Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI :
DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA VIỆT NAM
KHI GIA NHẬP WTO

Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Thanh Nhàn
Lớp : Anh 2 – Luật KDQT
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thị Mơ Hà Nội, tháng 5 – 2009 i


ii
CHƢƠNG 2: CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO VỀ DỊCH VỤ
PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC THI CAM KẾT 29
I. Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ phân phối 29
1. Cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung 29
2. Cam kết về mở cửa từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể 31
2.1. Cam kết về mở cửa dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch
vụ bán lẻ. 31
2.2. Cam kết về mở cửa dịch vụ nhượng quyền thương mại 33
II. Thực trạng dịch vụ phân phối ở Việt Nam 34
1. Thực trạng đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ 34
1.1. Những kết quả đạt được 34
1.2. Những tồn tại 37
2. Thực trạng nhượng quyền thương mại 39
III. Thực trạng về mở cửa dịch vụ phân phối ở nƣớc ta trong thời gian
qua và những tác động cụ thể. 42
1. Nhận xét chung về tình hình thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân
phối. 42
2. Thực trạng mở cửa dịch vụ phân phối kể từ khi gia nhập WTO 46
2.1. Đã tích cực phổ biến về các cam kết của Việt Nam trong WTO. 46
2.2. Đã từng bước mở cửa 4 phân ngành dịch vụ phân phối. 47
3. Đánh giá những tác động do việc mở cửa dịch vụ phân phối 50
3.1. Những tác động tích cực 50
3.2. Những tác động tiêu cực 53
IV. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện
các cam kết trong WTO về mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối 57
1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ phân
phối còn yếu. 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
iv
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DVPP
Dịch vụ phân phối
GATS
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ
GATT
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
WTO
Tổ chức thương mại Thế giới
S&D
Những quy định đối xử đặc biệt và khác biệt
CPC
Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc
BTA
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
NQTM
Nhượng quyền thương mại
ENT
Kiểm tra nhu cầu kinh tế
DN
Doanh nghiệp

1
Dịch vụ phân phối và bán lẻ chiếm 15% GDP hàng năm-Lao Động số 236 Ngày 13/10/2008 Cập
nhật: 7:43 AM, 13/10/2008. 2
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về dịch vụ phân phối: khái niệm, đặc điểm,
vai trò của dịch vụ phân phối.
- Tìm hiểu các cam kết dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO.
- Thực trạng hoạt động dịch vụ phân phối tại Việt Nam.
- Nghiên cứu những vấn đề mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện các cam
kết gia nhập WTO.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ phân phối.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là dịch vụ phân phối và các cam kết về
mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là phân tích các cam kết về mở cửa dịch
vụ phân phối nói chung theo bốn phương thức và khi tiến hành phân tích các cam
kết từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể, khoá luận giới hạn ở bốn loại hình dịch
vụ phân phối là dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và dịch
vụ nhượng quyền thương mại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công việc nghiên cứu, khoá luận sẽ sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích, so sánh.
5. Bố cục của khoá luận

bổ nguồn lực và thiệt hại về kinh tế như đã từng xảy ra ở nhiều nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung.
1. Khái niệm
1.1. Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ
Dịch vụ phân phối trước hết là một trong nhiều loại hình dịch vụ nên nó sẽ
mang những đặc điểm của dịch vụ. Chính vì vậy, điều đầu tiên là cần phải tìm hiểu
về dịch vụ.
Để đưa ra được một định nghĩa chính xác nhất về dịch vụ không phải là một
điều dễ dàng. Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên
phạm vi toàn cầu. Nguyên nhân là bởi chính những đặc điểm về tính vô hình, khó
nhận biết, nắm bắt cũng như sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ khác
nhau đã làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Ngoài ra, sự khác biệt về
trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước cũng sẽ dẫn tới những cách hiểu khác nhau
về dịch vụ.

