 triệu
t
ấn, ước tính năm 2010 nhu cầu khoảng 18,6 triệu tấn và đến năm 2015 là
24,2 triệu tấn.
2
Đối với TĂCN thành phẩm, do nguồn cung TĂCN sản xuất trong nước
mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% nên khối lượng còn lại phải nhập khẩu. Bên
cạnh đó, ngành TĂCN cũng phải nhập khẩu lượng nguyên liệu đầu vào cho sản
xuất là khá lớn. Hiện nay, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 70%
so với nhu cầu, số còn lại khoảng 30% phải nhậ
p khẩu (trong đó khoảng 20%
nguyên liệu giàu năng lượng, 80% các loại thức ăn bổ sung, 60%-70% thức ăn
giàu đạm và hơn 90% chất phụ gia là phải nhập khẩu). Theo số liệu thống kê,
kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu về Việt Nam liên tục tăng trong
những năm gần đây, cụ thể năm 2009 đạt trên 1,8 tỷ USD, tăng 3% so với năm
2008, tăng 52% so với năm 2007 và tăng tớ
i 144% so với năm 2006.
Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng ngành sản xuất TĂCN đang
gặp phải nghịch lý khi không chủ động được nguồn nguyên liệu chủ chốt có
nguồn gốc từ nông nghiệp như ngô, khô dầu đậu tương, bột cá, thức ăn thô
xanh hầu hết các loại thức ăn bổ sung, vitamin, bột xương đều phải nhập khẩu
doanh nghiệp trong ngành TĂCN xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh,
đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh trang, giảm giá thành sản phẩm
nhằm phục vụ tốt nhu cầu thị trường, hỗ trợ ngành chăn nuôi trong nước
phát triển, đồng th
ời góp phần bình ổn thị trường một số mặt hàng thiết yếu
như nông sản thực phẩm
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến
mặt hàng TĂCN như:
- Chương trình hợp tác với Bỉ về nghiên cứu thức ăn gia súc invitro và
insacco, 2001.
- Viện Chăn Nuôi, Dự án Nghiên cứu sử dụng các nguồn nguyên liệu tại
chỗ làm thức ăn gia súc và phân tích hệ thống chă
n nuôi bền vững
(SAREC/SIDA), 2002
- Viện Chăn nuôi, Dự án "Tăng cường sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm
nông nghiệp làm thức ăn gia súc Việt Nam” (NUFU Nauy), 2004
- Th s. Lê Thị Thanh Lan, “Phân tích cầu về thức ăn chăn nuôi (TĂCN) ở
vùng Đông Nam bộ, 2005 – 2010.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn “ Đề án phát triển chăn nuôi
giai đoạn 2006 – 2010”.
- Trung tâm thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (AGROINFO),
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD),
“Báo cáo th
ường niên Ngành hàng TĂCN Việt Nam năm 2008 và triển vọng
2009”.
- Định hướng Chiến lược phát triển của Ngành chăn nuôi đến năm 2020
(đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/2008/QĐ – TTg
ngày 16 tháng 1 năm 2008).
Các nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được một bức tranh toàn cảnh khá
là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, từ cụ thể đến khái quát,
Đề tài đã sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, mô
hình hóa, khảo sát thực tế, hội th
ảo lấy ý kiến chuyên gia vào việc nghiên cứu và
triển khai thực hiện Đề tài.
Ngoài ra, Đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê toán học thông qua
kỹ thuật lọc dữ liệu trong Excel để xử lý số liệu báo cáo thu thập được làm
cơ sở cho việc tổng hợp, đánh giá về mặt định lượng và định tính.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Thị trường TĂCN của Việt Nam và một số nước được
lựa chọn để nghiên cứu kinh nghiệm.
+ Về thời gian: Nghiên cứu thị trường TĂCN giai đoạn 2000 - 2010 đưa
ra giải pháp phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. 5
5. Kết cấu của Đề tài
Đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1:
Thực trạng ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Chương 2:
Thực trạng về thị trường thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Chương 3:
Một số giải pháp phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
cừu, da), công nghiệp thực phẩm, xuất khẩu. Sự phát triển và phân bố của
ngành chăn nuôi phụ thuộ
c vào nhiều yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, dịch
bệnh trên vật nuôi, chính sách phát triển ngành, nguồn thức ăn cho vật nuôi.
