“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
1
MỤC LỤC
Mục lục ………………………………………………………………… ……… 1
Giới thiệu chung đề tài ………………………………………………………… 2
Danh sách thành viên tham gia …………………………………………….… 4
Lời nói đầu …………………………………………………………………… …. 5
Chương 1: Nghiên cứu, khảo sát thiết bị vận chuyển tro bay bằng phương
pháp cơ khí truyền thống ………………………………………
6
1.1.Tống quan chung về tro bay và hệ thống vận chuyển tro bay bằng cơ
khí truyền thống……………………………………………………………………
6
1.1.1.Tổng quan chung về tro bay……………………………………………… 6
1.1.2.Hệ thống vận chuyển tro bay bằng cơ khí……………………………… 8
1.1.3.Các ưu, nhược đi
ểm của hệ thống vận chuyển tro bay bằng cơ khí 15
1.2.Yêu cầu cấp bách sử dụng hệ thống vận chuyển tro bay tiên tiến hiệu
quả hơn
18
1.3 .Kết luận chương 1……………………………………………………. 21
Chương 2: Tính toán, chọn thông số kỹ thuật, thiết kế hệ thống vận
chuyển tro bay bằng bơm bột…………………………………………………
22
2.1.Tính toán, chọn thông số……………………………………………………. 22
2.1.1.Cơ sở tính toán…………………………………………………………… 22
2.1.2.Tính toán……………………………………………………………………. 25
khoa học và phát triển công nghệ, số 199.10 RD/HĐ-KHCN, ký ngày 16 tháng 3 năm
2010.
3. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1. Tính cấp thiết:
Các dây chuyền sản xuất tro bay đều hiện nay đều sử dụng các hệ thống vận
chuyển cơ khí truyền thống như gầu nâng, vít tải, băng tải gây phát sinh bụi và tuổi thọ
thấp phải thay thế sửa chữa thường xuyên.
Vì vậy đòi hỏi thay thế
hệ thống vận chuyển đó bằng hệ thống vận chuyển kín
hơn, ít gây bụi và tuổi thọ lâu hơn.
3.2. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột.
- Đưa vào ứng dụng trong sản xuất.
4. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
4.1. Đối tượng:
Hệ thống vận chuyển tro bay …
4.2. Phạm vi và nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu, khảo sát thiết bị vận chuyển tro bay bằng cơ khí truyền thống (gầu
nâng, vít tải, băng tải …).
- Tính toán, chọ
n thông số kỹ thuật, thiết kế hệ thống vận chuyển tro bay bằng
bơm bột.
- Nội địa hoá một số bộ phận chính: bơm, cấp liệu, cơ cấu phối liệu.
- Khảo nghiệm đánh giá kết quả.
-Viết báo cáo tổng kết đề tài.
5. Kinh phí thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
BQLDA nhà máy thủy điện Sơn
La.EST
7 Mai Đức Thái Kỹ sư Cơ khí Viện Nghiên cứu Cơ khí
8 Lê Đồng Thành Kỹ sư Cơ khí Viện Nghiên cứu Cơ khí
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
5
LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta hiện nay, nhiều công trình xây dựng cơ bản như xây dựng giao thông,
kiến trúc dân dụng, xây dựng công nghiệp, thủy lợi v.v… đang được đầu tư đáng kể.
