Vai trò của XK hàng may mặc đối với VN - Pdf 13

II. Vai trò của xuất khẩu hàng may mặc đối với việt
nam.
Trớc khi tìm hiểu vai trò của xuất khẩu chúng ta phải xác định đợc nhiệm vụ
của chúng đó là:
- Phải biết khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nớc, kích thích các ngành
kinh tế phát triển.
- Phải góp phần tăng tích luỹ, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền
kinh tế quốc dân.
- Xuất khẩu là cải thiện đời sống nhân dân thông qua việc tạo công ăn việc
làm, tạo nguồn thu nhập.
- Phải biết khai thác những thị trờng hiện có và quan tâm tới thị trờng cha
đợc khai thác.
- Lợi dụng khối lợng mua hàng lớn lao của nớc ngoài.
- Tìm thị trờng cho sản phẩm khi lợng bán giảm sút.
- Mở rộng nền tảng bán hàng để trải rộng chi phí bán hàng.
- Sử dụng năng lực sản xuất thừa.
- Biết đợc những phơng pháp kỹ thuật tiên tiến đợc sử dụng ở nớc ngoài.
- Theo dõi sự cạnh tranh của các đối thủ có sản phẩm cùng loại trên thị tr-
ờng.
Ngoài ra hoạt động kinh doanh xuất khẩu còn phải có nhiệm vụ góp phần
thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc: Đa dạng hoá và đa
phơng hoá quan hệ quốc tế, tăng cờng hợp tác khu vực .
Để thực hiện tốt nhiệm vụ kể trên thì công tác xuất khẩu phải nhận rõ các
vai trò quan trọng sau:
- Thu ngoại tệ về cho đất nớc, đây là nguồn vốn quan trọng để thoả mãn
nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất. Thật vậy, nhập khẩu cũng
nh vốn đầu t của một nớc thờng dựa vào ba nguồn chủ yếu là viện trợ, đi vay,
xuất khẩu.
Trong khi mức viện trợ là bị đọng và có hạn, còn đi vay sẽ tạo thêm gánh
nặng cho nền kinh tế thì xu hớng phát triển xuất khẩu để tự đảm bảo và phát
triển đợc coi nh một chiến lợc quan trọng mà hầu hết các nớc đều ứng dụng.

quần áo. Mức tiêu thụ thị trờng này là khá cao: 17 kg / ngời / năm. ở đây, ngời
ta có thấy đủ loại hàng hoá từ các nớc nh Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hồng Kông,
Đài Loan. Hàng năm EU nhập khoảng 63 tỷ USD quần áo vừa qua hạn ngạch
mà EU dành cho công nghệ là 22 nghìn tấn hàng dệt may giá trị khoảng 450
triệu USD và hiệp định ký cho giai đoạn tới 2001-200 giá trị sẽ tăng 40% và so
với giá trị hiệp định cũ (chi giai đoạn 1996-2000). Đây là thị trờng xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam và EU ký hiệp định buôn bán dệt may từ năm 1995 trong
đó có hạn ngạch gia công thuần tuý (TPP). Có nghĩa là khách hàng gửi nguyên
phụ liệu từ một nớc thứ ba thuê gia công tại Việt Nam, sau đó xuất sang EU.
Còn nếu khách hàng EU gửi nguyên phụ liệu từ EU sang gia công tại Việt Nam,
sau đó xuất ngợc lại sang EU thì không tính vào hạn ngạch. Qua 5 năm thực
hiện hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU sản xuất hàng may mặc của Việt
Nam sang thị trờng này đã có bớc tiến vững chắc. Năm 1996 tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam vào EU đạt đợc khoảng 250 triệu USD, năm
1999 đạt 400 triệu USD và dự kiến năm 2001 sẽ đạt 650 triệu USD.
Bảng 5: Một số chủng loại hàng đạt mức xuất khẩu cao của Việt Nam
vào EU qua các năm (Đơn vị: Triệu chiếc)
Tên hàng Chủng loại 1998 1999 2000
Jacket Cat 21 8,9 9,4 11,7
T- Shirt Cat 4 2,9 3,71
áo len Cat 5 1,65 1,81
Quần Cat 6 1,65 2,4
áo sơ mi nữ Cat 7 0,91 1,49
áo khoách nữ Cat 15 0,13 0,17
áo dài nữ Cat 26 0,19 0,39
Váy ngắn Cat 27 0,14 0,23
(Nguồn: Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam.)
Cũng nh các năm trớc đây mặt hàng áo Jacket luôn chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu xuất khẩu may mặc đi EU và thờng chiếm 50% trong tổng kim ngạch.
Chất lợng hàng may mặc Việt Nam đã đợc khách hàng chấp nhận, chỉ tính riêng

