Nghiên cứu tính toán thiết kế và công nghệ chế tạo gối đỡ thủy lực chịu tải nặng đến 80 tấn - Pdf 13


BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ CÔNG THƯƠNG

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC
“NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
CƠ KHÍ CHẾ TẠO”, MÃ SỐ KC.05/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
“Nghiên cứu, tính toán, thiết kế và công nghệ chế tạo
gối đỡ thủy lực chịu tải nặng đến 80 tấn”
Mã số: KC.05.18/06-10

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Công nghệ
Chủ nhiệm đề tài: TS. Đỗ Quốc Quang

• Mô tả kết cấu và hoạt động của gối đỡ thủy lực 101
Chương V: Hệ thống điện và điều khiển của gối đỡ thủy lực. 102
• Đặt v
ấn đề 102
• Thiết kế hệ thống điều khiển, giám sát, cảnh báo quá tải 102
• Phần mềm 108
• Lắp đặt và hiệu chỉnh 111
• Mô tả hoạt động của hệ thống 113
Chương VI: Tính toán, thiết kế và lắp đặt hệ thống làm kín bằng phương pháp
tăng áp 116
• Tầm quan trọng của việc làm kín ổ 116
• Nguyên lý làm kín bằng phương pháp tă
ng áp 116
• Cơ sở lý thuyết cho tính toán khí động của hệ thống làm kín bằng
phương pháp tăng áp 117
• Phân tích bài toán khí động trong hệ thống làm kín bằng phương pháp
tăng áp của gối thủy lực 118
• Tính toán, thiết kế và lắp đặt hệ thống làm kín của gối đỡ thủy lực 122
Chương VII: Chạy khảo nghiệm & đo đạc các thông số của hệ thống 126
• Chạy thử
, hiệu chỉnh gối đỡ thủy lực sau khi chế tạo 126

152
• Chạy thử có tải, đo đạc các thông số kỹ thuật của hệ thống 130
• Các kết quả đo 139
• Đo đạc, phân tích tình trạng màng dầu qua kết quả đo 141
• Đánh giá phân tích chế độ làm việc của hệ thống qua các kết quả đo 143
Chương VIII: Các sản phẩm của Đề tài 146
• Sản phẩm dạng I 146
• Sản phẩm dạng II 146

được không chỉ là các kiến thức liên quan đến nghiên cứu, tính toán, công nghệ chế
tạo mà còn tạo ra được một sản phẩm công nghiệp cụ thể làm cơ sở để có thể tiếp tục
các nghiên cứu thực nghiệm nhằm mục đích hoàn chỉnh bộ phận Gối đỡ thuỷ lực,
không chỉ ứng dụng cho máy nghiền đứng mà còn cho các ứng dụng khác.
Vì đây là một đề
tài có liên quan đến khá nhiều chuyên ngành riêng như ma sát học,
cơ học chất lỏng, thuỷ lực, thiết kế và công nghệ chế tạo cơ khí, CAD/CAM, điện và tự
động hoá …nên sẽ được trình bày trên cơ sở các chương chuyên ngành. Việc trình bày
này sẽ làm tăng khối lượng của Báo cáo tổng hợp nhưng sẽ cung cấp cho người đọc một
tài liệu tương đối tổng hợp, giúp cho việc tiếp cận đề tài đượ
c dễ dàng và toàn diện hơn.
Cũng vì lý do trên, Phụ lục tham khảo và hệ thống đánh số công thức, hình ảnh sẽ được
tách biệt theo từng chương để người đọc dễ tham chiếu khi cần thiết.
Bản báo cáo này được hoàn thành trên cơ sở Hợp đồng số 18/2009/HĐ – ĐTCT –
KC.05/06-10, ký giữa Ban Chủ nhiệm chương trình KC.05/06-10 với Cơ quan chủ trì