Điều đó dẫn tới các phương tiện cơ giới thi công và các phương tiện vận chuyển và
trang thiết bị xếp dỡ tăng lên rất nhiều. Trong những năm gần đây, ngoài các máy xây
dựng, vận chuyển mang tính chấ
t thông dụng thì các loại máy móc vận chuyển ưu việt
gọn nhẹ, độ tin cậy cao năng suất làm việc lớn chất lượng cao, nhưng cũng có những
khó khăn nhất định trong việc sử dụng và bảo dưỡng sửa chữa các hệ thống thiết bị
máy móc đó. Thực tiễn đang đặt ra nhiều nhu cầu cho khoa học công nghệ, cơ chế thị
trường thật sự
đã thúc bách các doanh nghiệp và người sản xuất quan tâm đầu tư đổi
mới công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo lợi thế cạnh
tranh trên thị trường. Với tốc độ phát triển của nền kinh tế như hiện nay, các ngành
công nghiệp như xi măng, hoá chất, tuyển khoáng, than và nhất là các dây chuyền sản
xuất tro bay đang được đầu tư, phát triển. Việc xây dựng các dây chuyển đ
ngha ca nú nh sau:
Loi tro N: L loi tro thụ t nhiờn cũn nguyờn cht hoc bi than t nhiờn
ca nỳi la ng thi phự hp vi cỏc tớnh cht ca loi tro ny. Nh l m
t vi quỏ
trỡnh a cht ca qu t, ỏ phin xilic cú tớnh cht opan, ỏ phin sột,
ỏ to thnh t
tro nỳi la v tro nỳi la c t thnh than hoc khụng c t thnh than v s
phự hp ca vt cht c t thnh than em li cỏc tớnh cht ỏp ng c im
ca loi than ny. Nh l t sột v ỏ phin sột.
Loi tro F: Thụng thng thu c trong quỏ trỡnh t than ym khớ (khụng
khúi) hoc than khúi ng thi phự hp vi iu kin k thut c
a loi tro ny. Chỳng
cú tớnh cht ca loi tro nỳi la.
Loi tro C: Thụng thng thu c trong quỏ trỡnh t than nõu hoc than ym
khớ, ng thi phự hp vi iu kin k thut ca loi tro ny. Chỳng cú tớnh cht ca
loi tro nỳi la v th hin mt tớnh cht kt dớnh no ú, mt s loi tro C cú hm
lng CaO cao hn 10%.
b/ Phơng pháp phân loại của Trung Quốc.
ở Trung Quốc loại tro có hàm lợng Ôxitcanxi cao đợc gọi là tro Canxi cao, về
cơ bản loại tro này tơng đơng với loại tro C tiêu chuẩn ASTM C618 của Mỹ (trớc
mắt loại tro này sản l
ợng tơng đối thấp); ngợc lại, gọi là tro Canxi thấp (ở Trung
Quốc hiện nay chủ yếu là loại tro này). Vì vậy, các bãi thải tro ở Trung Quốc hiện nay
đều tơng đơng với loại tro F (Mỹ) ASTM C618.
Có thể nói, tro thu đợc qua quá trình đốt than tại các nhà máy nhiệt điện có sự
khác nhau về khả năng tuyển và hàm lợng mất khí nung phụ thuộc chủ yếu vào chủng
loại than và công nghệ đốt.
Nghiờn cu thit k, ch to h thng vn chuyn tro bay bng bm bt
ti Nghiờn cu KHCN - cp B nm 2010 KS. Thỏi Cng
% 21,73 24,89 23,22
3 Fe
2
O
3
% 4,57 4,96 4,89
4 TiO
2
% 0,52 0,83 0,68
5 CaO % 0,68 0,87 0,79
6 MgO % 0,85 1,22 1,06
7 K
2
O % 3,22 4,25 3,66
8 Na
2
O % 0,18 1,20 0,79
9
LOI
(Hàm lợng MKN)*
% 16,34 22,00 18,68
10 Độ ẩm % 0,01 0,04 0,03
1.3.3. Tổ chức hóa học của tro bay
Điều tra thành phần hoá học của 36 mẫu than Ôxit Cacbon thấp (bảng 2-2).
Bảng 2-2. Thành phần hóa học của tro bay.
Thành
phần
SiO
2
Al
1.1.2. Hệ thống vận chuyển tro bay bằng cơ khí:
1.1.2.1. Băng tải
Băng tải được sử dụng vận chuyển liên tục tro bay theo phương pháp ngang
hoặc nghiêng. Chúng cho năng suất cao (tới vài nghìn t/h) và có thể vận chuyển đi xa
tới hằng cây số. Trong sản xuất thường dùng loại băng tải di động và băng tải cố định.
Băng tải di dộng vận chuyển vật liệu ở cự
ly 10 – 15m và dỡ vật liệu ở độ cao 2
– 4m.
Băng tải cố định có khung bệ làm thành từng đoạn 2 – 3m lắp ráp với nhau.