thị trờng phi hạn ngạch. Nhng đây cũng là một thị trờng khó tính với những đòi
hỏi khắt khe cả về chất lợng và giá cả, họ thờng yêu cầu kiểm tra chất lợng chi
tiết và quan tâm nhiều tới mẫu mốt. Ví dụ nh:
- Đồ lót, tất: mốt chiếm 70,5%
- Quần áo nữ: 56,4%là mốt; 37,5% là giá và còn lại là phẩm chất.
- Comple nam: 50% là phẩm chất; 43,7% là mốt và còn lại là giá cả.
Với dân số khoảng 120 triệu ngời và mức thu nhập bình quân đầu ngời 26
4
nghìn USD/năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ, hàng năm Nhật Bản
nhập khẩu khoảng 7-8 tỷ USD hàng may mặc. Năm 1997 hàng may Việt Nam
xuất sang Nhật xấp xỉ 130 triệu USD, năm 1999 xuất sang Nhật chiếm 90% kim
ngạch của mảng thị trờng không hạn ngạch và đạt 500 triệu USD. Mặt khác,
xuất sang Nhật thờng là áo Jacket, quần áo sơ mi do các đơn vị phía Bắc gia
công, áo Kimono do các đơn vị phía Nam thực hiện.
Đây tuy là thị trờng đòi hỏi cao song cũng đầy hứa hẹn, neus nh đầu t tốt,
nâng cao đợc chất lợng, mẫu mã phong phú, màu sắc đa dạng, nắm vững thị
hiếu thì có khả năng hàng may mặc của ta sé phát triển mạnh ở thị trờng này.
1.3. Thị trờng Hoa Kỳ và Bắc Mỹ
Mỹ là thị trờng khá hấp dẫn, lý tởng của ngành dệt-may vì dân số Mỹ khá
đông, hiện có 253 triệu ngời, đa số sống ở thành thị có mức thu nhập quốc dân
cao. Do đó ngời Mỹ có sức mua lớn và nhu cầu đa dạng. Riêng hàng dệt may
nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên tới 30-36 tỷ USD nh năm 1999 là 34 tỷ USD.
Nguồn nhập chủ yếu là từ các nớc Châu á:
Bảng 6: Một số nguồn nhập khẩu chính về hàng may mặc tại Châu á của
Hoa Kỳ.
Nớc Giá trị ( tỷ USD)
Trung Quốc 6,1
Hồng Kông 5
Hàn Quốc 1,8
Đài Loan 2,3