Thức ăn cho vật nuôi ngoài nguồn thức ăn tự nhiên thì phần lớn thức ăn do
ngành trồng trọt cung cấp, nhờ những thành tựu về khoa học và công nghệ,
nguồn thức ăn cho vật nuôi được cải thiện về năng suất và chất lượng. Th
ức
ăn cho gia súc, gia cầm sản xuất theo phương pháp công nghệp hiện đại, đa
dạng về chủng loại tạo điều kiện cho phát triển ngành chăn nuôi theo hướng
công nghiệp.
Vai trò của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp: Việt Nam là một nước
nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, từ chỗ thiếu lương thực đến nay trở thành
quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế gi
ới - trở thành nước xuất khẩu gạo
lớn thứ 2 thế giới với sản lượng trên 5 triệu tấn/năm. Nông nghiệp Việt Nam có
vai trò quan trọng và góp phần hỗ trợ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng
trưởng nhanh. Thành tựu của nông nghiệp Việt Nam đã đạt được trong thời gian
qua là do kết quả của chính sách mở cửa và đổi mới nền kinh tế. Chuyển sang
nền kinh t
ế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản
xuất kinh doanh đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo của nông nghiệp Việt Nam
trong thời gian qua. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, ngành chăn nuôi
cũng dần khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu phát triển nông nghiệp
Việt Nam. Trong những năm gần đây, đời sống được cải thiện, tốc độ tiêu thụ
s
ản phẩm chăn nuôi tăng nhanh, việc sử dụng thực phẩm ngày càng tăng cao,
bình quân sản lượng thịt hơi/người/năm tăng 2 lần trong giai đoạn từ năm 1993
đến 2008. Nếu nhu cầu sản phẩm chăn nuôi vẫn duy trì với tốc độ như hiện nay
lượng khi trưởng thành từ 150-190 kg, tỷ lệ thịt xẻ và thịt tinh thấp. Tuy nhiên,
Bò Vàng có khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam,
nếu lai tạo với bò Zebu, bò lai sinh ra có ưu thế lai tốt, sinh trưởng và phát triển
tốt vớ
i điều kiện kinh tế và xã hội của nước ta. Từ đàn bò cái lai đã được cải tiến
tiếp tục lai tạo với các giống chuyên dụng sẽ tạo ra các giống bò thịt và bò sữa
nhằm đáp ứng nhu cầu thịt, sữa cho nhân dân. Số lượng đàn bò trong giai đoạn
2005 – 2010 tăng bình quân 5,78% trong khi đó sản lượng thịt tăng 13,47%.
Năm 2009, tổng đàn bò là 6,103 triệu con, giảm 3,7% so với năm 2008, s
ản
lượng thịt bò đạt 257,8 nghìn tấn tăng 13,7% so với năm 2008. Ước năm 2010
tổng đàn bò là 7,178 triệu con, sản lượng thịt bò là 265 nghìn tấn. 8
Bảng 1.1. Tỷ lệ tăng giảm số lượng đàn Bò qua các năm
Năm
Số lượng bò
(nghìn con)
Tỷ lệ tăng/giảm
bình quân (%)
Sản lượng thịt
(nghìn tấn)
Tỷ lệ tăng bình
quấn (%)
2005 5.540,70 142,16
2006 6.510,80 +17,50 159,46 +12,17
2007 6.724,70 +3,30 206,14 +28,50
2008 6.337,70 -5,80 227,19 +10,21
2009 6.103,30 -3,70 257,80 +13,7
DHMT
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
ĐBSCL Cả nước
2000 651,10 502,90 2023,20 524,90 228,60 197,20 4127,90
2005 875,70 709,90 2404,20 616,90 396,10 537,90 5540,70
2006 1026,60 821,50 2742,00 747,90 493,00 679,80 6510,80
2007 1088,80 822,90 2825,50 756,30 541,60 689,60 6724,70
2008 1058,80 729,9 2619,00 721,30 495,10 713,50 6337,70
2009 1031,7 695,00 2489,8 716,80 473,30 696,70 6103,30
(Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê năm 2009)
9
Bò sữa: Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có lịch sử phát triển trên 50 năm,
nhưng thực sự phát triển nhanh từ năm 2001 sau khi Quyết định số
167/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện
pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Đàn bò sữa
đã tăng trên 3 lần, từ 41 nghìn con/năm lên 130 nghìn con, tương ứng với tổng
sản lượng sữa tăng trên 4 l
ần từ 64 ngàn tấn/năm lên 290 ngàn tấn/năm.
