bài thi tìm hiểu 60 năm chiến thắng điện biên phủ. - Pdf 13

BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU “60 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ”
(07/5/1954 - 07/5/2014)
Câu 1: Vì sao Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết
chiến chiến lược?
Trả lời:
* Vài nét về vị trí chiến lược của vùng Tây Bắc và Điện Biên Phủ:
- Vùng Tây Bắc:
+ Tây Bắc là một dải đất ở phía Tây Bắc bộ Việt Nam. Phần lớn đất đai là
núi cao, rừng rậm; núi xen kẽ cao nguyên và thung lũng mà đỉnh Phan Xi Păng trên
dãy Hoàng Liên Sơn là “nóc nhà” của Tây Bắc với độ cao 3.142m. Các con sông
như: Sông Mã, sông Đà, sông Thao với dòng nước chảy xiết đã chia Tây Bắc thành
nhiều khu vực. Đường vào Tây Bắc vừa ít lại phải qua nhiều sông, suối, núi cao
hiểm trở nên đi lại cực kỳ khó khăn.
+ Tây Bắc là một địa bàn chiến lược quan trọng của Bắc Bộ Việt Nam nói
riêng, của Bắc Đông Dương nói chung. Phía Tây tiếp giáp với hai tỉnh Phông Xa Lì
và Sầm Nưa của Lào, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Phía Đông là căn cứ
địa Việt Bắc. Phía Nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu III và
liên khu IV. Do vị trí địa lý của Tây Bắc có đặc thù như vậy đã khiến cả ta và Pháp
đều rất chú trọng đến địa bàn chiến lược này.
+ Đối với ta, làm chủ được Tây Bắc không những bảo vệ được vững chắc khu
đầu não kháng chiến Việt Bắc, tạo thành thế liên hoàn nối liền một dải hậu phương
kháng chiến rộng lớn, mà còn có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu
quốc tế, đặc biệt là tăng cường thêm tình đoàn kết Việt - Lào để chống kẻ thù chung.
+ Đối với thực dân Pháp, khống chế được khu vực này, chúng sẽ mở rộng
được địa bàn hoạt động nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, chia cắt
liên lạc và sự chi viện của ta (giữa Việt Bắc và Liên khu III, Liên khu IV), đồng thời
từ đây có thể che chở cho Thượng Lào cùng cố đô Luông Pha Băng.
- Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn thuộc tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh
Điện Biên), nằm ở giữa vùng núi rừng Tây Bắc, có lòng chảo Mường Thanh
(Mường Then - Mường Trời) dài gần 20km, rộng từ 6 đến 8 km, cách Hà Nội

chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi,
nhưng trong hoạt động thì có thể thay đổi. Pháp dùng binh là phải thiên biến vạn
hoá”.
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng
tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu
diệt một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ của địch ở đây, giải phóng Tây Bắc
và tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của Lào giải phóng Bắc Lào, đồng thời tạo
điều kiện để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường Đông Dương. Điện
Biên Phủ trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Đông Xuân 1953 - 1954 của ta, là
trận “quyết chiến chiến lược” lớn nhất giữa ta và Pháp.
Trong thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào ngày 22/12/1953. Hồ Chủ
tịch nêu rõ: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân
sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn cả đối với quốc tế. Vì
vậy, toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.
Câu 2: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những
quyết định gì khó khăn nhất?
Trả lời:
Trước khi nhận nhiệm vụ ở Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã gặp Võ Nguyên
Giáp hỏi đi xa như vậy có gặp khó khăn gì không? Đại tướng cho hay công việc ở
chiến trường đã có các anh em đi trước giúp đỡ phần nào. Chỉ lo một điều Điện Biên
Phủ cách Việt Bắc hơn 500 km nếu có gì khó khăn sợ không kịp xin chỉ thị của Bác.
Bác Hồ đã đưa ra câu nói “tướng quân tại ngoại”, nghĩa là “mọi việc trao cho chú
toàn quyền quyết định”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp dù được trao toàn quyền quyết định nhưng khi thấy thực
tế ở chiến trường không đúng với dự tính, Ông đã kiên trì thuyết phục mọi người
Trang 2
chuyển sang hướng chiến lược khác, chứ không áp đặt quyền của một vị Tổng tư
lệnh đối với tướng lãnh và quân sĩ trước chiến dịch lớn một mất một còn. Hơn nữa,
thuyết phục được các chuyên gia Trung Quốc đồng ý với kế hoạch mới, để họ không
tự ái mà vẫn vui vẻ giúp đỡ ta là một vấn đề cực kỳ tế nhị.