Băng tải này thường dài 50 – 100m và có thể tăng giảm chiều dài bằng cách thêm, bớt
các đoạn khung theo tính toán. Băng tải còn được sử dụng như một cơ cấu vận chuyển
của máy đào nhiều gầu, máy rải bê tông…
Băng tải gồm băng tự
a trên các con lăn đỡ ở nhánh có tải và nhanh không tải,
vòng qua tang dẫn động và tang căng. Chuyển động của băng truyền từ tang dẫn qua
băng nhờ lực ma sát. Trục tang dẫn động nối động cơ qua hộp giảm tốc. Tăng lực kéo
bằng cách lắp thêm tang cạnh tang dẫn để tăng góc ôm α. Để tránh bị chùng và tăng
lực kéo dùng bộ căng kiểu vít hay đối trọng.
Băng vừa là bộ
phận mang vật liệu vừa là bộ phận kéo. Hay dùng nhất là loại
băng vải cao su hay dệt bằng sợi tổng hợp. Lớp vải bền là loại chuyên dùng làm đai.
Lớp vải bền là loại chuyên dùng làm đai. Lớp cao su phía trên dày hơn phía dưới vì
chịu mài mòn nhiều hơn. Số lớp và chiều rộng băng là những số liệu đã được chuẩn
hóa B = 0,4 ÷ 1,6m.
Băng được chọn theo lực kéo lớn nhấ
t S
max
. Tải trọng kéo do các lớp vải chịu,
do đó tải trọng càng lớn thì phải chọn băng có lớp vải nhiều.
Đối với băng tải thường K = 460 ÷ 550 daN. Người ta còn dùng băng tải
f
etT .=
trong đó : f – hệ số ma sát giữa băng và tang dẫn ;
α - góc ôm của băng trên tang.
Từ đó suy ra :
)
1
1(
α
f
e
TP −=
Từ công thức ta thấy lực kéo P có thể truyền từ tang qua băng tỷ lệ thuận với hệ
số ma sát giữa băng và tang dẫn f, với góc ôm của băng trên tang α, với lực căng của
băng trên nhánh cuốn.
Để đảm bảo cho băng tải làm việc bình thường cần phải : thường xuyên theo
dõi, kiểm tra các con lăn đỡ băng và định kỳ tra dầu mỡ các ổ c
ủa con lăn đỡ, kịp thời
thay thế các con lăn hỏng. Thường xuyên điều chỉnh cho băng chuyển động đúng
hướng, theo dõi, kiểm tra trạm căng băng, phễu nạp liệu, dỡ liệu và các thiết bị làm
sạch băng.
Cấm không được : cọ rửa, sửa chữa băng tải khi băng đang làm việc, mở máy
mà không có tín hiệu báo trước.
Năng suất của bă
ng tải xác định theo công thức :
γ
3600 vFQ
o
và trong khi đó
ϕ
1
≈ 16
o
.
1.1.2.2. Băng gạt
Một dạng của băng tải có xích kéo là băng gạt. Nó khác với xích tải tấm là trên
xích lắp các tấm gạt, còn các nhánh dưới khi làm việc sẽ gạt vật liệu di chuyển trong
lòng máng cố định.
1.1.2.3. Gầu tải
Gầu tải được sử dụng rộng rãi ở các xí nghiệp sản xuất tro bay, bêtông và nhựa
dùng để vận chuyển vận chuyển các loại vật liệu tơi như
tro bay, xi măng, cát, đá, sỏi
… Vật liệu chứa trong gầu vận chuyển theo phương thẳng đứng hay phương nghiêng
một góc không nhỏ hơn 60
o
so với phương ngang. Gầu tải gồm tang hoặc đĩa xích dẫn
động và đĩa kéo căng, bộ phận kéo thường là hai dải xích, trên có gắn gầu với bước
gầu T. Bộ phận kéo và gầu được đặt trong vỏ che bằng kim loại. Chất tải vật liệu qua
cửa nạp, còn xả qua cửa ra vật liệu.
Gầu tải có tốc độ cao 1,25 – 2,0 m/s thường để vận chuyển vật liệu ở
dạng tro
bay, bột, và cục nhỏ, còn tốc độ thấp 0,4 – 1,0 m/s khi vận chuyển vật liệu ở dạng cục
lớn. Hình dạng gầu cũng tùy thuộc vào loại vật liệu vận chuyển và được lắp trên cơ
cấu kéo với bước gầu từ 300 đến 600 mm.