2
là Viện Công nghệ - TCT. Máy Động lực & Máy Nông nghiệp, TS. Đỗ Quốc Quang là
Chủ nhiệm đề tài.
Tiếp theo lời nói đầu, bản báo cáo gồm các phần sau:
 Phần I: gồm hai chương 1 và 2 trình bày về tổng quan như mục tiêu, các nội dung
nghiên cứu chính và cơ sở lý thuyết của đề tài.
 Phần II: gồm 4 chương từ 3 đến 6 trình bày về các nội dung nghiên cứu, thiết kế
và chế tạo gối đỡ
thủy lực. Đây là các sản phẩm dạng I và II của đề tài đã được đăng
ký trong Phụ lục 2 của Hợp đồng số 18/2009/HĐ – ĐTCT – KC.05/06-10, gồm:
1. Hệ thống gối đỡ thuỷ lực ứng dụng cho máy nghiền đứng công suất đến 15T/h, có

được tổ chức thành 04 quyển:
• Quyển 1: Bao gồm các bản vẽ thiết kế cơ khí; các bản vẽ, sơ đồ hệ thống thủy lực;
Các bản vẽ, sơ đồ điện và điều khiển.
• Quyển 2: Bộ quy trình công nghệ chế tạo một số
chi tiết chính trong gối thủy lực.
• Quyển 3: Bộ quy trình kiểm tra, lắp đặt, vận hành hệ thống gối đỡ thuỷ lực. Bộ số
liệu “Chạy khảo nghiệm không tải và có tải hệ thống gối đỡ thuỷ lực”
• Quyển 4: Một số kết quả nghiên cứu khác.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu các kết quả nghiên cứu mà nhóm đề tài dã thu được sau
2 năm tiế
n hành các nghiên cứu trong phạm vi các nội dung đã đăng ký.
4

(hydrostatic) và loại hỗn hợp: thuỷ tĩnh thuỷ động. Trên thực tế, ngời ta tìm cách kết hợp
hai dạng bôi trơn thuỷ tĩnh và thuỷ động để tận dụng đợc u điểm của cả hai loại.

5
Gối đỡ thuỷ lực có thể dùng chịu tải trọng hớng tâm hoặc hớng trục. Loại gối đỡ
hớng trục thờng dùng trong các loại máy nghiền đứng, mâm quay ra đa, mâm quay
kính viễn vọng .Loại này cũng là đối tợng nghiên cứu trong phạm vi đề tài này.
Trờng hợp gối đỡ thuỷ động, màng dầu chỉ đợc tạo thành khi có quá trình
chuyển động tơng đối giữa phần tĩnh và phần động (màng dầu có dạng hình nêm).
Nh vậy khi khởi động hoặc khi dừng máy, hai bề mặt của gối đỡ (phần tĩnh và động)
sẽ có một phần nào đó trợt trên nhau trong tình trạng ma sát khô hoặc nửa khô, do
vậy đây là khoảng thời gian hay xảy ra sự cố đối với gối đỡ thuỷ động nếu các thông
số của màng dầu không đợc kiểm soát chặt chẽ và quy trình vận hành không đợc
đảm bảo nghiêm ngặt. Chính vì vậy tuy có u điểm là tiêu thụ năng lợng trong hoạt
động nhỏ, nhng gối đỡ thuỷ động đòi hỏi yêu cầu về kỹ thuật chế tạo, về chế độ điều
khiển cũng nh vận hành thực tế rất khắt khe, nên trong thực tế gối đỡ thuỷ động chủ
yếu đợc ứng dụng cho các loại máy có công suất không lớn. Trên thực tế, gối đỡ
thuỷ động vẫn cần hệ thống bơm dầu áp lực khi khởi động tuy hệ thống này có thể
đơn giản hơn trờng hợp gối đỡ thuỷ tĩnh.
Mặc dù gối đỡ thuỷ động có u điểm chính là tiêu hao công suất cho hệ thống bôi
trơn thấp hơn loại thuỷ tĩnh nhng có hạn chế về phạm vi sử dụng nên thờng chỉ sử
dụng trong các máy nghiền đứng loại công suất nhỏ. Các loại máy nghiền đứng có
công suất lớn hơn thờng sử dụng gối đỡ thuỷ tĩnh. Loại này có độ tin cậy cao, ma sát
nhỏ, có khả năng chịu lực lớn (tới hàng ngàn tấn) và hoạt động ổn định.