Trong gần 10 năm thực hiện Quyết định số 167/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về phát triển bò sữa (giai đoạn 2001- 2010) thì năm 2009 là năm mà
chăn nuôi bò sữa Việt Nam có nhiều thuận lợi, gặt hái nhiều thành quả. Cơ hội rất
tốt để phát triển đàn bò sữa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa ngày càng cao về s
ữa
tươi. Các công ty, như Công ty Vinamilk, Công ty sữa quốc tế - IDP, Công ty sữa
tương lai, Công ty Cổ phần Sữa Lâm Đồng… đang triển khai chương trình phát
triển vùng nguyên liệu và mở rộng cơ sở chế biến sữa đã tạo điều kiện thuận lợi
+5,46 +10,41
(Nguồn: Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 -2020 của
BNN & PTNT)
Đàn bò sữa Việt Nam tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ 75 ngàn
con, chiếm trên 70% tổng đàn bò sữa cả nước, trong đó Tp. HCM là nơi có đàn bò
sữa nhiều nhất Việt Nam và chiếm gần 60% tổng đàn bò sữa Việt Nam.
Hiện nay,
đàn bò sữa cả nước có trên 115 ngàn con, các tỉnh có đàn bò sữa lớn nhất là: Tp.
10
HCM 73.328 con, Hà Nội 6.800, Long An 6.104, Sơn La 5.136, Sóc Trăng 5.071,
Tiền Giang 3.371, Lâm Đồng 2.833, Bình Dương 2.351.
Bảng 1.4. Số lượng Bò sữa theo các vùng sinh thái
Đơn vị tính: nghìn con
Vùng
Năm
TD &
MNPB
ĐBSH
BTB &
DHMT
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
ĐBSCL Cả nước
2005 10,52 11,98 6,83 2,55 63,94 8,31 104,12
2006 9,41 10,66 4,74 2,90 75,07 10,44 113,21
2007 7,00 9,14 2,86 2,72 67,69 9,25 98,66
2008 8,39 9,33 1,76 2,79 76,59 9,14 107,98
2005 27.434,9 2.288,3
2006 26.855,3 -2,10 2.505,1 +9,47
2007 26.560,7 -1,10 2.552,9 +6,29
2008 26.701,6 +0,50 2.771,0 +4,07
2009 27.627,7 +3,5 2.931,4 +4,5
KH 2010 29.120,0 +5,4 3.225,0 +10
(Nguồn: Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 - 2020
của BNN & PTNT)
11
Đàn lợn của Việt Nam phân bố rộng khắp tất cả các địa phương trong cả
nước. Trồng lúa, nuôi lợn là truyền thống ngàn đời của người nông dân Việt
Nam. Nơi nào có lúa, nơi đó có lợn đã minh chứng sự phân bố của đàn lợn nước
ta, tuy nhiên khoảng 90% đàn lợn của cả nước được tập trung nhiều tại ba vùng:
Vùng Miền núi phía Bắc, ĐBSH và Vùng BTB & DHMT, điều này cũ
ng phản
ánh phương pháp canh tác và tập quán làm ruộng có sự khác nhau của các vùng.
Bảng 1.6. Số lượng Lợn theo các vùng sinh thái
Đơn vị tính: nghìn con
Vùng
Năm
TD &
MNPB
ĐBSH
BTB &
DHMT
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
p
các địa phương trong cả nước. Gà là vật nuôi quan trọng chiếm trên 3/4 tổng
12
số lượng đàn gia cầm, tiếp sau đó là vịt. Xuất phát từ điều kiện sinh thái và
tập quán chăn nuôi, trên 60% số lượng vịt của cả nước được nuôi tập trung ở
vùng ĐBSCL.