Gầu tải có ưu điểm là kích thước nhỏ gọn, có thể nâng vật liệu lên độ cao tương
đối lớn (trên 50m). N
ăng suất các loại gầu tải nằm trong khoảng rộng (từ 5 đến 140
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
12
1.1.2.4. Vít tải
Vít tải dùng để vận chuyển vật liệu tro bay, vật liệu rời, tơi xốp,dẻo như xi
măng, cát, bột… theo phương ngang hoặc phương nghiêng (tới 20
o
) với cự ly vận
chuyển tới 30 – 40m và có năng suất đến 20 – 40 m
3
/h. Vít tải gồm vỏ thép, trục dẫn
động có gắn vít vận chuyển, các ổ đỡ, phễu nạp và cửa dỡ liệu. Trục vít quay nhờ động
cơ qua hộp giảm tốc. Khi quay vít, vật liệu không quay theo chiều quay của vít mà bị
cuốn theo và do đó có chuyển động tương đối giữa vật liệu và vít tải. Khối vật liệu coi
như ở vị trí đai ốc. Nhờ ma sát và trọng lượ
ng vật liệu, theo chiều quay của vít vật liệu
được chuyển theo đường ống từ cửa nạp tới cửa xả.
Vít tải có ưu điểm là kết cấu đơn giản, kích thước nhỏ gọn. Tùy theo tính chất
và kích thước của vật liệu mà sử dụng các loại cánh vít có hình dáng khác nhau. Năng suất của vít tải được xác định theo công thức :
vFQ .3600= , m
3
β
0 5 10 15 20
c 1,0 0,9 0,8 0,7 0,65
1.1.2.5. Máy vận chuyển bằng rung động
Máy vận chuyển bằng rung động làm việc trên nguyên tắc khi truyền cho vật
liệu dao động với tần số và biên độ nhất định sẽ làm giảm ma sát trong giữa các phần
tử vật liệu ở dạng trobay, bụi tơi, đồng thời giảm ma sát ngoài của vật liệu với bề mặt
chứa vật liệu. Máy vận chuyể
n bằng rung động có thể vận chuyển vật liệu không cần
bộ phận kéo cơ khí (gầu, vít) và vận chuyện vật liệu bụi trong ống kín. Vật liệu có thể
vận chuyển theo độ dốc, phương ngang, thậm chí có thể lên cao.
Máy vận chuyển bằng rung động được dẫn động bằng bộ kích thích rung điện
từ, cơ cấu dẫn động cơ khí dưới dạng bánh lệch tâm hay c
ơ cấu trục khuỷu – thanh
truyền. Bộ phận mang vật liệu có thể là ống, máng, ….
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
14
Máy vận chuyển bằng rung động bằng kích thích rung điện từ gồm ống mang
vật liệu treo trên các bộ treo đàn hồi ; ống thực hiện dao động theo phương x – x nhờ
bộ kích thích rung động điện từ nắp, lắp trên bộ treo.
Dao động nghiêng một góc
α
với phương tâm ống tạo ra chuyển động từng
α
ω
ctg
g
v
5,0
=
trong đó :
ω
- tần số dao động cưỡng bức , Hz ;
α
- góc nghiêng vật liệu , độ ;
g - gia tốc rơi tự do , m/s
2
.
Nếu ta lấy hệ số nạp liệu ống là 0,25, tần số dao động cưỡng bức ω = 50l/s và α
= 20
o
(tức v = 0,27m/s) thì năng suất là :
γγ
π
γ
2
2
2,0.27,0.25,0.
4
-Băng tải được sử dụng vận chuyển liên tục tro bay theo phương pháp ngang
hoặc nghiêng. Chúng cho năng suất cao (tới vài nghìn t/h) và có thể vận chuyển đi xa
tới hằng cây số.
1.1.3.2.Nhược điểm:
-
Nhược điểm của gầu tải là chịu quá tải rất kém, cần phải nạp liệu đều trong quá
trình làm việc.