Cựng vi s phỏt trin ca cụng nghip nhit in, ximng nhiu hóng trờn th
gii ó nghiờn cu sn xut gi thy lc phc v cho ch to tuc bin, mỏy
nghin ng, mỏy ch bin g vv nh cỏc hóng Waukesha Bearings[5] ( hỡnh 1.5),
LEG [7], FLENDER. c bit, hóng FLENDER (CHLB c) chuyờn ch to hp
gi
m tc chuyờn dựng cho mỏy nghin ng tớch hp gi thu lc vi di cụng
sut truyn ng t 50 KW n 9500 KW v chu ti trng thng ng t 50 T n
1200 T[6] ( hỡnh 1.3).
Hin nay, vi s tin b ca cụng ngh sn xut, cỏc gi thu lc tớch hp
vi hp gim tc th h mi cú hiu nng cao (h
s ma sỏt thp hơn ln, tit kim
in nng), tui th cao (15-20 nm) v chi phớ vn hnh, bo dng thp. Cỏc hp
gim tc - gi thu lc tớch hp cng gúp phn ỏng k lm gim ting n, chng
dao ng trong vn hnh.

7

Hình 1.1: Gèi ®ì thñy lùc theo thiÕt kÕ ®Çu tiªn cña Albert Kingsbury

Hình 1.2: Một loại gèi ®ì thñy lùc cña C«ng ty Kingsbury Inc.

Hình 1.5. Gèi ®ì thñy lùc cña h·ng Waukesha Bearings

1.1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước:
Các nghiên cứu trong nước về vấn đề bôi trơn màng dầu được tiến hành vào
những năm 1970 với các công trình lý thuyết và thực nghiệm của cố GS. Nguyễn Anh
Tuấn (Đại học Bách khoa Hà Nội). Kết quả của các nghiên cứu này là thử nghiệm bạc
ma sát ướt bôi trơn màng dầu kiểu hướng tâm dùng trong máy tiện. Một số kết quả
nghiên cứu khác cũng đã được th
ực hiện như phục hồi vành lăn của lò quay nhà máy
Ximăng Hoàng Thạch do GS. TSKH Hàn Đức Kim (NARIME) thực hiện vào những
năm 1980. Tuy nhiên, chúng tôi chưa ghi nhận được các công trình trong nước khác
có liên quan tới gối đỡ thuỷ lực hướng trục.
Năm 2003, Viện Công Nghệ - Bộ Công Thương thực hiện đề tài cấp Nhà nước
mã số KC.05.22: “Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy nghiền bột siêu mịn hiệu suất
cao ứng d
ụng trong công nghiệp”[1]. Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã
phân tích, đánh giá 2 phương án gối đỡ cho bàn nghiền (gối thuỷ lực và hệ thống gối
đỡ con lăn cơ khí) và đã có một số kết quả khảo sát, thiết kế được công bố trong Báo
cáo tổng kết đề tài. Tuy nhiên với tải nhỏ (80T) và năng suất 15T/h, hệ thống gối đỡ
con lăn cơ khí là giải pháp phù hợp với khả
năng chịu tải, năng suất thiết bị cũng như
khả năng về công nghệ chế tạo, đồng thời đơn giản được hệ thống điều khiển, giám
sát trạng thái làm việc của hệ thống đỡ bàn nghiền. Trong quá trình vận hành khai
thuỷ lực tích hợp với hộp giảm t
ốc của máy nghiền đứng nhưng do khuôn khổ của
cuốn sách và hạn chế về tài liệu nên các nội dung tính toán, thiết kế gối đỡ thuỷ lực
chưa được đề cập đầy đủ.
Tóm lại, cho đến nay, gối đỡ thuỷ lực hướng trục cỡ tải trọng tới 80T và lớn hơn
hầu như chưa có cơ sở nào ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu tườ
ng tận và đầy đủ
trong khi việc hoàn thiện hệ thống gối đỡ bàn nghiền cho máy nghiền đứng, cụ thể là
gối đỡ thuỷ lực bôi trơn dạng thuỷ tĩnh là cần thiết để phát triển sản phẩm máy
nghiền.