5
Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá
nhưng là phi vật chất. Do vậy, dịch vụ có thể được định nghĩa “là hoạt động của con
người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình, được thực hiện nhằm thoả
mãn nhu cầu đời sống của chính con người”
1

Từ định nghĩa này có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của dịch vụ. Đầu
tiên, đặc điểm cơ bản nhất của dịch vụ đó là tính vô hình. Khác với sản phẩm vật
chất mang tính hữu hình, dễ lượng hoá, dễ xác định và kiểm soát được chất lượng
và có khả năng dự trữ thì sản phẩm dịch vụ thường là vô hình, khó lượng hoá, khó
xác định được chất lượng và cũng khó và thường là không dự trữ được sản phẩm
dịch vụ…Đặc điểm thứ hai đó là quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ và tiêu
dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Bởi cung cấp dịch vụ chính là “quá trình sản xuất tạo
ra sản phẩm dịch vụ thông qua hoạt động tiếp xúc giữa bên cung cấp và bên sử dụng

1
. Theo đó, dịch vụ về hàng hoá bao gồm dịch vụ
phân phối (bao gồm vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới…)
và dịch vụ sản xuất (bao gồm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư
và kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý…) do những
dịch vụ này gắn kết chặt chẽ với việc sản xuất, trao đổi và buôn bán các loại sản
phẩm – hàng hoá từ ngành nông – công nghiệp như phục vụ cho việc cung cấp đầu
vào cho sản xuất hay phục vụ cho việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ trung gian. Dịch vụ về tiêu dùng
gồm dịch vụ xã hội (bao gồm dịch vụ sức khoẻ, y tế, giáo dục, dịch vụ vệ sinh, dịch
vụ bưu điện, viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác…) và
dịch vụ cá nhân (gồm dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ
giải trí, dịch vụ văn hoá, du lịch…) do các dịch vụ này được tiêu dùng trực tiếp bởi
các cá nhân, tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu xã hội và thường không liên quan đến
thương mại hàng hoá nhưng vẫn mang tính thương mại. Các dịch vụ này còn được
gọi là dịch vụ cuối cùng.
- Còn trong thương mại quốc tế, theo sự phân loại của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) thì dịch vụ được phân chia thành 12 ngành dịch vụ và 155 phân
ngành. Đó là: 1. Các dịch vụ kinh doanh, 2. Các dịch vụ thông tin, 3. Các dịch vụ
xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan, 4. Dịch vụ phân phối, 5. Dịch vụ giáo
dục, 6. Dịch vụ môi trường, 7. Dịch vụ tài chính, 8. Dịch vụ y tế và xã hội, 9. Dịch
vụ du lịch và và dịch vụ liên quan, 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao, 11.
Dịch vụ vận tải, 12. Các dịch vụ khác
2
.
1
Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý

tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau cùng tham gia
vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó là một chuỗi
các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán hàng hoá.
Mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh chắc chắn có sự tham gia vào một hoặc một số
DVPP nhất định. Ví dụ, đối với một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, DVPP của
họ bao gồm: hệ thống thu mua nông sản từ những người nông dân và một hệ thống

8
xuất khẩu nông sản ra thị trường nước ngoài Như vậy, DVPP trở thành đối tượng
để tổ chức, quản lý như một công cụ kinh doanh trọng yếu của các doanh nghiệp
trên thị trường.
Trên bình diện vĩ mô, các DVPP của vô số doanh nghiệp tạo nên một hệ
thống thương mại, hệ thống phân phối hàng hoá chung cho toàn bộ nền kinh tế. Đây
là hệ thống lưu thông, tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trên thị trường, theo
nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. DVPP
vĩ mô của mỗi quốc gia có chức năng là tạo ra sự phù hợp giữa cung cầu hàng hoá
trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. DVPP vĩ mô bao gồm tất cả các dòng chảy hàng
hoá và dịch vụ của nền kinh tế từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng (cả
tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất) nhằm đảm bảo hàng hoá được lưu
thông, cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu xã hội. Do đó toàn bộ DVPP vĩ mô là
đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách tổ chức và quản lý lưu thông
phân phối của nhà nước.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong danh mục phân loại ngành
dịch vụ CPC (Provisional Central Product Classification) thì dịch vụ phân phối
được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính. Đó là: dịch vụ đại lý hoa hồng
(Commission Agent’s Services), dịch vụ bán buôn (Wholesale Trade Services), dịch
vụ bán lẻ (Retailing Services) và nhượng quyền thương mại (Franchising).
2. Vai trò của dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc dân
Là một trong những loại hình dịch vụ, làm cầu nối giữa nhà sản xuất và tiêu dùng,
bên cạnh đó còn là cách thức để quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra hiệu quả, do vậy

