PHÂN TÍCH NGÀNH CAO SU TỰ NHIÊN VIỆT NAM - Pdf 13

The University of Danang- Shu-Te University Module: Quản trị Chiến lược
Class: SD MBA 1 Lecturer: Dr. Nguyen Thanh Liem
Student Name: Lê Duy Bảo Email: [email protected]
PHÂN TÍCH NGÀNH CAO SU TỰ NHIÊN VIỆT NAM
Nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng mạnh trong những năm qua, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
như Trung Quốc, Ấn Độ đã kéo theo nhu cầu đối với các sản phẩm có sử dụng nguồn nguyên liệu cao su tăng lên. Nhu
cầu nguyên liệu cho các ngành sản xuất ô tô, điện, điện tử và các ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su khác
luôn ở mức cao trong khi nguồn cung của các nước sản xuất cao su chính tuy vẫn tăng liên tục qua các năm nhưng
không đáp ứng đủ nhu cầu.
I- Ngành cao su thế giới
1. Nguồn cung cao su thế giới
Nhu cầu cao su ngày càng tăng trên thế giới trong khi việc tăng nguồn cung cao su gặp khó khăn do diện
tích đất trồng không được mở rộng, thiên tai xảy ra trong vài năm gần đây như sóng thần, hạn hán kéo dài,
bão lũ đã làm giảm nguồn cung cao su của các nước Đông Nam Á, nơi chiếm tới 80% sản lượng của toàn cầu.
Sản lượng sản xuất cao su tự nhiên toàn cầu tăng trưởng bình quân 5%/năm trong giai đoạn 2003-2007, trong đó
các nước châu Á chiếm tới 90% sản lượng của toàn cầu.
Biểu 1: Sản lượng sản xuất cao su tự nhiên thế giới
Nguồn: IRSG
Năm 2007, hầu hết các nước sản xuất cao su lớn đều sụt giảm về sản lượng. Sản lượng cao su thế
giới năm 2006 đạt 9,7 triệu tấn, song sản lượng năm 2007 và dự báo sang năm 2008 sẽ vẫn chỉ ở mức đó.
Tại Thái Lan-nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, sản lượng năm 2007 giảm khoảng 1,5%, xuống 3 triệu
tấn do mưa nhiều và diện tích trồng cao su giảm. Inđônêxia có cơ hội vươn lên vị trí cao hơn trong sản xuất
cao su thế giới, với sản lượng cao su thiên nhiên năm 2007 đạt gần 2,8 triệu tấn tăng gần 5% so với năm
2006 và bởi Malayxia bắt đầu chuyển sang tập trung vào cây cọ dầu, trong khi Thái Lan thiếu đất trồng cây
cao su trầm trọng. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Inđônêxia, Inđônêxia đang hướng tới tốc độ tăng
trưởng sản lượng 4,12%/năm nhằm nâng sản lượng cao su lên 3,072 triệu tấn vào năm 2010. Để đạt được mục tiêu
Page 1 of 28
này, Chính phủ Inđônêxia có kế hoạch phục hồi 250.000 ha cao su tiểu điền đã cũ và trồng mới 50.000 ha cao su tiểu
điền cho đến năm 2010. Đối với Malayxia, nước sản xuất lớn thứ 3 thế giới, những tháng đầu năm 2007 do lạnh giá và
mưa quá nhiều đã gây gián đoạn việc thu hoạch mủ, làm giảm mạnh sản lượng mủ cao su. Nước này cũng có thể mất
250.000 ha cây cao su trong giai đoạn 2008-2020 do công nghiệp hoá mạnh mẽ và tăng diện tích trồng cọ dầu trong

đó cao su tự nhiên tăng 5,2%, còn cao su tổng hợp tăng 3,9%. Năm 2005, do giá dầu biến động mạnh đã
phần nào lý giải cho việc tăng trưởng chậm của cao su tổng hợp chỉ 0,84%, trong khi đó cao su tự nhiên tăng
cao hơn từ 4,91% năm 2004 lên 5,28% năm 2005. Nhưng sang năm 2006 và 2007 nhu cầu cao su tổng hợp
bắt đầu có xu hướng tăng trở lại ngày càng cạnh tranh gay gắt với cao su tự nhiên.
Từ đầu năm 2008, giá cao su đã liên tục tăng mạnh bởi sản lượng của các nước sản xuất chính giảm
sút do mưa nhiều và giá dầu mỏ tăng mạnh. So với cùng kỳ năm 2007, giá cao su tại thị trường châu Á đã tăng khoảng
35%, riêng tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã tăng tới 44,47%. Nhưng bước sang quý III/2008 đến nay, giá cao su bắt
đầu chững lại và có xu hướng giảm do nhu cầu chững lại và giá dầu thô giảm mạnh. Hiện tại, giá cao su RSS3 giao
tháng 9/2008 tại thị trường Thái Lan giao dịch ở mức 294 UScent/kg, giảm 2,28% so với tuần trước và giảm
9,26% so với giá giao dịch cùng kỳ tháng trước; giá cao su SIR 20 giao cùng thời điểm tại Indonesia cũng
giảm 3,3% (tương đương 12 UScent/kg), xuống còn 293 UScent/kg; cao su SMR 20 tại Malaysia giao dịch ở mức
291,5 giảm 9,75 UScent/kg (tương đương giảm 3,24%) so với mức giao dịch cuối tuần trước. Tại Thượng Hải (Trung
Quốc) giá cao su RSS 3 giao tháng 9/2008 giao dịch ở mức 27100 NDT/tấn, giảm 0,37% so với cuối tuần trước.
Ngược lại, giá cao su RSS 3 giao tháng 8/2008 tại thị trường Nhật Bản lại tăng 0,75% so với tuần trước và ổn định
so với tháng trước, đạt mức 333,6 JPY/kg (3,05 UScent/kg)
Biểu 4: Mức tiêu thụ cao su của thế giới
Nguồn: IRSG
Page 3 of 28
3. Dự báo cung cầu cao su thế giới
Theo dự báo Tập đoàn nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), thị trường cao su thế giới năm 2008 sẽ
tương đối cân đối giữa cung và cầu, với sản lượng dự kiến là 9,85 triệu tấn, còn mức tiêu thụ ở
mức 9,84 triệu tấn. Nhưng năm 2009 thị trường cao su thế giới sẽ thiếu 230.000 tấn cao su thiên nhiên
bởi nhu cầu tăng nhanh hơn so với nguồn cung. Do nhu cầu cao su của Trung Quốc và các nước
tiêu thụ lớn khác sẽ tăng cao 3% nên sản lượng của những nước sản xuất cao su không đáp ứng được.
Sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu dự báo sẽ đạt 10,16 triệu tấn vào năm 2009, thấp hơn mức tiêu thụ là
10,39 triệu tấn. Thị trường cao su thế giới vẫn được dự báo tăng vững ít nhất cho tới năm 2012. Sản lượng tiêu thụ
cao su tự nhiên trong các năm tới tuy không nhiều như trước nhưng theo dự báo nhu cầu cao su thế giới sẽ tiếp
tục tăng nhẹ. Thị trường ôtô vẫn là nhân tố chính cho sự tăng trưởng. Dẫn đầu về nhu cầu là Trung Quốc được dự
báo sẽ tăng khoảng 8%, tiếp đến là Mỹ với 4,1% và Liên minh châu Âu với 2%.
Biểu 5: Tình hình dự báo cung cầu cao su tự nhiên