- Để đảm bảo cho băng tải làm việc bình thường cần phải : thường xuyên theo
dõi, kiểm tra các con lăn đỡ băng và định kỳ tra dầu mỡ các ổ của con lăn đỡ, kịp thời
thay thế các con lăn hỏng. Thường xuyên điều chỉnh cho băng chuyể
n động đúng
hướng, theo dõi, kiểm tra trạm căng băng, phễu nạp liệu, dỡ liệu và các thiết bị làm
sạch băng.
-Sự mài mòn của các cơ cấu chuyển động trong quá trình vận hành do tro bay
lọt vào các khe hở.
-Gây bụi trong quá trình hoạt động do thực tế không thể làm kín tuyệt đối các
thiết bị mà hạt tro bay lại rất nhỏ và nhẹ.
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
17
Hình 1-1: Dây chuyền sấy khô và vận chuyển tro bay sử dụng gầu nâng, vít tải.
18000
15001500
9400 1800
420
500
3600
+3,60
i
=
2
0
%
-0.250
-1.200
-2.200
6
°
3200
5500
700
1370
-1.200
M?T C? T 1-1
M?T C?T 2-2
6000 6000 6000
-0.25
1500
-2.200
-1.200
+22,50
+17,20
+22,50
+18,20
M? T C? T B-B
900
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
18
Hình 1-2: Dây chuyền vận chuyển tro bay bằng vít tải Cơ sở sản xuất tro bay
Phả Lại.EST
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
19
1.2.Yêu cầu cấp bách sử dụng hệ thống vận chuyển tro bay tiến tiến hiệu quả hơn
Trong những năm gần đây, để tăng hiệu quả kinh tế dự án thông qua việc áp
dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong công tác xây dựng đập thuỷ điện, nhiều dự
án trên thế giới và Việt Nam đã áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn (RCC) thay thế
cho công nghệ bê tông thông thường ở các
đập thuỷ điện có công suất trung bình và
lớn.
Để áp dụng được công nghệ bê tông đầm lăn, vấn đề quan trọng là phải xác
định được nguồn cung cấp vật liệu kết dính (Pozzolan) theo 2 hướng: Sử dụng vật liệu
Pozzolan tự nhiên từ các mỏ Pozzolan hiện có (phương án này theo đánh giá của các
chuyên gia là khó khả thi ở điều kiện Việt Nam); hoặc sử dụng tro bay từ các nhà máy
nhiệt điện (có tính khả
thi cao về kỹ thuật, trữ lượng và đáp ứng được nhu cầu sử dụng
trong thời gian ngắn).
lăn ở trên, một trong những đơn vị có thể cung cấp tro bay đảm bảo yêu cầu chất
lượng, số lượng theo yêu cầu tiến độ xây dựng đập chứa nước Nhà máy Thuỷ điện Sơn
La là Công ty cổ ph
ần Nhiệt điện Phả Lại. Dây chuyền xử lý tro bay được EVN quyết
định đầu tư đặt tại Phả Lại, trên khuôn viên diện tích khoảng 2,23 ha, ngay cạnh Công
ty. Nguồn tro bay nguyên liệu được lấy từ dây chuyền 2 của Nhà máy. Hiện nay, Công
ty có thể cung cấp 326.000 tấn tro bay/năm. Nếu chọn được dây chuyền xử lý tro bay
phù hợp thì Công ty có thể cung cấp lượng tro bay qua xử lý là 200.000 tấn/năm trở
lên.
Để xử lý lượng tro bay làm phụ
gia cho công nghệ bê tông đầm lăn đòi hỏi phải
có công nghệ hoàn chỉnh để tách cácbon ra khỏi tro bay đạt yêu cầu tiêu chuẩn Mỹ
ASTM C618 đối với tro bay loại F. Trong thời gian qua, được EVN giao nhiệm vụ tư
vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng dây chuyền xử lý tro bay, Công ty cổ phần Nhiệt
điện Phả Lại đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ, đẩy nhanh tiến độ dự án theo yêu cầ
u. Tuy
nhiên, do công nghệ lựa chọn để tuyển tro bay là mới mẻ và chưa có dự án tương tự
nào được triển khai tại Việt Nam nên vẫn chưa lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu
cầu công việc đề ra.