11
Về thị trờng, trong nhng nm gn õy, mỏy nghin ng th h mi ó c
ng dng rng rói trong cỏc ngnh cụng nghip sn xut vt liu xõy dng cng nh
mt s ngnh cụng nghip khỏc cn n nguyờn cụng nghin. Cú c th trng nh
vy vỡ mỏy nghin ng cú nhiu u im v kt cu, hiu sut cao, cú tớnh kinh t
cao khi khai thỏc thit b v gi
m thiu ụ nhim mụi trng. Vit Nam, hu ht cỏc
nh mỏy ximng mi c xõy dng u s dng cụng ngh mỏy nghin ng trong
nghin liu, nghin than, nghin clinke. Cỏc thit b này u nhp ca nc ngoi, với
giá t ti hng triu USD/thiết bị . Để từng bớc làm chủ việc chế tạo toàn bộ thiết bị
máy nghiền đứng, đề tài tập trung nghiên cứu, tính toán, chế tạo và thử nghiệm Gối đỡ
thuỷ tĩnh dạng hớng trục dùng cho máy nghiền đứng năng suất tới 15T/giờ (tải trọng
tới 80T); đây là thiết bị khó nhất trong toàn bộ máy nghiền đứng. Một số yêu cầu đặt
H×nh 1.6: M¸y nghiÒn ®øng cña h·ng Pfeiffer (CHLB §øc)

lực.
− Nội dung 5: Lắp đặt hệ thống gối đỡ thuỷ lực lên máy nghiền đứng 15T/h. Chạy
khảo nghiệm không tải và có tải hệ thống gối đỡ thuỷ
lực. 14
TI LIU THAM KHO
(Tờn cụng trỡnh, tỏc gi, ni v nm cụng b, ch nờu nhng danh mc ó c trớch
dn để luận giải cho sự cần thiết nghiên cứu đề tài) .

1. Đề tài cấp Nhà nớc KC-05-22: Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy nghiền bột
siêu mịn hiệu suất cao ứng dụng trong Công nghiệp. Chủ nhiệm đề tài KS. Ngô
Quốc Hng và nhóm thực hiện đề tài Viện Công nghệ Tổng VEAM Bộ Công
nghiệp.
2. Đề tài cấp Bộ mã số 20.06/RD 2006: Nâng cao chất lợng cụm đỡ mâm nghiền
nhằm cân bằng áp lực làm việc của máy nghiền đứng. Chủ nhiệm đề tài KS. Ngô
Quốc Hng Viện Công nghệ Tổng Công ty VEAM Bộ Công nghiệp.
3. T.S. Vũ Liêm Chính ( Chủ biên), T.S. Đỗ Quốc Quang, K.S. Cao Văn Mô
Máy thiết bị và hệ thống nghiền mịn sử dụng trong công nghiệp.
Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội 2008.
4. Dự án KHCN: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo các thiết bi chủ yếu cho dây chuyền
đồng bộ sản xuất xi măng lò quay công xuất 2.500 tấn Clinker/ ngày, thay thế
nhập ngoại, thực hiện tiến trình nội địa hóa. Chủ nhiệm dự án KS. Phạm Hùng

u kiện lớp dầu bôi trơn đủ mỏng và tác dụng
của nó không chỉ quyết định bởi độ nhớt của dầu bôi trơn. Tuỳ thuộc vào khoảng cách từ
dầu bôi trơn đến về mặt ma sát, độ nhớt và các tính chất khác của chất lỏng bôi trơn thay
đổi một cách nhảy vọt, nghĩa là có một giới hạn rõ ràng giữa màng bôi trơn và dầu bôi
trơn còn lại trong cả khối dầu.
Trong các trường hợp giới hạn, các phân tử của chất bôi trơn bị hấp thụ được định
hướng rất cao, khác với sự hỗn loạn của chúng trong lòng chất lỏng. Các tính chất bôi
trơn của chất lỏng cũng sẽ được cải thiện khi độ dài phân tử của chúng được tăng lên. Hệ
số ma sát khi bôi trơn giới hạn so với không bôi trơn giảm từ 2 đến 10 lần, c
ường độ mòn
của chi tiết giảm đến hàng trăm lần.
Tất cả các chất lỏng bôi trơn (dầu) đều có khả năng được hấp thụ trên về mặt kim loại.
Độ bền của màng hấp thụ phụ thuộc vào các phân tử hoạt động được pha vào dầu với tư
cách chất phụ gia: axít hữu cơ, keo và các chất hoạt tính khác, các chất béo có trong thành
phần dầu thực vật, độ
ng vật cũng như trong thành phần của chất bôi trơn dẻo. Vì thế gần
như tất cả các dầu bôi trơn đều tạo thành trên bề mặt kim loại pha giới hạn có cấu trúc
tinh thể giả, chiều dày đến 0,1
m
µ
, nó có liên kết bền hoặc không bền với bề mặt kim loại.