cao su giảm do ảnh hưởng xấu của thời tiết trong năm và diện tích cho mủ tăng không đáng kể. Sản lượng
khai thác mủ cao su của các đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt nam trong 6 tháng đầu năm
2008 sụt giảm so với kế hoạch do đầu năm 2008 bệnh phấn trắng phát sinh, phát triển trên hầu hết diện tích
khai thác, tình hình mưa bão diễn ra sớm hơn với tần suất cao hơn các năm cũng làm ảnh hưởng đến việc khai thác ở
các đơn vị. Đến hết ngày 30/6/2008, các đơn vị sản xuất cao su đã khai thác được 81222 tấn, đạt 26,9% kế hoạch
năm và thấp hơn 5,27% so với cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên, doanh thu và lợi nhuận của Tập đoàn vẫn có
sự tăng trưởng do giá bán mủ cao su ổn định ở mức cao.
Biểu 7: Sản lượng sản xuất cao su của VN
Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
2. Thị trường tiêu thụ
Cao su luôn là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, xuất khẩu có giá trị
cao. Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam là đơn vị chính cung ứng gần như tất cả sản lượng mủ cao su xuất khẩu
Page 5 of 28
cũng như tiêu thụ trong và ngoài nước, chiếm tỷ trọng quy mô trên 70% toàn ngành cao su Việt Nam, là hạt
nhân phát triển cao su ra diện rộng. Đặt biệt, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam còn được Chính phủ giao
trách nhiệm phát triển 150000 ha cao su tại Lào và Campuchia, 50000 ha cao su tại Tây Nguyên, 100000
ha cao su tại Tây Bắc.
Tốc độ phát triển bình quân của xuất khẩu cao su trong giai đoạn 2001-2006 là 17,66%, cao nhất trong các nước
xuất khẩu cao su như Thái Lan 2,37%, Indonesia 5,27%, Malaysia 3,52%. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng
rất cao nhưng chủ yếu do giá xuất khẩu tăng đột biến còn sản lượng xuất khẩu tăng không đáng kể, chỉ khoảng 10%.
Xuất khẩu cao su năm 2007 của Việt nam đạt 700 nghìn tấn, so với năm trước đạt xấp xỉ về lượng, tăng 5,6% về kim
ngạch. Từ năm 2002-2007, sản lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam tăng 173%, doanh thu tăng gần 600%, đạt 1,36
tỉ USD so với 230 triệu USD năm 2002. Dự đoán sản lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới sẽ tăng
4% và doanh thu xuất khẩu tăng 12,4% so với năm 2007. Trong kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam, cao su chế
biến mới chỉ đạt 150 triệu USD trong năm 2007, với mặt hàng chính là săm lốp chiếm 11% doanh thu.Mặt
khác, giá cao su xuất khẩu bình quân năm 2007 đạt khoảng 1944 USD/tấn, tăng 7% so với năm trước, nhưng xuất
khẩu cao su chỉ đạt khoảng 85% về lượng và 94% về kim ngạch so với kế hoạch năm. Như vậy cao su là một trong
những mặt hàng không đạt được mục tiêu kế hoạch xuất khẩu của năm 2007.
Hiện nay, Việt Nam có gần 10 chủng loại cao su xuất khẩu, nhưng cao su khối SVR3L vẫn chiếm tỉ lệ cao
nhất, tới 70% tổng sản lượng xuất khẩu. Đây cũng là chủng loại cao su xuất được giá cao nhất hiện nay so với các