siêu thị có thể thấy rõ điều đó. Chúng ta có thể thấy được ở một siêu thị cần rất
nhiều nhân viên như nhân viên kho, nhân viên thanh toán, nhân viên giám sát bán
hàng…cùng với việc nhân với số ca làm việc và số siêu thị hoạt động thì sẽ nhận
thấy số lao động nhiều thế nào. Đóng góp của lĩnh vực này trong việc tạo công ăn
việc làm thường còn lớn hơn đóng góp vào GDP. Chỉ số thể hiện tầm quan trọng
của lĩnh vực phân phối trong các hoạt động kinh doanh chính là tỷ lệ số doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối trong tổng số các doanh nghiệp của một
nền kinh tế: tỷ lệ này nằm trong khoảng từ ít hơn 20% tại Hoa Kỳ, Đan Mạch,….lên
tới 40% tại Hy Lạp và Bồ Đào Nha. Tại Việt Nam, DVPP phát triển cũng đã góp 1
Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Tổng quan các vấn đề về tự do hoá thương mại dịch vụ, NXB
Chính trị 2005.

10
phần gia tăng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, với khoảng 54.000
doanh nghiệp ngoài quốc doanh (chiếm 40% tổng số doanh nghiệp thuộc thành
phần này) và không dưới 3.000 doanh nghiệp nhà nước tham gia kinh doanh. Một
điều quan trọng nữa là lĩnh vực này đang tạo ra công ăn việc làm đáng kể cho
những người lao động có tay nghề thấp. Điều này tạo ra một ý nghĩa rất lớn về mặt
xã hội khi nó làm giảm sức ép của nghèo đói, góp phần ổn định xã hội.
2.3. Ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho
nền kinh tế.
Đúng như định nghĩa đã nêu, vai trò của dịch vụ phân phối là sự kết nối sống
còn của nhà sản xuất với người tiêu dùng đặc biệt đặt trong nền kinh tế thị trường
hiện đại, khi phân công lao động phát triển ở trình độ cao. Một nền kinh tế có hệ
thống phân phối hiệu quả sẽ làm tăng lợi ích cho cả người sản xuất và tiêu dùng.
Trong nền kinh tế vốn tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản như là mâu thuẫn giữa sản
xuất khối lượng lớn, chuyên môn hoá của các doanh nghiệp để đạt được hiệu quả

2
. Một hoạt
động có hiệu quả của dịch vụ phân phối sẽ dẫn tới việc giảm giá, giảm sự méo mó
trong cơ cấu giá, tạo điều kiện cho người tiêu dùng hưởng lợi, tạo sự ổn định cho
nền kinh tế.
2.5. Vai trò của dịch vụ phân phối trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Một số doanh nghiệp có tiềm lực sẽ mở rộng hệ thống dịch vụ phân phối ra
nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài
hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của họ ở
nước ngoài để đưa sản phẩm của mình hoặc xuất khẩu sản phẩm trong nước tới
những người tiêu dùng nước ngoài hay một số doanh nghiệp trong nước lại tiến
hành nhập khẩu những hàng hoá từ thị trường nước ngoài để tiêu dùng trong nước
thì lúc đó trên bình diện vĩ mô DVPP còn có vai trò liên kết thị trường của một
nước với các thị trường còn lại trên thế giới. Điều này thật sự có ý nghĩa đối với các
nước đang phát triển bởi họ luôn tìm kiếm cơ hội tham gia vào kênh phân phối toàn
cầu như một công cụ cho sự hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới, tạo điều
kiện phát triển kinh tế. 1
Regulation and Performance in the Distribution Sector, OECD Economics Department Working Paper No.
180, OECD/GD (97)145, OECD, Paris. Pilat, D. (1997),
2
Đặng Lê Anh, Thị trường bán lẻ Việt Nam: Nguy cơ thua ngay trên sân nhà, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số
23/2007.