Bảng 1.7. Số lượng gia cầm qua các năm
Năm
Gia cầm
(triệu con)
Tỷ lệ
tăng/giảm
bình quân
(%)
SL thịt
(nghìn
tấn)
Tỷ lệ
tăng/giảm
bình quân
(%)
SL Trứng
(triệu
quả)
Tỷ lệ
tăng/giảm
bình
quân (%)
2005 219,90 +0,80 321,89 +1,73 3948,50 +0,24
2009 63,162 70,586 57,606 11,894 21,132 55,800 280,18
Tỷ lệ%
2009 22,54 25,19 20,56 4,24 7,54 19,91 100%
(Nguồn: Số liệu thống kê của BNN & PTNT)
1.1.2.2. Về nuôi trồng thuỷ sản
Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển rất năng động, mang lại
hiệu quả kinh tế cao cho nhiều địa phương. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 đạt 1.437.400
tấn, năm 2008 đạt 2.450.000 tấn tăng 69,58% so với năm 2005, trong đó tập
trung vào m
ột số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như: Tôm sú, cá tra, cá
basa… và một số loài thuỷ sản khác. Đặc biệt năm 2007, sản lượng nuôi cá tra
và cá basa đạt trên 1.200.000 tấn và sản lượng tôm nuôi đạt 307.000 tấn. Hiện
13
nay, đối tượng nuôi và mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam khá phong phú
và đa dạng, tuy nhiên chủ lực nhất vẫn là nuôi cá tra ở vùng nước ngọt và nuôi
tôm ở vùng nước nợ ven biển. Theo kế hoạch năm 2010, diện tích nuôi trồng
thuỷ sản cả nước là 1.110.000 ha, đạt sản lượng 2.700.000 tấn, mục tiêu đến năm
2020, kinh tế thủy sản đóng góp 30-35% GDP trong khối nông - lâm- ngư nghiệp
với tốc độ tăng giá trị
sản xuất thủy sản từ 8-10%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thủy
sản đạt 8-9 tỷ USD, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - triệu tấn, trong đó, nuôi
trồng chiếm 65-70% tổng sản lượng, tạo việc làm cho 5 triệu lao động nghề cá.
1.1.2.3. Một số mô hình chăn nuôi ở Việt Nam
Mô hình chăn nuôi Bò
- Chăn nuôi bò thịt: Hiện nay ở Việt Nam, ngành chăn nuôi bò vẫn còn ở
tình trạ
ng nhỏ lẻ. Người nông dân còn thiếu cả vốn lẫn trình độ kỹ thuật chăn
nuôi. Chăn nuôi bò theo mô hình trang trại được hình thành và bước đầu phát
khuyến khích phát triển. Nhiều dự án đầu tư về kỹ thuật chăn nuôi, về nghiên
cứu giống bò sữa, về quy hoạch vùng nguyên liệu làm thức ăn cho bò sữa đang
được chú trọng phát triển, góp phần thúc đẩy chăn nuôi bò sữa theo hướng công
nghiệp, có quy mô lớn, năng suất cao đáp ứng nhu cầu cho ngành sản xuất và
chế biến sữa ở Việt Nam phát triển.
Mô hình chăn nuôi Lợn
Trong những nă
m gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền
thống mà đặc trưng là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp
thì chăn nuôi lợn theo phương thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng
ngày càng phát triển. Các tỉnh, thành phố có chăn nuôi lợn trang trại nhiều
như Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đắk Lắk,
Hải Dương, Thanh Hoá, Thái Bình, Tiền Giang Đã có một số
điển hình hợp
tác xã chăn nuôi lợn hướng nạc như Nam Sách - Hải Dương, Đan Phượng -
Hà Tây, Yên Định - Thanh Hoá Đây là mô hình tổ chức sản xuất có nhiều
lợi thế, giảm chi phí đầu vào vì đã tập trung các dịch vụ như cung cấp con
giống, thức ăn công nghiệp, thú y, thụ tinh nhân tạo và bao tiêu sản phẩm
Tỷ trọng chăn nuôi lợn trang trại (công nghiệp và bán công nghiệp) tăng
nhanh. Hơn 6 triệu con l
ợn thịt ngoại và phần lớn lợn lai F2, F3 được chăn
nuôi trang trại, gia trại. Hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ
thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống tự động
là những tiến bộ kỹ thuật về chuồng trại đã được áp dụng tại các trang trại
chăn nuôi lợn ở các vùng chăn nuôi lợn trọng điểm như
Đông Nam Bộ,
ĐBSH, ĐBSCL và Tây Nguyên. Sản xuất lợn giống và nhân giống lợn bằng
thụ tinh nhân tạo đang được nhiều tỉnh, thành phố đầu tư phát triển như Thái
Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Thanh Hoá, Thành phố Hồ Chi Minh,
Bình Dương, Tiền Giang, Trà Vinh, Cần Thơ Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn đã
truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, nuôi các giống gà lông mầu có
năng suất cao. Mục đích chăn nuôi đã mang đậm tính hàng hoá. Đặc trưng của
mô hình chăn nuôi này là quy mô đàn gà từ 200-500 con; đàn gà vừa thả, vừ
a
nhốt và sử dụng thức ăn công nghiệp, nên tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả chăn nuôi
cao; thời gian nuôi rút ngắn, vòng quay vốn nhanh hơn so với chăn nuôi nhỏ
lẻ nông hộ. Ước tính có khoảng 10-15% số hộ nuôi theo mô hình này với số
lượng gà sản xuất hàng năm chiếm tỷ lệ 25-30%.