thuộc vào thị trường Trung Quốc.
Tính đến hết tháng 7/2008, tổng lượng cao su xuất khẩu đạt khoảng 299 ngàn tấn với trị giá trên 738
triệu USD, giảm 15,51% về lượng nhưng lại tăng 17,77% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2007. Giá
cao su trong tháng 7 đạt mức cao nhất kể từ đầu năm và cao nhất từ trước đến nay, đạt bình quân là 3008
USD/tấn, hơn cùng kỳ năm trước là 58,1%. Chủng loại cao su được xuất khẩu nhiều nhất trong tháng 7 vẫn
là SVR3L (43,5%), kế đến là SVR10 (17,2%), latex (7,9%). Hầu hết, các chủng loại đều giảm lượng
xuất khẩu, giảm nhiều nhất cao su hỗn hợp (-93%). Riêng SVR10, Skim và RSS 3 tăng so với cùng kỳ
năm 2007. Thị trường xuất khẩu chính trong 7 tháng đầu năm 2008 là Trung Quốc, đạt 199142 tấn, chiếm 64,6%
tổng sản lượng cao su xuất khẩu. Tiếp đến là thị trường Hàn Quốc, Đức và Đài Loan. Hầu hết lượng cao su
xuất khẩu sang các thị trường đều giảm, chỉ tăng ở thị trường Nhật và Thổ Nhĩ Kỳ.
Biểu 8: Thị trường xuất khẩu cao su 7 tháng
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tuy nhiên, giá cao su bắt đầu giảm từ tháng 8/2008 nhưng tốc độ tụt nhanh theo chiều thẳng đứng từ
đầu tháng 10 tới thời điểm này, chỉ trong vòng hơn 10 ngày, giá đã "trôi" khoảng 15 triệu đồng/tấn. Nếu như tháng
7/2008, mủ cao su đang đứng ở đỉnh cao nhất về giá (khoảng 58 triệu đồng/tấn) thì đến ngày 13/10/2008 chỉ còn
khoảng 30 triệu đồng/tấn. Theo Hiệp hội cao su Việt Nam, nguyên nhân khiến giá cao su giảm mạnh do giá dầu
thô thế giới giảm gần 50% khiến xu hướng sử dụng cao su tổng hợp từ dầu (chiếm khoảng 50%) trở lại, đã làm
giảm một phần nhu cầu cao su thiên nhiên. Quan trọng hơn, cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và các nước châu
Âu đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, lượng mua sắm ôtô và săm lốp ở các nước phát triển chững lại làm cho sức
mua cao su giảm. Bên cạnh đó, hiện nay cao su Việt Nam đang bước vào thời kỳ tăng sản lượng của cao su (từ tháng 9
đến tháng 12) nên lượng mủ cao su bán ra trên thị trường tăng mạnh làm cho giá mua mủ cao su tuột thê thảm.
Page 7 of 28
Mặc dù sản lượng cao su của Việt Nam vẫn tăng nhưng nguồn nhập khẩu cao su của Việt Nam từ các
nước láng giềng cũng chiếm một tỷ lệ tương đối. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội cao su Việt Nam, trong
7 tháng đầu năm 2008, nước ta nhập khẩu cao su từ Thái Lan đạt 24342 tấn; từ Nga 6836 tấn; từ Singapore
123 tấn; từ Pháp 808 tấn; từ Nhật Bản đạt 8261 tấn. Lượng cao su nhập khẩu của nước ta chủ yếu để tái xuất
khẩu, đặc biệt là sang Trung Quốc.
Định hướng của ngành cao su Việt Nam tới năm 2010 là nâng diện tích trồng cao su lên 700.000 ha
(gấp 1,5 lần hiện tại), sản lượng đạt 520.000 tấn mủ, chuyển đổi sản xuất cao su nguyên liệu và định hướng
phát triển sản xuất cao su công nghiệp, xuất khẩu cao su thành phẩm kết hợp cùng với cao su nguyên liệu.

· Vườn cây cao su của nước ta ngày càng già cỗi, một số vườn cây kém hiệu quả được tổ chức để
thanh lý trồng lại, trong khi đó đất tốt để trồng cây cao su không còn nhiều vì thế diện tích trồng cao su khó
có thể mở rộng. Không chỉ thế, công nghệ chế biến mủ cao su của các công ty hiện đang dừng lại ở mức sơ
chế, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là bán thành phẩm. Trong tương lai, nếu phải cạnh tranh về chất lượng
hàng hóa thì các doanh nghiệp cao su Việt Nam sẽ khó giành được thị phần. Tuy nhiên, các chuyên gia tài
chính vẫn cho rằng đây là nhóm ngành có tốc độ phát triển ổn định, lâu dài, phù hợp với những chiến lược
đầu tư dài hạn.
· Kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam trong giai đoạn 2003-2007 tăng trưởng rất cao, nhưng chủ
yếu do giá xuất khẩu tăng đột biến còn sản lượng xuất khẩu tăng không đáng kể, chỉ khoảng 10%. Mủ cao su của Việt
Nam được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc (chiếm tới 60%) mà thị trường này thường có nhiều biến động, giá cả
diễn biến thất thường do đó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của ngành cao su trong nước. Ngoài ra, nhiều quốc gia đang
gia tăng diện tích trồng cao su của mình như Brazil, Trung Quốc điều này sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh trong
các năm tới đối với ngành cao su Việt Nam.
Cơ hội
· Nhu cầu sản xuất và tiêu thụ cao su thế giới trên dưới 20 triệu tấn/năm, bao gồm cả cao su tự nhiên (có đặc
tính đàn hồi và dẻo dai) và cao su tổng hợp (có đặc tính cứng và chống mài mòn cao), trong đó cao su tổng hợp chiếm
một tỷ lệ tương đối lớn khoảng 60%, được sản xuất từ nguồn nguyên liệu chính là dầu mỏ - sản phẩm cạnh tranh
trực tiếp với cao su tự nhiên. Vì vậy, biến động của giá dầu thế giới đã tác động không nhỏ đến nhu cầu tiêu
thụ cao su tự nhiên của thế giới.
Biểu 9: Diễn biến giá dầu thô và giá cao su tự nhiên
Nguồn: Tổng cục thống kê
Giá dầu thô từ năm 2003 có xu hướng tăng mạnh mẽ, đặc biệt là từ năm 2007 đến những tháng đầu năm 2008.
Nguyên nhân chính là do nhu cầu tiêu thụ dầu của thế giới giai đoạn này là rất lớn (trên 80 triệu thùng/ngày) dẫn tới
việc giá dầu vượt quá khoảng giá 40-50 USD/thùng. Một vài yếu tố quan trọng khác dẫn tới sự tăng lên của giá dầu
Page 9 of 28
đó là sự suy yếu của đồng USD và sự phát triển liên tục và nhanh chóng của các nền kinh tế châu Á nhất là hai nước
lớn và đông dân là Trung Quốc và Ấn Ðộ với mức tăng trưởng kinh tế hàng năm lên đến gần 10%. Trong khi đó thì
mức sản xuất không thể gia tăng theo kịp vì các quốc gia sở hữu các mỏ dầu không thể đầu tư nhanh chóng vào các
máy móc hay giàn khoan tối tân để có thể gia tăng mức sản xuất theo kịp mức cầu. Mặt khác, các trận bão
nhiệt đới năm 2005 đã gây nên tổn thất cho hệ thống lọc dầu của Mỹ và các nước khác, cộng với việc chuyển từ việc