16
Lớp màng bôi trơn giới hạn là dị hướng: ở hướng tiếp tuyến, các lớp phân tử dễ dàng
bị uốn, khi chiều dày đạt tới giá trị tới hạn, chúng sẽ có khả năng trượt tương đối với
nhau. Theo phương pháp tuyến với bề mặt, màng dầu có sức bền nén cao có thể đạt tới
ngàn N/mm
2
, giới hạn đàn hồi của màng dầu chịu nén trong trường hợp bôi trơn giới hạn
là rất cao.

hấp thụ, hiệu quả của bôi trơn giới hạn còn phụ thuộc vào tác động hoá
học của bề mặt kim loại và chất bôi trơn.
Ảnh hưởng của oxy đến quá trình ma sát khi bôi trơn giới hạn là rất lớn, kim loại đóng
vai trò chất xúc tác, hay chất mang ôxy để ôxy hoá dầu và tạo thành các hợp chất liên kết
bền vững với kim loại. Những phản ứng hoá học này xảy ra ở chỗ
có nhiệt độ cao và áp suất cao, tức là những điểm tiếp xúc kim loại với nhau. Dầu bôi
trơn cũng là chất mang ôxy chính.
Để nâng cao hoạt tính hoá học của dầu bôi trơn, dầu được bổ sung những phụ gia có
chứa hợp chất của lưu huỳnh, clo, phốt pho, có khi cả antimon và asen. Mặc dù bền vững
trên mặt ma sát, các chất phụ gia này còn bị phân huỷ và tác dụng với bề mặt kim loại tạo
nên các màng sunfit sắ
t, clorua sắt, phốt pho sắt. Những màng này ngăn sự tăng nhiệt độ
cục bộ. Màng tạo bởi cacbua hydro, clo hoá trên bề mặt thép có khả năng làm việc đến
300
0
C - 400
0
C và khi nhiệt độ cao hơn nó bị nung nóng chảy hay phân huỷ. Đối với màng
sunfit khả năng bôi trơn có thể đến 800
0
C. Dưới nhiệt độ tới hạn, các màng sẽ giống các
chất bôi trơn rắn.
2.1.2. Bôi trơn giới hạn với chất rắn
Một số chất rắn được gọi là chất bôi trơn rắn khi nó tạo ra và duy trì chế độ ma sát bôi
trơn giới hạn. Màng giới hạn có độ bền nén rất cao và độ bền cắt nhỏ. Từ đặc điểm này có
một số chấ
t có thể được sử dụng như chất bôi trơn ở trạng thái bôi trơn giới hạn: các chất
có cấu trúc mạng lớp, cấu trúc tấm, kim loại mềm, màng mỏng, chất dẻo…( graphit,
disunfit molipden MoS
2


Kim loại mềm có thể được sử dụng làm chất bôi trơn rắn, không bị biến cứng trong
khoảng nhiệt độ làm việc và không bị tạo thành các dung dịch rắn, dòn với các kim loại
nền của bề mặt ma sát. Muốn vậy nhiệt độ làm việc phải lớn hơn nhiệt độ kết tinh lại. Khi
bôi trơn bằng kim loại, vai trò của chất bôi trơn cacbuahyđro thay đổi, nó trở thành
phương ti
ện vận chuyển kim loại vào vùng ma sát, tham gia vào các quá trình hoá lý trên
bề mặt tiếp xúc khi tạo thành mạng kim loại, làm nguội và bảo vệ các kết cấu ma sát khỏi
bị gỉ.
Các chất bôi trơn rắn là kim loại mềm thường dùng là chì, thiếc, indi. Cơ chế tác dụng
của màng kim loại mỏng phủ nên nền kim loại rắn được giải thích như sau:
Hình 2.3: Cấu trúc tinh thể Disunphit Molipden (MoS
2
)
1- Nguyên tử Molipden
2- Nguyên tử lưu huỳnh
Hình 2.2: Cấu trúc tinh thể Graphit

19
Màng kim loại mềm có độ bền nén tốt, giữ không cho các bề mặt ma sát tiếp xúc và
thâm nhập vào nhau. Khi có chuyển động tương đối thì xảy ta hiện tượng cắt trong kim

a
)
chiều dài nêm dầu.