Chăn nuôi công nghiệp
Chăn nuôi gà công nghiệp mới bắt đầu chính thức hình thành ở nước ta từ
năm 1974 khi Nhà n
ước có chủ trương phát triển ngành kinh tế này. Tuy nhiên,
nó chỉ thực sự phát triển trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Điểm đáng chú ý
của phương thức chăn nuôi gà công nghiệp ở Việt Nam là hệ thống sản xuất
giống các cấp không đồng bộ, các doanh nghiệp nhà nước và các công ty nước
ngoài chỉ tập trung đầu tư sản xuất con giống thương phẩm 1 ngày tuổi từ đàn bố
mẹ nhập ở nước ngoài, ít hoặc không chú ý đầu tư xây dựng và sản xuất giống
ông bà, cụ kỵ. Việc chăn nuôi gà công nghiệp sản xuất thịt, trứng chủ yếu là các
trang trại tư nhân và các doanh nghiệp. Hiện nay, các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài sản xuất và cung cấp phần lớn là gà giống công nghiệp lông
trắng (gần 80%). Ngược lại, các DNNN và các trang trại tư nhân chiếm phần
lớn thị ph
ần gà giống lông màu thả vườn. Tính đến 01/10/2008 cả nước có trên
1900 trang trại chăn nuôi gà với quy mô phổ biến từ 2.000-10.000 con/trại; có
một số trang trại chăn nuôi với quy mô từ 50.000 đến 100.000con. Các tỉnh có
16
số lượng trang trại chăn nuôi gà lớn là Hà Tây (cũ): 392 trang trại, Bình Định
315 trang trại, Bình Dương: 235 trang trại, Đồng Nai: 164 trang trại, Thanh Hoá:
và nuôi chăn thả có kiểm soát” để đến năm 2020, ngành chăn nuôi gia cầm phải
trở thành ngành sản xuất hàng hoá hiệu quả và bền vững. Mục tiêu từ 2008 đến
2020, tổng đàn gà tăng bình quân 5%/năm, đạt 300 triệu con, trong đó gà công
nghiệp chiếm 33%; sản lượng thịt gà đạt 1.760 tấn, chiếm 32% tổng sản lượng
thịt xẻ các loại; sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả. Đây là những chỉ tiêu vô cùng to
17
lớn, đòi hỏi từ nay đến năm 2020 ngành chăn nuôi phải thực hiện đồng bộ, có
hiệu quả một loạt các giải pháp quan trọng trong công tác quy hoạch và bố trí
đất đai, tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, tài chính và tín dụng, sản xuất và
kiểm soát chất lượng thức ăn gia cầm, phòng chống dịch bệnh, giết mổ chế biến,
thị trường, tạo nguồn nhân lự
c, đặc biệt là bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, còn có một số chính sách phát triển cho từng loại gia súc, gia
cầm khác như:
(7) Quyết định số 3065/QĐ-BNN-NN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều kiện chăn nuôi, ấp trứng, vận
chuyển, giết mổ, buôn bán gia cầm và sản phẩm gia cầm.
(8) Quyết định số 87/2005/QĐ-BNN ngày 26/12/2005 về việc quy định
kiểm soát giết mổ độ
ng vật.
(9) Quyết định số 07/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và PTNT về quy định về quản lý lợn đực giống.
1.2.2. Tình hình tổ chức thực hiện cơ chế chính sách phát triển ngành chăn nuôi
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đã có bước phát triển nhanh
chóng, cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi đã tăng nhanh qua các năm.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, BNN & PTNT đã phê duyệt triển khai 21 dự
án giống vật nuôi vớ
i tổng mức đầu tư 430 tỷ đồng. Đến hết năm 2005 đã giải
ngân trên 350 tỷ đồng (đã đầu tư nâng cấp hầu hết các cơ sở nghiên cứu và sản
kg/con (lợn ngoại là 84 - 90 kg, lợn lai 60 - 64 kg, lợn nội 40 - 42 kg); khối
lượng thịt lợn nái bình quân cả nước đạt 750 - 780 kg/nái/năm. Sản lượng thịt
3,2 triệu tấn.
+ Đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm 282 triệu con, sản lượng thịt 1.427
ngàn tấn, trong đó đàn gà 233 triệu con với sản lượng thị
t 1.188 ngàn tấn; đàn
thủy cầm 49 triệu con với sản lượng thịt 239 ngàn tấn; sản lượng trứng đạt 7,92
tỷ quả, trong đó trứng gà 6,8 tỷ quả, trứng vịt 1,12 tỷ quả.
Thực hiện Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ
tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg
ngày 10/12/1999 về chương trình giống cây tr
ồng và giống vật nuôi, giống cây
lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010, Ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn sự
nghiệp) được đầu tư cho nghiên cứu khoa học về giống; giữ nguồn gen; nhập nội
nguồn gen, giống mới có năng suất và chất lượng mà trong nước chưa có hoặc
còn thiếu; hoàn thiện công nghệ và xây dựng một số mô hình trình diễn về công
nghệ sản xuất giống; đầu tư cho c
ơ sở hạ tầng của các đơn vị sự nghiệp; tăng
cường quản lý chất lượng về giống. Ngân sách Nhà nước bao gồm trung ương
và địa phương đầu tư cho các dự án giống của BNN & PTNT hoặc Bộ ngành có
liên quan; ngân sách địa phương đầu tư cho các dự án thuộc địa phương.
Thực hiện Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg ngày 05/30/2007 của Thủ
tướng Chính phủ về tín dụng
đối với các hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó
khăn, các hộ chăn nuôi tại các vùng kinh tế khó khăn đã được hỗ trợ 4,04% lãi
suất tiền vay/năm (chênh lệch giữa 0,9%/tháng thay vì 1,2%/tháng) cho 30%
tổng vốn đầu tư phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp cho 3 hạng mục sản xuất
lợn cụ, kỵ, lợn bố mẹ và lợn thịt ngoại.
Theo Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13/3/2006 của Thủ t
ướng Chính
trung, công nghiệp qui mô vừa và lớn.
Với tốc độ tăng trưởng GDP 7 - 8%/năm, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm có
chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng, thị trường tiêu
thụ các sản phẩm chăn nuôi như
thịt, trứng, sữa sẽ còn mở rộng, bên cạnh đó
mức tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam hiện còn thấp, chỉ bằng 30 -
50% mức tiêu thụ của các nước trong khu vực đó là những cơ hội mở ra cho
ngành chăn nuôi trong thời gian tới.
Ngoài ra, mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2015 là đạt tỷ
trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 30% vào năm 2010 và 35% vào năm
2015, đưa tỷ trọng ch
ăn nuôi trong nông nghiệp lên 38%; tốc độ tăng trưởng
đạt 6 - 7%/năm; sản lượng thịt xẻ các loại đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn
chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu, bò 3%; trứng đạt 11 tỷ quả; sữa 700.000
tấn; bình quân đầu người đạt 46kg thịt xẻ các loại/năm, trứng 116 quả/năm,
sữa 7,5kg/năm; tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp
đạt khoảng
25%. Đây chính là những nhân tố kích thích chăn nuôi phát triển trong thời
gian tới.
20
1.2.3.2. Các yếu tố gây khó khăn cho sự phát triển của ngành chăn nuôi
Bên cạnh những thuận lợi trên, ngành chăn nuôi Việt Nam cũng gặp phải
nhiều thách thức to lớn ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành trong giai đoạn
tới nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO.
(1) Giá thành thức ăn chăn nuôi (chiếm 75% trong chi phí chăn nuôi)
Giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng cao, trong khi giá các sản phẩm gia
súc, gia cầm lên xuống thất th
ường đã gây nhiều khó khăn cho các trang trại
chăn nuôi trong thời gian qua.