Page 10 of 28
tục tăng mạnh và nguồn dự trữ ở cả các nước sản xuất và các nhà nhập khẩu, nhất là các hãng sản xuất lốp xe đều eo
hẹp do giá quá cao vào năm 2007 khiến người mua không dám mua nhiều nên không củng cố được kho dự trữ.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực cao su có điều kiện phát triển bền
vững.
Tóm lại, ngành cao su tự nhiên thế giới trong nhiều năm qua đã có được nhiều yếu tố thuận lợi, hỗ trợ phát
triển như: kinh tế thế giới khởi sắc, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ
đã làm gia tăng nhu cầu cao su tự nhiên trong ngành sản xuất vỏ xe ô tô thế giới và các ngành công nghiệp chế biến
sản phẩm sau cao su khác như: găng tay, sản phẩm cao su y tế và
giá dầu thô tăng đã làm cho tăng chi phí sản xuất cao su tổng hợp, sản phẩm duy nhất có thể thay thế cao su tự
nhiên nên tác động làm tăng giá cao su tự nhiên. Như vậy, trong giai đọan từ nay đến 2010, theo dự báo thị trường,
nhu cầu tiêu thụ cao su tiếp tục tăng, giá cao su vẫn ổn định và duy trì ở mức cao, thị trường tiêu thụ thuận lợi
mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà sản xuất.
Thách thức
· Cao su là một ngành phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nhất là ảnh hưởng của mưa bão, nắng nóng.
Là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên những ảnh hưởng từ thiên tai là khó tránh khỏi.
· Diện tích đất thích hợp để trồng cây cao su không những không thể mở rộng mà còn phải đối diện
với nguy cơ bị thu hẹp chuyển sang sử dụng cho những mục đích khác. Thêm vào đó, các vườn cao su lại đang trong
thời kỳ năng suất giảm do hết tuổi khai thác, một số vườn cây phải thanh lý trồng lại, nên sản lượng chung của toàn
ngành đang có chiều hướng giảm dần. Các doanh nghiệp cao su đã có hướng phát triển sang các nước lân cận nơi
còn rất nhiều tiềm năng phát triển cây cao su. Tuy nhiên, việc trồng cao su tại Lào và Campuchia cũng không
hoàn toàn thuận lợi do cũng có rất nhiều doanh nghiệp từ Trung Quốc và Thái Lan sang đầu tư trồng cao su.
· Ngành cao su tự nhiên thế giới đã phục hồi trở lại có sự đóng góp không nhỏ từ nhu cầu tiêu thụ cao su tự
nhiên của nền kinh tế Trung Quốc (chiếm 21% nhu cầu của thế giới) chủ yếu là ngành công nghiệp ô tô và vỏ xe là sản
phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu là cao su tự nhiên. Nhưng liệu rằng Trung Quốc, Ấn Độ hay nhiều quốc gia khác có
tiếp tục tập trung phát triển ngành công nghiệp ô tô khi mà những lợi thế so sánh về ngành ô tô bị triệt tiêu do tác
động của giá cao su tự nhiên tăng nhanh, chi phí nhân công tăng theo sự phát triển của nền kinh tế và đáng kể nhất
đó là nhu cầu sử dụng ô tô thế giới sẽ bão hòa một khi nhu cầu ô tô tại thị trường Trung Quốc và Ấn Độ không còn
đột biến hoặc khoa học thế giới phát triển phát minh những sản phẩm thay thế.
· Nhu cầu cao su tổng hợp luôn chiếm một tỷ lệ lớn gần 60% nhu cầu cao su thế giới, mặc dù giá dầu thô,