trọng kim ngạch của ta vào thị trờng này chiếm vị trí khá lớn và đóng vai trò
quan trọng, xuất khẩu theo những hiệp định hàng đổi hàng. Qua thời gian dài đó
nhà xuất khẩu của ta phần nào nắm bắt đợc thị hiếu, nhu cầu của ngời tiêu dùng
ở khu vực này và ngời tiêu dùng cũng đã phần nào quen với hàng may mặc của
ta. Tuy nhiên, kể từ khi các nớc XHCN Đông Âu tan vỡ thì kim ngạch hàng
may mặc của ta vào thị trờng này giảm mạnh. Hiện nay, hàng may mặc của ta
vào thị trờng này chủ yếu do các thơng gia buôn theo từng chuyến còn về phía
doanh nghiệp thì chỉ mức thấp do cha tìm đợc phơng thức thanh toán hợp lý
thây thế cho phơng thức hàng đổi hàng trớc đây.
Nh vậy có thể nói, với Việt Nam đây là thị trờng truyền thống mà mấy năm
vừa qua chúng ta để vợt khỏi tầm tay. Cần nhanh chóng tìm ra giải pháp cần
thiết để nối lại quan hệ với thị trờng không kém phần hấp dẫn này. Các doanh
nghiệp cần mạnh dạn triển khai phơng thức thanh toán mới phát huy lợi thế vốn
có của ta trong nhiều năm qua trên thị trờng này.
1.5. Thị trờng các nớc ASEAN
6
Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN và đang trên tiến trình
thực hiện AFTA, bên cạnh những cơ hội lớn mở ra cũng còn nhiều thách thức.
Phải tiến hành cắt giảm thuế quan và hàng hoá đợc lu chuyển tự do giữa các nớc
ASEAN tạo nên sự cạnh tranh gay gắt đối với hàng hoá Việt Nam, buộc các
doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực cải tiến công nghệ, áp dụng phơng thức
quản lý hiện đại và phải tạo đợc cho mình một nền tảng vững chắc về mọi mặt
để trụ vững trên thơng trờng. Sản phẩm có đợc thị trờng chấp nhận hay không
quyết định đến sự tốn tại của Công ty. Dới sức ép đó sẽ xoá bỏ đi đợc các Công
ty làm ăn trì trệ. Tuy nhiên về phía Việt Nam chắc chắn sẽ có nhiều Công ty cần
phải lột xác .
Bù lại, thị trờng ASEAN với 430 triệu dân, thu nhập bình quân đầu ngời
hàng năm 1.608 USD, tốc độ phát triển bình quân 6-8%/ năm, thì đây quả là
một thị trờng lớn cho hàng may mặc. ASEAN còn là một thị trờng có nền văn
hoá tơng đồng lẫn nhau. Do đó thị hiếu, lối sống cũng tơng đối giống nhau, điều

- Các trung tâm giao dịch: Sỏ giao dịch hàng hoá ở Luân Đôn, Paris,
Singapore, Chicago...
- Các công hội vận tải biển, tổ chức hàng không quốc tế (ICAO), tổ chức
du lịch quốc tế, các tính chất liên lạc viễn thông quốc tế, các mạng lới và
trung tâm dịch vụ tiêu thụ...
Hoạt động của các thể chế quốc tế và khu vực đã đa lại hiệu quả giúp cho th-
ơng mại quốc tế đợc ổn dịnh và phát triển. Trong tơng lai các định chế này sẽ
không thể không tham gia một cách tích cực vào các định chế thế giới và khu
vực nói trên.
Với cơ chế hoạt động của thị trờng thế giới nh vậy đã ảnh hởng tới việc sản
xuất và tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới. Nh khu vực EU đã có các mức thuế
u đãi đối với hàng dệt may của các nớc đang phát triển xuất khẩu vào thị trờng
này. Hiệp định các nớc EU đã có hiệp định về hàng may mặc với từng nớc cụ
thể, dới các quy định các sản phẩm Dệt may của Trung Quốc.
Với các định chế này, nó tạo ra sự công bằng giữa các nớc có nền công
nghiệp may phát triển và các nớc đang phát triển.
Trong bối cảnh chung của thị trờng thế giới nh hiện nay, tình hình sản xuất
và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam cũng có nhiều biến động và nổi lên một
số đặc điểm sau:
+ Năm 2000 đã kết thúc hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU hạn
8
ngạch 22 nghìn tấn dệt may đạt giá trị 450 triệu. Gần đây, Việt Nam đã ký
hiệp định trong lĩnh vực này cho giai đoạn 2001-2003, điều đó sẽ mở ra một
triển vọng to lớn về xuất khẩu hàng dệt may của nớc ta.
+ Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đợc cải thiện một cách cơ bản, song quy
chế tối huệ quốc cho Việt Nam vẫn còn là một câu hỏi cha chính xác. Nếu
chế độ này đợc áp dụng thì đây sẽ là cơ hội lớn về thị trờng hàng dệt may cho
Việt Nam.
+ Kinh tế khu vực phát triển chận lại : việc trao trả Hồng Kông cho Trung
Quốc vào 1/7/2000 vừa qua có thể ảnh hởng đến kinh tế thị trờng khu vực.