12
3. Đặc điểm của dịch vụ phân phối
Là một loại dịch vụ nên DVPP cũng mang đầy đủ những đặc điểm của dịch
vụ nói chung. Bên cạnh đó với vai trò của mình, DVPP cũng có một số đặc điểm

cuối cùng
Kênh trực
tiếp

Kênh ngắn

Kênh trung
bình

Kênh dài

Nguồn: Bộ Công Thương - Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại, WTO và hệ
thống phân phối Việt Nam, NXB Lao Động (2008).
Nhà sản xuất có thể đưa hàng hoá của mình trực tiếp đến người tiêu dùng,
không qua trung gian nào cả thông qua việc bán sản phẩm của mình tại các cửa
hàng giới thiệu sản phẩm của công ty hay qua điện thoại…hoặc bằng cách gián tiếp
là có thể thông qua các trung gian như đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ
để đưa tới tay người tiêu dùng sản phẩm của mình.
- Cơ cấu ngành của dịch vụ phân phối
Cơ cấu ngành phân phối thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển, sự khác biệt đặc
trưng về cấu trúc và các chính sách của mỗi quốc gia. Song chúng ta vẫn có thể khái
quát hoá một số vấn đề chung về lĩnh vực phân phối. Thứ nhất, tại hầu hết các nước,
phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ chỉ có một cửa hàng và có quyền sở hữu duy nhất.
Thứ hai, một phần lớn lĩnh vực này, cả về số doanh nghiệp lẫn doanh số bán lẻ, liên
quan đến bán lẻ thực phẩm. Các mặt hàng quan trọng khác là vải sợi, quần áo và
giày dép, các thiết bị gia dụng và phụ tùng ô tô. Thứ ba, đặc trưng của lĩnh vực này
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn, lương thấp và sử dụng
nhiều lao động có trình độ thấp. Tuy nhiên, với sự thay đổi về thị hiếu của người
tiêu dùng và thay đổi công nghệ thể hiện ở các sản phẩm ngày càng phức tạp, tinh


toán qua mạng điện tử. Thực tế có thể nhận thấy là các cửa hàng trên mạng bán hoa,

15
sách báo, ôtô, băng đĩa, máy tính hoặc phần mềm máy tính và thậm chí cả hàng tạp
hoá cũng đã và đang xâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống bán lẻ truyền thống thông
qua việc chuyên kinh doanh một số mặt hàng hoặc nhóm sản phẩm nhất định. Điều
này có được là do những ưu thế của các cửa hàng trên mạng như giảm chi phí tìm
kiếm, giao dịch và phí lưu kho, đa dạng hoá khả năng lựa chọn mặt hàng, doanh thu
cao, nguồn cung cấp hàng rẻ hơn và thông tin thị trường chính xác hơn. Ví dụ, việc
mua sách và hàng hoá khác qua mạng cho phép dễ dàng tìm kiếm nhóm mặt hàng
cần mua và người bán có thể quảng cáo và đưa thông tin tới đúng khách hàng dựa
trên những sở thích của họ. Nhờ đó, những dự báo về việc bán các sản phẩm theo
yêu cầu của khách hàng qua mạng rất lạc quan.
II. Dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên.
1. Dịch vụ phân phối trong WTO
Theo WTO, trong Danh mục Phân loại ngành dịch vụ, tài liệu mã số
MTN.GNS/W/120 (hay W/120) được xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn
dựa trên Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc
(CPC), thì DVPP được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa
hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising)
(Xem phụ lục 1).
1.1. Dịch vụ đại lý hoa hồng
Dịch vụ đại lý hoa hồng là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và
bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua, bán hàng hoá cho bên
giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù
lao (hoa hồng)
1
.
- Bên giao đại lý, bên đại lý:
o Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền

phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ.
o Trường hợp bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá
cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại
lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênh lệch giữa
giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn
định cho bên đại lý.
1.2. Dịch vụ bán buôn