Mã EPS P/E P/B ROA ROE Nợ/VC Nợ/TTS Khả năng
thanh toán
tức thời
Tỷ lệ lãi
ròng
HRC 6919 4,57x 1,68x 32,65% 39,11% 0,08x 0,07x 6,44x 41,71%
TRC 6104 6,13x 2,50x 21,71% 37,73% 0,43x 0,30x 1,43x 35,18%
TNC 2245 4,99x 0,96x 15,65% 19,02% 0,23x 0,18x 2,56x 24,41%
DRC 5814 4,39x 1,62x 12,16% 36,67% 2,26x 0,69x 1,47x 5,55%
DPR 5969 7,49x 2,64x 20,31% 34,46% 0,47x 0,32x 1,11x 32,97%
TB Ngành 5,51x 1,88x 20,50% 33,40% 0,69x 0,31x 2,60x 27,96%
Trong phần phân tích doanh nghiêp, lựa chọn 3 doanh nghiệp tiêu biểu trong ngành cao su tự nhiên
Việt Nam đó là Công ty cổ phần cao su Đồng Phú (DPR), Công ty cổ phần cao su Hòa Bình (HRC) và Công
ty cổ phần cao su Tây Ninh (TRC) để phân tích chi tiết hơn.
Page 12 of 28
CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐỒNG PHÚ (DPR)
1. Phân tích SWOT
Điểm mạnh
- Trong quá trình hoạt động, công ty luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt
Nam, của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng khác nên hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều
thuận lợi.
- Công ty có chế độ đãi ngộ, khen thưởng thích đáng cho cán bộ nhân viên theo tiêu chí sản lượng khai
thác tạo động lực thúc đẩy cho toàn thể cán bộ nhân viên luôn tích cực trong lao động sản xuất, do đó năng suất khai
thác tăng đều qua các năm.
- Công tác quản lý chi phí trong khai thác, chế biến xuất khẩu của công ty rất có hiệu quả. Hiện nay công ty
đang quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 đã được tổ chức QMS (Australia) và QUACERT (Việt
Nam) đồng chứng nhận nhờ đó công ty có thể giảm được giá thành trong sản xuất.
Điểm yếu
- Diện tích khai thác của công ty có quy mô tương đối nhỏ so với các doanh nghiệp khác trong ngành và có xu
hướng giảm.

cấu vườn cây giống mới năng suất cao. Sản phẩm cao su của công ty một nửa được tiêu thụ trong nước, phần
còn lại được xuất khẩu sang các nước Châu Âu: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha. Với tình hình sản xuất
của công ty trong những năm qua và những dự án trên thì khả năng phát triển của công ty trong tương lai là rất khả
quan.
Biểu 3: Sản lượng khai thác của DPR
Nguồn: DPR
3. Phân tích hoạt động kinh doanh của DPR
Hoạt động sản xuất kinh doanh của DPR có sự tăng trưởng tốt qua các năm. Tài sản của công ty năm 2006 tăng
đột biến do tác động của việc đánh giá lại tài sản để cổ phần hóa làm cho tài sản tăng lên nhiều. Doanh thu của công
ty trong giai đoạn từ năm 2005-2007 tăng trưởng cao bình quân tăng trên 20%/năm. Đây là kết quả của việc giá
bán tăng mạnh trong thời gian qua. Bên cạnh đó, yếu tố sản lượng tiêu thụ với sản lượng tự khai thác tăng khá
đều cũng là một phần đóng góp cho việc tăng doanh thu tuy không đáng kể. Doanh thu năm 2006 tăng 38,99% do giá
bán và sản lượng tiêu thụ tăng mạnh, đây được coi là một năm thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất cao su.
Nhưng sang năm 2007 doanh thu tăng trưởng chậm lại do có diện tích cây sẽ phải thanh lý và trồng lại. Lợi
nhuận sau thuế năm 2007 vẫn tăng đột biến so với 2006 do công ty được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm
Page 14 of 28
2007 (khoảng 60 tỷ), tiếp tục hưởng trong năm 2008 nhờ cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu. Ngoài ra, năm 2007 DPR
cũng không bị ảnh hưởng bởi đợt bão, giá dầu thế giới cùng thời điểm cũng tăng cao, đây là những yếu tố chính tạo
nên mức tăng trưởng lợi nhuận đột biến. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh cao su vẫn đóng vai trò chủ chốt
trong cơ cấu lợi nhuận do giá bán thuận lợi cùng với việc kiểm soát chi phí tốt.
Bảng 4: Kết quả hoạt động kinh doanh của DPR trong 3 năm
Đv: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005
2006 2007 6 tháng/2008
Giá trị Giá trị T/trưởng Giá trị T/trưởng Giá trị
Tổng tài sản
536,56 1.691,72 215,29% 1.133,61 -32,99% 962,29
Nợ phải trả
128,74 1.220,01 38,99% 465,47 -61,85%

Giá vốn hàng bán
367.455
61,0% 448.004 63,7% 323.018 61,3% 233.240 83,3%
Chi phí bán hàng
7.949 1,3% 10.676 1,5% 8.258 1,6% 4.676 1,7%
Chi phí quản lý
33.978 5,6% 27.927 4,0% 20.463 3,9% 9.240 3,3%
Chi phí tài chính 1.975 0,7% 10.664 1,5% 16.450 3,1% 4.760 1,7%
Tổng 413.357 68,7% 497.271 70,7% 368.189 69,9% 251.916 90%
Nguồn: DPR
Đặc thù ngành trồng và khai thác mủ cao su sử dụng nhiều lao động nên chi phí nhân công và nguyên
vật liệu (chi phí thu mua mủ bên ngoài) là hai yếu tố chính cấu thành nên cơ cấu chi phí của công ty và có xu hướng
Page 15 of 28
tăng qua các năm làm giá vốn hàng bán của công ty cũng tăng theo. Tỷ trọng giá vốn hàng bán chiếm tới 60%
doanh thu của công ty qua các năm. Năm 2007, chi phí nhân công và nguyên vật liệu chiếm đến gần 90%
tổng chi phí sản xuất của công ty. Do đây là các khoản chi phí ít biến động và tương đối ổn định nên trong điều
kiện kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, giá cả hàng hóa thường biến động tăng nhanh thì đây là một lợi thế rất lớn của
DPR cũng như các công ty cao su khác có đặc thù tương tự. Chi phí khấu hao tài sản cố định của công ty chiếm
6% tổng chi phí và thấp hơn so với các doanh nghiệp khác trong ngành (HRC chiếm 6,7%; TRC chiếm 7% tổng chi
phí) nên công ty sẽ thuận lợi hơn trong việc mua sắm đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo dự báo của
chúng tôi thì tỷ lệ chi phí trong tổng doanh thu của quý 4 chiếm 90%, trong giá vốn chiếm tỷ trọng nhiều nhất 83,3%.
Sở dĩ tỷ lệ chi phí trong doanh thu tăng cao do giá bán của công ty giảm mạhh trong khi cơ cấu các khoản chi phí
vẫn không đổi.
Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính của DPR
Khả năng sinh lợi
% Sức mạnh tài chính Lần
Tỷ lệ lãi gộp 36,34 Khả năng thanh toán nhanh 1,07
Tỷ lệ lãi từ hoạt động kinh doanh 30,86 Khả năng thanh toán tức thời 1,11
Tỷ lệ EBITDA
33,07 Nợ/Vốn chủ sở hữu 0,47