Tính theo kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thì hàng may mặt Việt Nam có
tốc độ tăng trởng lớn nhất. Năm 1998 tăng gấp 5 lần so với năm 1994. Đây là
con số khả quan đánh giá sự phát triển ngành may mặc xuất khẩu, song nhìn
vào thực tế thì giá trị ngoại tệ thực thu từ gia công đem lại là 150 triệu USD trên
tổng giá trị xuất khẩu là 874 triệu USD, còn năm 1999 là 194 triệu USD trên
tổng số kim ngạch xuất khẩu là 1,1 tỷ USD thì quả là xuất khẩu kiểu này không
mấy hiệu quả.
Hiện nay năng lực sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam có thể
đạt 2,15 tỷ USD. Đó là kết quả của sự đầu t không ngừng của các doanh nghiệp,
xí nghiệp Việt Nam - hầu hết các địa phơng đều có xí nghiệp may ra đời, các xí
nghiệp may nh : Công ty may 10, Công ty may Việt Tiến, Công ty may Đức
Giang, Công ty may Nhà Bè.. không ngừng cải tiến trang thiết bị, đào tạo đội
ngũ quản lý, công nhân phục vụ quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm chất lợng
cao.
Hiệp hội các xí nghiệp may của Việt Nam hoạt động tích cực, mới đây đã
thành lập Viện mốt với nhiệm vụ tạo mốt, mẫu mã kỹ thuật phục vụ các Công ty
may sản xuất có hiệu quả. Bên cạnh sự đầu t của các doanh nghiệp Việt Nam
các Công ty nớc ngoài cũng đã tham gia đáng kể trong việc đầu t vào ngành
may mặc, nhiều liên doanh trong lĩnh vực may mặc đã đi vào hoạt động thu kết
quả khả quan. Tất cả đã tạo ra một năng lực sản xuất mới cho ngành may mặc
Việt Nam. Quy mô sản xuất đợc mở rộng, tay nghề công nhân không ngừng đ-
ợc nâng lên, mẫu mã đợc cải tiiến phong phú, đa dạng. Các yếu tố này gây nên
sự hấp dẫn đối với các khách hàng có ý định hợp tác.
3. Một số kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất
hàng may mặc.
10
Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển
mạnh mẽ và đợc nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống các Công
ty , xí nghiệp may từ Trung ơng đến địa phơng đều trởng thành đáng kể. Năm
2000 có trên 400 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu dự kiến 2001 con số này sẽ

11
Nh chúng ta đã biết, hàng may mặc luôn đi kèm với yếu tố thời trang, khi
tham gia thị trờng trên thế giới thì các yếu tố đó lại càng phức tạp. Do đó tăng
cờng thực hiện chiến lợc sản phẩm là con đờng thiết thực nhất, thờng xuyên
cách tân, thay đổi mẫu mốt, kiểu dáng và nâng cao chất lợng sản phẩm. Hãy để
chính sản phẩm lên tiiếng là việc làm hiệu quả hơn bất cứ nỗ lực nào. Đây cũng
là bí quyết tất cả các doanh nghiệp thành công nhất trên trờng quốc tế.
Học hỏi kinh nghiệm trong đàm phán, ký kết hợp đồng với nớc ngoài cũng
đang đợc coi là việc làm cần thiết. Công tác đàm phán cần đợc chuẩn chu đáo
bởi đây sẽ là thời điểm xác định lợi ích kinh tế của các bên. Muốn đạt đợc lợi
ích lớn trớc hết phải có nghệ thuật đàm phán khôn khéo, nhiều khi khách hàng
đang có rất nhiều mối hàng nhng do nghệ thuật thuyết phục của ta mà họ vẫn
chấp nhận đặt hàng với những điều kiện có lợi cho chúng ta. Trong đàm phán
rất cần thiết phải hiểu rõ đối phơng (về văn hoá, tài chính, thái độ, phong tục..);
tuỳ theo từng đối tợng mà sử dụng các chiến lợc đàm pháp kiểu cứng, chiến lợc
đàm phán kiểu mềm hay chiến lợc đàm phán kiểu hợp tác. Ngoài ra còn phải
chủ ý tới việc nên áp dụng chiến thuật đàm phán gì ? chiến thuật tri thức hay
chiến thuật tâm lý.
Kinh nghiệm tạo uy tín và tạo khả năng xâm nhập vào thị trờng nớc ngoài
của các doanh nghiệp thành đạt cho thấy cần phải thực hiện song song hai chiến
lợc đó là : chiến lợc marketing và chiến lợc sản phẩm một cách tốt nhất. Thực
hiện chiến lợc marketing hợp lý sẽ cho phép sản phẩm của Công ty đợc mọi ng-
ời quan tâm, chú ý. Khi sản phẩm đã đợc nhiều ngời biết đến cần tiếp tục củng
cố lòng tin và uy tín với khách hàng bằng chính với yếu tố nội tại sản phẩm,
nhất là với hàng may mặc cần luôn luôn tạo ra tính đặc thù, có nh vậy mới
mong duy trì đợc trên thị trờng một cách bền vững. Có câu nói thấy triết lý mà
bao hàm toàn bộ nội dung trên, đó là : Hãy tạo dựng uy tín so cho khách hàng
sẽ mua sản phẩm của Công ty nh một thói quen.
Ngoài ra kinh nghiệm xuất khẩu một số nớc cũng cho thấy: trong thời gian
mới đầu các đơn vị tham gia xuất khẩu may mặc còn gặp nhiều hạn chế về vốn,