20
2.1.4. Bôi trơn ướt - bôi trơn màng dầu (trường hợp nghiên cứu của đề tài).
Khi có tồn tại lớp chất bôi trơn giữa các bề mặt ma sát, nếu chiều dày của nó không
nhỏ hơn 1
m
µ
và lớn hơn độ cao tổng của các nhấp nhô của hai bề mặt ma sát, khi đó ma
sát ngoài của các vật rắn sẽ trở thành ma sát trong của các lớp dầu. Khi bôi trơn ướt áp
suất của màng dầu sẽ cân bằng với ngoại lực, nó được gọi là lớp tải. Khi chiều dày lớp
dầu lớn hơn chiều dày màng giới hạn, thì ảnh hưởng của bề mặt cứng tới các phân tử dầ
u
ở xa sẽ giảm đi. Các lớp dầu cách bề mặt ma sát 0,5
m
µ
sẽ chuyển động tự do với nhau.
Lực ma sát sẽ chỉ phụ thuộc vào nội ma sát
(độ nhớt) của dầu và bằng tổng lực cản trượt của các lớp dầu theo chiều dày màng dầu.
Ma sát ướt với hệ số ma sát nhỏ là tối ưu đối với các kết cấu ma sát về khả năng mất mát
năng lượng, độ bền mòn và tuổi thọ, khi đó hệ s
ố ma sát không phụ thuộc vào bản chất
của bề mặt lắp ghép.
Hiện tượng ma sát khi bôi trơn ướt là rất phức tạp được thể hiện trên (hình 2.5). Hình
này cho thấy: các phân tử của chất hoạt tính bề mặt có trong dầu được hấp thụ trên bề mặt
trong lớp phân tử mono, trên đó tạo thành lớp giới hạn, liền lớp giới hạn là vùng chuyển
động vi mô, cuối cùng là dầu chả
y tầng.

- Bỏ qua sự trượt của các lớp biên, nghĩa là vận tốc tương đối của lớp biên chất bôi
trơn với b
ề mặt bôi trơn sẽ bằng vận tốc của bề mặt đó.
- Chất bôi trơn được khảo sát là chất lỏng Newton.
- Dòng bôi trơn được xem như dòng chảy tầng và chuyển động dừng của chất lỏng
không nén được.
- Có thể bỏ qua lực quán tính
Hệ phương trình Reynolds trong không gian ba chiều có dạng:

0=


y
p
;
2
2
y
v
x
p
x


=


µ
;
2
Hình 2.6. Sơ đồ kết cấu ổ chặn thuỷ động
Trong ổ trượt chặn thuỷ tĩnh, màng dầu bôi trơn giữa hai bề mặt có chiều dày h được
hình thành do bơm dầu có áp suất cao vào các hốc (buồng) giữa hai bề mặt. Chiều dày
màng dầu h không đổi ngay cả khi tốc độ tương đối giữa hai bề mặt ma sát bằng không
(0). Gối đỡ thuỷ tĩnh có thể có dạng hình học bất kỳ: phẳng, trụ, tròn, côn, hoặc cầu
nhưng dạng của mặt tỳ luôn tương ứng với dạng của mặt tựa. Dòng dầu hướng từ hốc
theo bề mặt tựa ra phần chu vi của nó, sau đó được cấp trở lại các hốc bằng hệ thống bơm
bôi trơn. Để khe hở giữa hai mặt của gối đỡ thuỷ tĩnh ( hình 2.7) không đổi thì lượng dầu
ra khỏi gối trong một đơn vị thời gian phải b
ằng lượng dầu cấp vào nó.

Như ta đã biết, phương trình Reynolds là nền tảng
để xây dựng lý thuyết bôi trơn. Bởi vậy để tính toán
ổ trượt nói chung và ở trượt chặn nói riêng các tính toán đều dựa trên việc khảo sát
nghiệm của phương trình này. Hình 2.7: Sơ đồ nguyên lý cấp dầu cho gối đỡ thủy tĩnh
1- Cấp dầu cho gối khác; 2- Gối đỡ; 3- Mặt tỳ; 4- Biểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status