Để rút ngắn các thủ tục từ khi chuẩn bị đầu tư, đầu tư và sử dụng, tăng cường
trách nhiệm, EVN đã chính thức giao cho Ban QLDA Nhà máy Thuỷ điện Sơn La
thực hiện tiếp dự án này. Tin rằng, dự án này sẽ thực hiện thành công, cung cấp sản
phẩm tro sạch làm phụ gia bê tông đầm lăn, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng
cho công trình xây dựng đập chứa nước của Nhà máy Thuỷ điện Sơn La.
Trên thế giới, các công nghệ chế biến tro bay nhà máy nhiệt điện thành tro bay sử
dụng làm phụ gia bê tông bao gồm:
+Công nghệ tuyển nổ
i:
Nguyên lý của công nghệ tuyển nổi tro bay là dùng chất tạo váng có chuỗi
cácbon cao hơn ốctan (thường dùng dầu hoả) để bao bọc lấy các hạt cácbon làm các
được tách ra và rơi xuống sillo sản phẩm.
+Công ngh
ệ đốt cácbon:
Bản chất của công nghệ đốt cácbon là giảm hàm lượng cácbon chưa cháy hết
trong tro bay bằng cách đốt tro. Quá trình cháy có thể tự duy trì khi hàm lượng cácbon
không cháy hết trong tro bay đủ lớn hoặc được hỗ trợ bởi nhiên liệu phụ trợ khi hàm
lượng cácbon không cháy hết trong tro bay quá nhỏ.
Tuy vậy, các cơ sở sản xuất hiện đang sử dụng hệ thống vận chuyển tro bay sau
khi tuyển và sấy khô là các hệ thống cơ
khí theo kiểu truyền thống và trong quá trình
sử dụng đã bộc lộ rõ các nhược điểm của các hệ thống này. Để đáp ứng sự phát triển
chung của ngành sản xuất tro bay thì cần có một phương pháp vận chuyển tro bay đạt
hiệu quả cao hơn, ưu việt hơn.
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
22 “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
động.
Qua nghiên cứu tại Trung Quốc, Nhật B
ản, Ốt trây lia, Mỹ …tro bay sau khi
tuyển và sấy khô (nếu là công nghệ tuyển ướt) đều được vận chuyển đến hệ thống
chứa hoặc si lô trung gian để đóng bao đều sử dụng hệ thống vận chuyển bằng dòng
khí. Mô hình chung của hệ thống bao gồm: thiết bị cấp khí có áp suất, thiết bị cấp liệu
và cơ cấu phối liệu, hệ thống đường ống, si lô chứ
a (có lắp lọc bụi trên đỉnh).
Khảo sát tại các cơ sở sản xuất hiện nay, việc lắp đặt hệ thống vận chuyển tro
bay bằng dòng khí là hoàn toàn có thể. Mô hình cụ thể là: Quạt Rood là nguồn cấp khí
có áp suất, cơ cấu cấp liệu là cơ cấu tang kiểu răng khế, cơ cấu phối liệu là cơ cấu kiểu
phun tia, đường ống là ống thép, si lô chứa là si lô chế tạo b
ằng thép, lọc bụi kiểu túi.
Gọi chung hệ thống kiểu này là hệ thống vận chuyển tro bay băng bơm bột.
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống vận chuyển tro bay bằng bơm bột”
Đề tài Nghiên cứu KHCN - cấp Bộ năm 2010 – KS.Đỗ Thái Cường
25
CHƯƠNG 2
TÍNH TOÁN, CHỌN THÔNG SỐ KỸ THUẬT, THIẾT KẾ HỆ THỐNG VẬN
CHUYỂN TRO BAY BẰNG BƠM BỘT
2.1.Tính toán, chọn thông số
2.1.1. Cơ sở tính toán:
Cơ cấu làm chuyển dịch nguyên liệu dạng hạt với không khí trong đường ống
dưới áp suất được gọi là cơ cấu vận chuyển bằng khí nén. Trong công nghệ vật liệu, vi
sinh, các đường nguyên liệu như tro bay, xi măng, cám, bột, bã củ vải, mạt cưa, vỏ bào
được vận chuyển từ kho vào phân xưởng gia công bằng khí nén.