và những năm 70 ở miền Nam, nhng mãi tới năm 1975 sau khi thống nhất đất n-
ớc thì ngành mới có sự phát triển đáng kể.
Năm 1978, Liên hiệp các xí nghiệp dệt toàn quốc đợc thành lập trên cơ sở
thống nhất Liên hiệp các xí nghiệp Dệt phía Bắc và Tổng Công ty Dệt phía
Nam, đã phát huy vai trò tích cực trong công tác quản lí ngành kinh tế kĩ thuật,
tạo ra những khả năng liên kết sản xuất giữa hai miền.
Năm 1987-1989, từ tổ chức Liên hiệp các xí nghiệp Dệt chuyển thành Liên
hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu Dệt để kết hợp sản xuất và kinh doanh xuất nhập
khẩu. Đến ngày 5/3/1996 Liên hiệp sản xuất, xuất nhập khẩu Dệt đợc chuyển
thành Tổng Công ty Dệt Việt Nam với chức năng nhiệm vụ là:
- Trung tâm thơng mại của ngành dệt, lấy xuất nhập khẩu là trung tâm hoạt
động để thúc đẩy sự phát triển của ngành.
- Làm đầu mối của ngành kinh tế kĩ thuật và là hạt nhân của hiệp hội Dệt
Việt Nam.
Với mô hình này, không đáp ứng đợc yêu cầu củng cố và phát triển ngành
Dệt, không phát huy đợc sức mạnh tổng hợp, không tạo đợc thế và lực để thúc
đẩy sản xuất kinh doanh. Mặt khác, Nghị định 388/HĐBT ra đời tạo cho các cơ
sở phát huy lợi thế chủ động nhng lại thiếu sự liên kết với nhau thành sức
mạnh, xuất hiện việc tranh mua tranh bán cục bộ bản vị trong sản xuất kinh
14
doanh, dẫn đến không có một sự chỉ huy thống nhất trong ngành. Do quản lí
phân tán nên không đủ sức có đại diện ở nớc ngoài, một cuộc triển lãm ở nớc
ngoài có nhiều đơn vị tham gia mặt hàng trùng lặp, giá cả chào hàng không
giống nhau. Nhiều Công ty nớc ngoài đã lợi dụng sơ hở về mặt tổ chức và quản
lí của ta chèn ép, thủ đoạn dẫn đến thua thiệt cho nền kinh tế nói chung và cho
từng cơ sở ngành dệt nói riêng.
Tiến gần đến thế kỷ 21, công nghiệp dệt may đã và đang có thêm những
thuận lợi để phát triển sôi động với tốc độ ngày càng cao. Song song cùng phát
triển các nguồn lực trong nớc, các doanh nghiệp quốc doanh cũng đang trong
quá trình tích cực thay đổi về tổ chức quản lí, sắp xếp lại sản xuất theo hớng