17
Theo quy định tại Nghị định số 23/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì bán buôn là hoạt động bán hàng
hoá cho thương nhân, tổ chức khác; không bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp
cho người tiêu dùng cuối cùng.
Dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những
doanh nghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức hoặc các
đơn vị chuyên môn, hoặc cho những người bán buôn khác.
Dịch vụ bán buôn có đặc điểm là bán hàng với số lượng lớn, và thường là
nguyên hộp, nguyên đai, nguyên kiện cho bên mua với giá thấp hơn giá bán lẻ. Giá
bán buôn thường được quy định theo kiểu bậc thang theo khối lượng hàng hoá bán
ra nhằm khuyến khích khối lượng đặt hàng của đại lý mà vẫn đảm bảo sự cân bằng
và công bằng về giá trong hệ thống thương mại.
Các đơn vị kinh doanh dịch vụ bán buôn thường là các doanh nghiệp và cá
nhân có nguồn vốn lớn, quan hệ rộng trong sản xuất kinh doanh. Các nhà bán buôn
thường áp dụng hệ thống quản lý hiện đại với những chính sách bán hàng và
marketing chuyên nghiệp (cấp thẻ cho người mua hàng, in catalogue quảng cáo
hàng bán…) và đặc biệt giá bán buôn luôn mang tính cạnh tranh cao.
Các dịch vụ bán buôn theo danh mục CPC của Liên Hợp Quốc gồm CPC
622, 61111, 6113, 6121
1

1.4. Nhượng quyền thương mại
Dịch vụ nhượng quyền thương mại mang mã số CPC 8929 trong danh
mục CPC.
Theo Điều 284, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì Nhượng quyền
thương mại được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền
cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hàng việc mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
o Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng
hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
o Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.

19
Về hình thức của nhượng quyền thương mại có thể được phân loại theo các
căn cứ khác nhau.
- Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương
mại gồm có các hình thức sau:
+ Nhượng quyền sản xuất (Processing Franchise): Là loại hình nhượng
quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất, cung ứng ra thị trường các hàng hoá
mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng
quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền thông tin liên quan tới bí mật thương mại
hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng
sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền và một số
khía cạnh như hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi.
+ Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (Service Franchise): Là
loại hình nhượng quyền trong lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như sửa chữa,
bảo dưỡng ôtô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng…Bên
nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một hoặc một số mô hình dịch

Trong biểu cam kết, các phương thức cung cấp dịch vụ được đánh theo số thứ tự:
Phương thức 1 - “Cung cấp qua biên giới” - Cross-border Supply.
Phương thức 2 - “Tiêu dùng ở nước ngoài” - Consumption Abroad.
Phương thức 3 - “Hiện diện thương mại” - Commercial Presence.
Phương thức 4 - “Hiện diện của thể nhân”- Movement of natural person.
Phƣơng thức 1: Cung cấp qua biên giới - Là phương thức theo đó dịch vụ
được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên này sang lãnh thổ của một nước
thành viên khác. Trong phương thức này thì chỉ có bản thân dịch vụ di chuyển qua
biên giới mà không có sự di chuyển của con người. Có thể kể đến ví dụ về dịch vụ
phân phối G7 của Việt Nam được cung cấp sang Nhật Bản thông qua phương thức
kinh doanh nhượng quyền thương mại. Nhà cung cấp dịch vụ không thiết lập bất kỳ
một hiện diện nào trên lãnh thổ nước thành viên tiêu dùng dịch vụ.
Phƣơng thức 2: Tiêu dùng ở nƣớc ngoài - Là phương thức theo đó người
tiêu dùng của một nước thành viên di chuyển sang lãnh thổ một nước thành viên
khác để tiêu dùng dịch vụ. Về bản chất, dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng
trên lãnh thổ nước thành viên không phải là nơi người tiêu dùng đó cư trú. Ví dụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status