đầu tư khoảng 80tr/ha.
· Dự án hợp tác với Malaysia thành lập công ty Latexform để sản xuất 300 nệm và 400 gối các loại
với vốn dự kiến trên 150tỷ (10 triệu USD), đầu tư từ 1-2 năm, thời gian thu hồi vốn khoảng 2 năm. Nhà máy có 12
máy công suất 11000tấn/năm, sẽ tiêu thụ khoảng 4.000tấn/năm mủ latex. Sản phẩm sẽ được xuất khẩu 100%, trong đó
Malaysia sẽ bao tiêu 5 năm và được dán nhãn của tổng cục cao su Malaysia.
Bên cạnh đó, công ty còn đầu tư vào một số công ty cổ phần và các dự án kết hợp với tập đoàn cao su
Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực cao su như:
· Dự án đường BOT đoạn từ Đồng Xoài đi Phước Long (thuộc tỉnh Bình Phước) và đuờng BOT
đoạn từ Tân Lập đến ngã ba Cổng Xanh (tỉnh Bình Dương) với tổng vốn đầu tư 43,82 tỷ đồng, đã đi vào giai
đoạn thu phí hoàn vốn.
· Tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty như: Công ty cổ phần Gỗ Thuận An, khu công nghiệp
Hố Nai, Công ty cổ phần cao su Sa Thầy…với tổng vốn góp hơn 20 tỷ đồng.
Bảng 7: Kế hoạch lợi nhuận 2008-2010
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2008 2009 2010
Doanh thu thuần
847.657 981.628 857.565
Giá vốn hàng bán 475.843 515.244 513.521
Lợi nhuận gộp 371.814 466.385 344.045
Lợi nhuận từ HĐKD 328.127 442.917 330.758
Lợi nhuận sau thuế 337.806 454.125 340.549
Tổng tài sản 1.098.174 1.373.365 1.474.891
Nợ phải trả 261.124 279.991 254.105
Nguồn: DPR
Với những dự án và kế hoạch lợi nhuận trên trong tương lai sản lượng khai thác sẽ ổn định, nguồn vốn
để đầu tư vào các dự án gần như được đảm bảo đầy đủ với nguồn vốn huy động thông qua vay nợ trong 3 năm tới là
797,22 tỷ đồng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát triển tốt rong một vài
năm tới.
Nhận định của SHS:

TNC(1600 ha). Ngoài ra còn thu mua mủ cao su của các hộ nông dân tiểu điền nên nguồn liệu tương
đối ổn định.
- Bộ máy cán bộ quản lý nhiều kinh nghiệm trong ngành cao su.
- Mô hình quản lý hiện tại đã và đang phát huy được hiệu quả.
- Nhà máy sơ chế ổn định về chất lượng sản phẩm, hệ thống xử lý nước thải được đánh giá đạt tiêu
chuẩn về môi trường, thuận lợi cho việc ổn định kế hoạch chế biến.
- Nhận thức của cán bộ công nhân viên về công ty cổ phần đã được nâng cao. Ý thức bảo vệ tài sản
công ty, chống trộm cắp mũ được cán bộ công nhân viên quán triệt với sự đồng thuận sâu sắc.
- Công ty xây dựng được mức độ tín nhiệm cao đối với Tổng công ty cao su Việt Nam và các đối tác chiến
lược trong và ngoài nước.
- Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối, nên công ty vẫn được thừa hưởng những chính sách chung về marketing,
đào tạo và chuyển giao các kỹ thuật tiên tiến về ngành, chính sách mở rộng diện tích trồng sang các nước láng giềng
như: Lào, Camphuchia.
Page 18 of 28
Điểm yếu
- Diện tích đất trồng cây cao su tại chỗ của công ty khó được mở rộng.
- Vườn cây cao su trong thời kỳ năng suất giảm dần do hết tuổi khai thác, một số vườn cây kém hiệu quả được
tổ chức để thanh lý trồng lại, trong những năm gần đây không có diện tích mở cạo nên sản lượng chung của công ty
đang có chiều hướng giảm dần, ảnh hưởng đến doanh thu trong thời điểm giá tăng cao
- Do từ mô hình công ty nhà nước chuyển qua công ty cổ phần nên trong công tác quản lý cũng như nhận thức
của một bộ phận cán bộ công nhân viên còn những hạn chế nhất định.
Cơ hội và thách thức. Cùng với những cơ hội, thách thức chung của ngành, HRC còn có những cơ hội, thách
thức riêng như sau:
Cơ hội
- Công ty tiến hành niếm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đây là cơ hội tốt để công ty quảng
bá thương hiệu của mình, nâng cao hiệu quả huy động vốn cũng như kinh nghiệm quản lý.
- Công ty tiếp tục được hưởng chính sách ưu đãi về việc thực hiện cổ phần hoá, đây là một lợi thế của
công ty trong việc tích luỹ vốn ban đầu để hoạch định các kế hoạch đầu tư.
- Về tình hình kinh doanh: hợp đồng mua bán đã được ký kết dài hạn phần lớn số lượng sản xuất, sản
phẩm của công ty đã tạo được tín nhiệm trên thị trường