nhuộm và các sản phẩm cuối cùng của ngành dệt may, xuất nhập khẩu hàng dệt
may gồm các chủng loại tơ, sợi vải hàng may mặc, dệt kim, chỉ khâu, khăn
bông, len thảm đay tơ, tơ tằm, nguyên liệu, thiết bị phụ tùng, phụ liệu hoá chất,
thuốc nhuộm, hàng công nghệ thực phẩm, nông lâm hải sản, thủ công mĩ nghệ,
ô tô xe máy, các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng khác, kinh doanh kho vận,
khu ngoại quan. Thiết kế, thi công xây lắp phục vụ ngành dệt may và xây dựng
dân dụng. Dịch vụ khoa học công nghệ, du lịch khách sạn, nhà hàng văn phòng,
vận tải, du lịch lữ hành trong nớc, xuất nhập khẩu thiết bị, phụ tùng ngành dệt
may, trang thiết bị văn phòng, thiết bị tạo mẫu thời trang, phơng tiện vận tải, vật
liệu điện, điện tử cao su.
Với tổng số vốn khi thành lập là 1.562.500 triệu đồng, trong đó:
-Vốn lu động: 547.140 triệu đồng
-Vốn cố định : 1.015.360 triệu đồng
Hiện tại, Tổng Công ty có 40 doanh nghiệp thành viên tham gia sản xuất từ
kéo sợi dệt vải, hoàn tất và may mặc, một Công ty tài chính, ba xí nghiệp sửa
chữa và sản xuất phụ tùng, một viện thiết kế kĩ thuật dệt may, một viện mẫu và
thời trang, ba trờng đào tạo công nhân. Có các chi nhánh ở thành phố Hải
Phòng và Đà Nẵng và hai Công ty du lịch và dịch vụ thơng mại ở Hà nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Một số đại diện ở nớc ngoài. Bên cạnh đó, Tổng Công
ty còn có Công ty tài chính TFC là tổ chức tạo nguồn vốn cho hoạt động đầu t
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Sự đổi mới tổ chức nh trên có ý
nghĩa kết hợp hai ngành dệt và may trớc đây vốn hoạt động riêng lẻ thành một
tổ chức chung để giảm dần sự cạnh tranh phân tán, manh mún trong đầu t sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời có thể tích tụ, tập trung vốn
cho sự phát triển lâu dài vừa chuyên môn hoá vừa đa dạng hoá một cách cân
đối, hài hoà. Trong tơng lai không xa, với sự ra đời của hiệp hội Dệt May Việt
Nam đã tạo mái nhà chung cho các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành
phần kinh tế có thể liên kết và hỗ trợ nhau tốt hơn trong sản xuất kinh doanh.
16
2.Chức năng, nhiệm vụ của Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam.

17
- Hội đồng quản trị, ban kiểm soát
- Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
- Các đơn vị thành viên Tổng Công ty
Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lí các hoạt động của Tổng
Công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng Công ty theo nhiệm vụ của
Nhà nớc giao.
Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng quản trị giao về việc kiểm
tra giám sát hoạt động điều hành của Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và các
đơn vị thành viên Tổng Công ty trong hoạt động tài chính, chấp hành pháp luật,
điều lệ Tổng Công ty, các nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị.
Tổng giám đốc do Thủ Tớng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm khen thởng,
kỉ luật theo đề nghị của Hội đồng quản trị. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân
của Tổng Công ty và chịu trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị, trớc Thủ Tớng
Chính phủ và trớc pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng Công ty, Tổng
giám đốc là ngời có quyền điều hành cao nhất trong Tổng Công ty.
Phó Tổng giám đốc là ngời giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một số
lĩnh vực hoạt động của Tổng Công ty theo phân công của Tổng giám đốc và
chịu trách nhiệm trớc Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ đợc Tổng giám
đốc phân công thực hiện.
Kế toán trởng Tổng Công ty giúp Tổng giám đốc chỉ đạo thực hiện công tác
kế toán, thống kê của Tổng Công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo qui định
của pháp luật.
Văn phòng Tổng Công ty, các ban chuyên môn, nghiệp vụ có các chức năng
tham mu, giúp việc Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lí điều hành
công việc.
Đơn vị thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập và Tổng Công ty có
quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ đối với Tổng Công ty theo luật định tại điều lệ của Tổng Công ty.
Thành viên là các đơn vị hạch toán phụ thuộc: có quyền tự chủ kinh doanh