Bảng 1.11. Giá thịt lợn trong nước
T5/2009
(ngđ/kg)
T12/2009
(ngđ/kg)
T5/2010
(ngđ/kg)
T5/2010 so với
T12/2009 (tỷ lệ
giảm %)
T5/2010 so với
T5/2009 (tỷ lệ
giảm %)
Lợn hơi
25 - 34 27-34 25-30 7,4 - 11,76 11,76
Miền
Bắc
Mông sấn
50 - 60 55-70 48-50 12,7 - 28,6 4,0 - 16,67
Lợn hơi
32 - 39 30-35 28-33 5,71 - 6,67 12,5 - 15,38
Miền
Nam
Mông sấn
55-65 55-70 55-62 11,42 4,61
(Nguồn: Cục Quản lý Giá - Bộ Tài Chính)
21
Giá thức ăn trong nước tăng cao, giá sản phẩm thịt (thịt lợn)giảm xuống
khẩu thịt gia súc và gia cầm theo cam kết gia nhập WTO thì ngay tại thị trường
trong nước sẽ chịu sự cạnh tranh gay gắt trước sản phẩm ngoại nhập.
(3) Về vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là vấn đề mà người tiêu dùng sản phẩm
chăn nuôi quan tâm. Khi mức sống của người dân ngày một cao cùng với sự
phát triển của xã hội thì người tiêu dùng s
ẽ đòi hỏi được tiêu dùng các sản phẩm
sạch, sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặc dù trong chăn nuôi vấn
đề vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ dừng ở mức độ là đảm bảo cho quá trình sinh
22
trưởng và phát triển của vật nuôi an toàn và không xẩy ra hiện tượng dịch bệnh
trên vật nuôi. Bên cạnh đó do các điều kiện cơ bản về chăn nuôi tập trung, hệ
thống chuồng trại chăn nuôi chưa đảm bảo yêu cầu về an toàn cho chăn nuôi nên
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với ngành
chăn nuôi.
(4) Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi
Do ph
ương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phân
tán, không đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra,
gây tổn thất lớn về kinh tế. Các bệnh thường gặp trên vật nuôi: đối với gia
cầm bệnh thường gặp là Niucastxon, Gumboro, Tụ huyết trùng, dịch tả, dịch
cúm ; đối với gia súc bệnh thường gặp là bệnh tai xanh, bệnh gạo, lở mồm
long móng, Dịch cúm gia cầm
ở nước ta bắt đầu xẩy ra tháng 12/2003 và đã
gây ảnh hưởng cho chăn nuôi gia cầm. Ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm có
thể thấy rõ qua giai đoạn 2003 - 2005 dịch bệnh đã phát triển 4 đợt, tổng số
gia cầm (cả gà và vịt) chết và tiêu hủy trên 51 triệu con, thiệt hại ước tính gần
10.000 tỷ đồng. Năm 2007, dịch bệnh đã xẩy ra trên 13.355 hộ gia đình (trên
14 tỉnh, thành) với gần 30.000
mức cạnh tranh trên thị tr
ường.
- Một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến chăn nuôi trong nước: thuế
nhập khẩu thịt gia súc và gia cầm giảm khi gia nhập WTO, vấn đề về vốn, ô
nhiễm môi trường trong chăn nuôi
1.2.4. Chính sách quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi.
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm
2005
73.5
24.7
1.8
2006
73.7
24.5
1.82007
73.9
24.4
1.7
2008
71.5
27
1.52009
71.4
suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao; bảo đảm vệ sinh thú y, môi
trường và đặc biệt chú trọng đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong đó
cần chú trọng vào các chính sách:
- Tăng cường hội nh
ập và hợp tác kinh tế quốc tế về chăn nuôi, mở rộng
hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ các tiến bộ về khoa
học kỹ thuật, công nghệ, quản lý và vốn đầu tư phát triển chăn nuôi.
- Mở rộng các hoạt động tìm hiểu khảo sát thị trường các nước có tiềm
năng hợp tác về khoa học công nghệ và xuất, nhập khẩ
u các sản phẩm vật nuôi
với Việt Nam.
- Xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn hoá các sản phẩm chăn nuôi.
- Tăng cường công tác quản lý ngành chăn nuôi
- Tăng cường năng lực quản lý gắn liền với kiện toàn hệ thống tổ chức
ngành chăn nuôi từ Trung ương đến địa phương.
+ Hoàn thiện tổ chức bộ máy của Cục Chăn nuôi.
+ Kiện toàn hệ thống quản lý nhà nướ
c ngành chăn nuôi thú y ở các địa
phương.
+ Xây dựng hệ thống khảo kiểm nghiệm, kiểm định chất lượng giống và
thức ăn chăn nuôi.
+ Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực chăn nuôi.
- Hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất quản lý
nhà nước về giống và thức ăn chăn nuôi trong phạm vi cả n
ước.