Đv: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005
2006 2007 6 tháng/2008
Giá trị Giá trị T/trưởng Giá trị T/trưởng Giá trị
Tổng tài sản
248,15
363,36 46,43% 407,03 12,02% 348,52
Nợ phải trả 54,26
77,34 42,53% 67,19 -13,12% 24,59
Doanh thu thuần 220,83
320,58 45,17% 296,01 -7,66% 109,45
Lợi nhuận gộp 86,38 138,40 60,23% 119,12
-13,93% 48,55
Lợi nhuận từ HĐKD
75,77 129,74 71,23% 111,23
-14,27% 28,25
Lợi nhuận sau thuế
80,22 142,64 77,82% 132,91
-6,82% 44,85
Nguồn: HRC
Tuy nhiên sang năm 2007, hoạt động kinh doanh của công ty giảm so với năm 2006 do cơn bão số 9
năm 2006 đã gây thiệt hại nặng tài sản và năng suất vườn cây cao su của công ty. Cơn bão đã làm thiệt hại
21,8% diện tích vườn cây cao su, làm năng suất khai thác mủ năm 2007 giảm 438 kg/ha so với năm 2006
tương ứng tỷ lệ 23,51% dẫn đến tổng sản lượng khai thác mủ năm 2007 giảm 2790,387 tấn so với năm 2006
tương ứng tỷ lệ 30,85%. Mặc dù giá bán năm 2007 cao hơn 3017341 đồng/tấn, tương ứng tỷ lệ 9,57% so
với năm 2006 nhưng doanh thu và lợi nhuận công ty vẫn thấp hơn so với năm 2006. Cơ cấu vốn của công
ty cũng có sự thay đổi đáng kể khi tỷ lệ nợ giảm đáng kể do công ty phát hành thêm 7660976 cổ phiếu để trả
cổ tức đã tăng vốn điều lệ tăng từ 96 tỷ lên 172,6 tỷ.
Bảng 10: Cơ cấu chi phí sản xuất

Bảng 10: Các chỉ tiêu tài chính của HRC
Khả năng sinh lợi
% Sức mạnh tài chính Lần
Tỷ lệ lãi gộp 42,18 Khả năng thanh toán nhanh 5,17
Tỷ lệ lãi từ hoạt động kinh doanh 36,34 Khả năng thanh toán tức thời
6,44
Tỷ lệ EBITDA
41,71 Nợ/Vốn chủ sở hữu
0,08
Tỷ lệ lãi ròng
41,71 Nợ/Tổng tài sản
0,07
Tăng trưởng % Hiệu quả quản lý %
Tăng trưởng doanh thu
-7,66 Thu nhập trên tài sản (ROA) 32,65
Tăng trưởng lợi nhuận -6,82 Thu nhập trên vốn chủ (ROE)
39,11
Tăng trưởng tài sản
12,02 P/E
4,57x
Nguồn: HRC, SHS
Với lợi thế là một doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn trong ngành, công ty đã tận dụng được thế
mạnh của mình để phát triển hoạt động kinh doanh. Hầu hết các chỉ số tài chính của công ty trong 4 quý
gần nhất đều đạt tỷ lệ cao trong ngành. Khả năng thanh toán của HRC cao hơn rất nhiều so với các doanh
nghiệp khác trong ngành cho thấy nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là
tương đối lành mạnh. Cơ cấu vốn của công ty rất an toàn vì tỷ lệ nợ rất nhỏ giúp công ty hoàn toàn chủ động
trong việc kinh doanh để tạo ra lợi nhuận lớn cho công ty. Tỷ lệ ROE và ROA cao nhất trong ngành chứng
tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản và nguồn vốn rất có hiệu quả.
Tuy nhiên, năm 2007 khoản mục đầu tư tài chính dài hạn tăng khá mạnh từ 32,692 lên 142,314 tỷ
do HRC đang chuyển dịch hoạt dộng kinh doanh sang các lĩnh vực mới như sản xuất các sản phẩm công