Văn phòng Tổng Công ty: Là bộ môn chức năng tham mu giúp việc Tổng
giám đốc và hội đồng quản trị trong lĩnh vực hành chính quản trị, tổng hợp, làm
19
cầu nối giữa Nhà nớc với Tổng Công ty và kinh doanh trong lĩnh vực đối nội đối
ngoại, bảo đảm cho hoạt động của Tổng Công ty đợc tiến hành có hiệu quả.
Ban kỹ thuật đầu t: Có chức năng tham mu giúp Tổng giám đốc và hội
đồng quản trị trong lĩnh vực quản lí khoa học công nghệ-môi trờng và công tác
chất lợng sản phẩm của Tổng Công ty.
Ban xuất nhập khẩu: Là bộ môn chức năng tham mu giúp việc cho Tổng
giám đốc và Hội đồng quản trị trong lĩnh vực quản lí ngành. Giúp đỡ các đơn vị
thành viên trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Trực tiếp kinh doanh xuất
nhập khẩu nhằm tạo nguồn thu và thúc đẩy sự phát triển của Tổng Công ty.
Nhiệm vụ của ban là:
-Xây dựng chiến lợc phát triển và mục tiêu phát triển kinh doanh xuất
nhập khẩu của Tổng Công ty trong từng giai đoạn.
-Nghiên cứu tình hình thị trờng, giá cả, khách hàng, sự biến đổi, xu h-
ớng phát triển của ngành Dệt-May thế giới.
-Nghiên cứu hệ thống quản lí, các chính sách và công cụ của nó nh
quota (giá tối thiểu, giá nhập tối đa) đối với những sản phẩm chính để Tổng
giám đốc và hội đồng quản trị duyệt.
-Hớng dẫn các đơn vị thành viên thực hiện khung giá, giá đã duyệt,
theo dõi tình hình giá cả thị trờng để đề xuất Tổng giám đốc và hội đồng quản
trị thay đổi kịp thời, đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong cơ chế thị trờng.
-Xây dựng các chính sách của Tổng Công ty đối với thơng nhân, khách
hàng, chính sách đối với từng khu vực để Tổng giám đốc duyệt phục vụ cho
công tác kinh doanh xuất nhập khẩu.
-Phối hợp với ban kế hoạch đầu t xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất
nhập khẩu của cơ quan Tổng Công ty.
-Trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu tìm mọi khả năng khai thác
nguồn hàng xuất nhập khẩu bằng các hình thức tự doanh, đổi hàng xuất nhập

Ba là: Thị trờng rộng lớn ở cả trong và ngoài nớc. ở trong nớc thì đời
sống nhân dân đợc nâng lên, nhu cầu về mặc chuyển từ ấm sang đẹp,
mốt tức là nhu cầu hàng may mặc ngày càng tăng và nhanh biến đổi. Còn trên
21
thế giới thì xu thế ngành may mặc phổ thông đang chuyển dần sang các nớc
đang phát triển do ở những nớc này có lợi thế về lao động rẻ hơn những nớc
phát triển.
Bốn là: Nớc ta có điều kiện để phát triển trồng bông, đay, thúc đẩy
ngành dệt may phát triển vì nguyên liệu cung cấp trong nớc thờng rẻ hơn nhập
khẩu.
Với những đặc điểm trên mà ngành may Việt Nam đã ngày càng phát triển,
thu hút đợc nhiều lao động xã hội - gần 50 vạn ngời, chiếm 22,7% lao động
công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo sự ổn định
chính trị-kinh tế-xã hội, do đó đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm. Hiện nay ngành
may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng về ăn mặc của nhân dân, quốc phòng
và tiêu dùng trong các ngành công nghiệp khác.
4.2. Thực trạng ngành may Việt Nam.
Do có những đặc điểm phù hợp với điều kiện nớc ta, nên ngành may Việt
nam và may xuất khẩu phát triển rất cao trong thời gian qua cả về mặt sản lợng
và kim ngạch xuất khẩu. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu thô
và liên tục tăng, có thể thấy rõ qua bảng dới đây:
Bảng 2: Tốc độ tăng trởng qua các năm
Năm 1997 1998 1999 2000 2001
Kim ngạch xuất khẩu(tr.USD) 550 750 1150 1250 1350
Tốc độ tăng trởng(%) 36 53 8,7 14,0
Đồng thời cũng là ngành mang tính xã hội cao, sử dụng mọi lao động trên
khắp mọi miền đất nớc, đặc biệt là lao động nữ. Số lao động công nghiệp của
ngành vào loại đứng đầu trong cả nớc: khoảng 300 lao động chính và nhiều lao
động phụ khác.
Về mặt hàng: Sản phẩm ngành may rất đa dạng, có tính chất thời trang vừa