này. Nhưng trong dài hạn thì HRC là một cổ phiếu đáng để xem xét đầu tư.
CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU TÂY NINH (TRC)
1. Phân tích SWOT
Điểm mạnh
- Công ty đã xây dựng chiến lược thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng nhà máy mới cải tạo
nhà máy chế biến cũ, trang bị hoàn toàn máy móc mới hiện đại sản xuất các loại cao su chất lượng cao đến
cao su chế biến.
- Với đặc điểm thổ nhưỡng, đất đai thuận lợi hơn các vùng khác như Tây Nguyên, miền Trung, cùng
với việc làm tốt công tác chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm nên sản phẩm mủ cao su Tây Ninh bán ra
thị trường luôn được giá rất cao so với các công ty khác trong ngành, tạo được uy tín lâu dài đối với khách
Page 22 of 28
hàng.
- Công ty luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Tổng công ty cao su Việt Nam và các cơ quan chức
năng khác nên hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều thuận lợi.
- Công ty có chế độ đãi ngộ, khen thưởng thích đáng cho cán bộ nhân viên tạo động lực thúc đẩy cho
toàn thể cán bộ nhân viên luôn tích cực trong lao động sản xuất do đó năng suất khai thác tăng đều qua các
năm.
Điểm yếu
- Diện tích vườn cây trải rộng trên nhiều địa bàn khác nhau, trong khi cây và mủ cao su có giá trị cao
nên công tác quản lý vườn cây và sản lượng khai thác của công ty trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn.
- TRC không thu mua mủ bên ngoài làm nguyên liệu đầu vào nên không tối đa hóa được sản lượng
đầu ra. Vì vậy, trước tình hình một diện tích lớn cây lớn bị gãy đổ do thời tiết xấu nên sản lượng tiêu thụ của
TRC có khả năng bị ảnh hưởng xấu.
Cơ hội
- Tây Ninh là cửa ngõ thông thương của Việt Nam và Campuchia, hệ thống giao thông nội tỉnh, và liên
tỉnh đã hoàn chỉnh. Tỉnh ủy và UBND tỉnh Tây Ninh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để công ty tham gia
đầu tư vào các dự án của tỉnh nhằm khai thác tiềm năng của công ty trên cơ sở đa dạng hóa ngành nghề kinh
doanh.
- Công ty tiến hành niếm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đây là cơ hội tốt để công ty quảng
bá thương hiệu của mình, nâng cao hiệu quả huy động vốn cũng như kinh nghiệm quản lý.

ty như: BOT đường 741 (Bình Dương), Công ty nước khoáng NIMIWA, Công ty du lịch - thương
mại Móng Cái, Khu công nghiệp Cộng Hòa (Hải Dương), Công ty chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội, Nhà máy
Phân lân nung chảy tại Nghệ An. Với những dự án này công ty sẽ có thể phát triển tốt trong tương lai.
Biểu 11: Cơ cấu vườn cây cao su
Nguồn: TRC
3. Phân tích hoạt động kinh doanh của TRC
Doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng trưởng bình quân 30% và 45% trong những năm qua. Đây là
mức tăng trưởng cao so với ngành do diện tích vườn cây của công ty đang trong độ tuổi khai thác và có năng
suất cao. Năm 2007, doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty chỉ tăng 6% và 27% so với năm 2006 do
thời tiết thất thường, bệnh lá, mưa dầm và diện tích cây đổ sau cơn bão số 9 lớn nên sản lượng khai thác của
công ty cũng giảm đáng kể. Mặc dù doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty vẫn tăng nhưng lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh lại giảm nhẹ do chi phí tài chính và chi phí bán hàng của công ty tăng cao so với
năm 2006. Đặc biệt là chi phí tài chính năm 2007 tăng gấp hơn 3 lần so với 2006, trong đó tăng chủ yếu là
lãi tiền vay phải trả lên tới 5525 triệu đồng. Bên cạnh việc chi phí tài chính tăng mạnh thì doanh thu tài chính
của công ty cũng tăng đáng kể. Khoản tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay và tiền gửi chiếm tới 85%
doanh thu hoạt động tài chính. Vì vậy trong tương lai hoạt động sản xuất của công ty vẫn tăng trưởng và
phát triển tốt.
Page 24 of 28
Bảng 12: Kết quả hoạt động kinh doanh của TRC trong 3 năm
Đv: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005
2006 2007 6 tháng/2008
Giá trị Giá trị T/trưởng Giá trị T/trưởng Giá trị
Tổng tài sản
424,26
1.456,06 243,20% 817,17 -43,88% 638,99
Nợ phải trả
116,37
1.094,89 840,84% 346,81 -68,32% 443,71

Giá vốn hàng bán
257.580
55,5% 290.779 59,1% 217.022 57,3% 135.540 75,3%
Chi phí bán hàng
3.778
0,81% 6.439 1,3% 4.106 1,1% 3.060 1,7%
Chi phí quản lý
20.172
4,34% 22.525 4,6%
15.799
4,2% 10.800 6,0%
Chi phí tài chính
1.722
0,37% 5.705 1,2% 4.100 1,1% 3.060 1,7%
Tổng
283.252
61% 325.448 66,2% 241.027 67.3% 152.460 84.7%
Nguồn: TRC
Cũng giống như các doanh nghiệp khác trong ngành cao su, chi phí sản xuất chủ yếu của công ty là chi
phí nhân công và nguyên vật liệu (phân bón, phụ gia). Chi phí nhân công chiếm khoảng 70% giá thành sản
xuất. Ngoài ra, các chi phí khác như phân bón, công cụ, dụng cụ phục vụ cho việc khai thác và đựng mủ cao
su chiếm khoảng 10% giá thành sản xuất. Khấu hao tài sản cố định của công ty chiếm 7%, cao hơn HRC và
DPR mà trong thời gian tới công ty phải mua sắm để đầu tư cho cá dự án mới rất nhiều nên sẽ kém hấp dẫn
hơn các công ty khác trong ngành. Theo dự báo của chúng tôi thì tỷ lệ chi phí trong tổng doanh thu của quý
4 chiếm 84,7%, trong giá vốn chiếm tỷ trọng nhiều nhất 75,3%. Sở dĩ tỷ lệ chi phí trong doanh thu tăng cao
do giá bán của công ty giảm mạhh trong khi cơ cấu các khoản chi phí vẫn không đổi.
Bảng 14: Các chỉ tiêu tài chính của TRC
Khả năng sinh lợi
% Sức mạnh tài chính Lần
Page 25 of 28


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status