nh Nhật Bản, Canada, các nớc công nghiệp mới nh Đài Loan, Hồng Kông, Hàn
Quốc, Singapo và gần đây khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thờng hoá quan hệ đối với
Việt Nam, hàng may của ta có thêm thị trờng Mỹ. Tuy có những thuận lợi trong
việc mở rộng thị trờng nhng thử thách đối với hàng may của ta với thị trờng thế
giới còn rất lớn. Đó là khả năng thích ứng về mẫu mốt, chất lợng, giá cả, thời
hạn giao hàng theo thời vụ và tập quán buôn bán còn rất hạn chế. Số lợng sản
phẩm có chất lợng cao đáp ứng đợc nhu cầu nguời tiêu dùng ở các nớc phát triển
cha nhiều. Thị trờng truyền thống có dung lợng lớn nh Liên Xô và các nớc Đông
Âu cha tìm đợc phơng thức làm ăn thích hợp, nhất là phơng thức thanh toán.
23
Cho đến nay, ngành may Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 200
Công ty thuộc hơn 40 nớc trên thế giới và khu vực. Tuy vậy, thị trờng xuất khẩu
vẫn không ổn định, đặc biệt là đối với thị trờng phi hạn ngạch.
5. Mục tiêu và định hớng phát triển.
Theo quy luật của sản xuất hàng hoá, thị trờng là yếu tố quyết định của sản
xuất. Để đạt đợc mục tiêu chiến lợc phát triển, hoà nhập đợc vào thị trờng may
của khu vực và thế giới, trong những năm tới ngành may Việt Nam coi trọng
phơng châm hớng ra xuất khẩu-coi trọng thị trờng nội địa để tổ chức sản xuất.
Sau khi mất thị trờng truyền thống là Liên Xô và Đông Âu cũ, ngành may đã
cố gắng khai thác thị trờng mới là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, EU... song
còn nhiều hạn chế. Để duy trì và phát triển sản xuất-xuất nhập khẩu, Tổng Công
ty phải tổ chức tìm kiếm thị trờng một cách chủ động, khắc phục tính thụ động
ngồi chờ, giữ vững, khai thác, mở rộng các thị trờng hiện có, nhanh chóng tìm
kiếm, khai thác thị trờng mới, đặc biệt là thị trờng Mỹ và thị trờng truyền thống
cũ. Trớc mắt có thể làm gia công, nhng phải chuẩn bị các điều kiện để chuyển
dần từng bộ phận, từng doanh nghiệp khi đủ khả năng sang phơng thức xuất
FOB.
Trong hai thập kỷ tới, ngành may Việt Nam vẫn hớng ra xuất khẩu để thu
hút ngoại tệ, tự cân đối để tồn tại và phát triển, đồng thời coi trọng thị trờng nội
địa để làm cơ sở cho sự phát triển.

xuất khẩu bằng vải do Việt Nam sản xuất chiếm khoảng 40-50%. Tạo việc làm
cho khoảng một triệu lao động.
Đến năm 2010 xuất khẩu hàng may mặc đạt 3 tỷ USD, tăng gấp hai lần so
với năm 2003. Sản phẩm xuất khẩu bằng vải do Việt nam sản xuất chiếm
60-70%. Tạo ra công ăn việc làm cho gần hai triệu lao động với mức thu nhập
bình quân trên 100 USD/1tháng/1ngời.
25

Trích đoạn Tình hình xuất khẩu hàng may mặc theo mặt hàng. Tình hình xuất khẩu hàng may mặc theo thị trờng. Thực lãi của Tổng Công ty từ hoạt động xuất khẩu Giải pháp về hợp tác quốc tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status