- Đại đoàn 312 (lấy mật danh là Đại đoàn Bến Tre), gồm Trung đoàn 141 (Đầm
Hà), Trung đoàn 165 (Đông Triều) và Trung đoàn 209 (Hòn Gai).
- Đại đoàn 316 (lấy mật danh là Đại đoàn Biên Hòa), gồm Trung đoàn 98 (Ba
Đồn), Trung đoàn 174 (Sóc Trăng) và Trung đoàn 176.
- Đại đoàn 304 (lấy mật danh là Đại đoàn Nam Định), có 2 trung đoàn tham chiến
ở Điện Biên Phủ: Trung đoàn 57 (Nho Quan) và Trung đoàn 9 (Ninh Bình).
- Đại đoàn công pháo 351 (lấy mật danh là Long Châu), gồm 4 trung đoàn: Trung
đoàn 45 (Tất Thắng) gồm 2 tiểu đoàn lựu pháo 105 ly; Trung đoàn 675 gồm 2 tiểu
đoàn sơn pháo 75 ly; Trung đoàn 367 (Hương Thủy) và Trung đoàn công binh 151
gồm 2 tiểu đoàn
Trang 3
2. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy
mặt trận đã lần lượt làm việc ở 3 Sở chỉ huy:
a) Sở chỉ huy đầu tiên được đặt tại hang Thẩm Púa ở phía Nam cầu Bản Pó
(Km14, 680 trên đường Tuần Giáo đi Mường Thanh).
b) Sở chỉ huy thứ hai được thiết lập từ sáng 18-01-1954 trong một khu rừng gần
suối Huổi He thuộc bản Nà Tấu. Vị trí này nằm trên đường Tuần Giáo đi Mường
Thanh, đến Km 62 thì rẽ phải, đi khoảng 2.5 km là đến. Bộ chỉ huy chiến dịch
chuyển vào đây cho gần mặt trận và gần các đơn vị để tiện chỉ huy đánh trong 3 đêm
2 ngày.
c) Sở chỉ huy thứ ba và cũng là Sở chỉ huy chính thức của chiến dịch Điện Biên
Phủ được thiết lập ở khu rừng Mường Phăng, cách Mường Thanh 15 km theo đường
chim bay. Sở chỉ huy này hoạt động trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch
cho đến ngày toàn thắng (từ 31-01 đến 15-5-1954).
Câu 4 Hãy nêu diễn biến, kết quả các đợt tiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ
và Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ.
Trả lời: Chiến dịch Điện Biên Phủ được diễn ra trong 56 ngày đêm ác liệt và được
chia thành 3 đợt tấn công:
a. Diễn biến, kết quả các đợt tiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ:
Đợt tiến công thứ nhất bắt đầu từ ngày 13/3 đến ngày 17/3/1954. Nhiệm vụ

Bản Kéo, tiêu diệt và bắt sống 2.000 tên địch, bắn rơi 12 máy bay mở toang cánh
cửa phía Bắc vào Trung tâm tập đoàn cứ điểm.
Để đảm bảo chắc thắng trong đợt tấn công thứ hai, Đảng ủy và Bộ chỉ huy
mặt trận quyết định phải xây dựng trận địa tấn công và bao vây và xác định đây là
nhiệm vụ trung tâm trong công tác chuẩn bị của đợt 2.
Hệ thống trận địa tấn công và bao vây: Bao gồm đường giao thông hào
trục sâu 1,7m, rộng 1,2m chạy xung quanh phân khu Mường Thanh, cắt đứt phân
khu này và phân khu nam, giao thông hào nhánh sâu 1,7m, rộng 0,5m từ đường hào
trục tỏa các hướng sát tới trận địa của địch.
17h ngày 30/3/1954 đợt tấn công thứ 2 bắt đầu và kéo dài hơn 20 ngày
đêm ác liệt (30/3 - 26/4/1954). Nhiệm vụ đợt tấn công này là đánh chiếm các ngọn
đồi phía đông, đánh chiếm sân bay triệt đường tiếp tế và tiếp viện, thu hẹp phạm vi
chiếm đóng và vùng trời của phân khu Trung tâm.
Cuộc chiến đấu tại C1 diễn ra quyết liệt ngay từ những ngày đầu. Sau 45
phút chiến đấu, trung đoàn 98, đại đoàn 316 đánh chiếm đồi C1. Được tăng viện,
ngày 9 tháng 4 địch cho quân phản kích. Cuộc chiến đấu diễn ra 4 ngày đêm liên tục,
cuối cùng mỗi bên chiếm một nửa.
Đồi A1 là điểm cao quan trọng nhất trong 5 ngọn đồi phía Đông, nó cũng
là điểm cao cuối cùng che chở cho phân khu trung tâm.
Từ 30/3 - 4/4 bộ đội ta 3 lần tổ chức tấn công, địch dựa vào hệ thống hầm ngầm
ngoan cố chống cự, tổ chức nhiều cuộc phản công có xe tăng và pháo binh yểm hộ,
cuối cùng mỗi bên chiếm một nửa đồi A1.
Tại đồi E, khẩu đội Phùng Văn Khầu chiến đấu thông minh, sáng tạo, tiêu
diệt nhiều hỏa điểm địch, sau này đồng chí được tuyên dương Anh hùng lực lượng
vũ trang.
Ngay trong đợt 2, các vị trí 106, 105, 206 của thực dân Pháp đã bị bộ
đội ta đánh chiếm.
Ngay từ hạ tuần tháng 3/1954, bộ đội cao xạ và bộ đội pháo binh hoạt
động mạnh, máy bay địch không hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh được, phải
bay cao thả dù, nhiều dù hàng bay sang trận địa phòng ngự của ta. Từ trung tuần

- Đây không chỉ là chiến thắng của dân tộc Việt Nam, mà còn là thắng lợi của các
dân tộc nhỏ trên thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực
dân.
Câu 5:
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và nhà nước đã phong danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân cho bao nhiêu đồng chí? Bạn hãy nêu chiến
công của 4 anh hùng liệt sĩ tại mặt trận Điện Biên Phủ: Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn,
Phan Đình Giót và Trần Can?
Trả lời:
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã có 18 cán bộ, chiến sĩ lập công xuất sắc
được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (trong
đó có 4 liệt sĩ) đó là:
1 - Anh hùng Trần Can (Liệt sĩ).
2 - Anh hùng Bùi Đình Cừ.
3 - Anh hùng Dương Quảng Châu.
4 - Anh hùng Tô Vĩnh Diện (Liệt sĩ).
5 - Anh hùng Bế Văn Đàn (Liệt sĩ).
6 - Anh hùng Phan Đình Giót (Liệt sĩ).
7 - Anh hùng Đặng Đình Hồ.
8 - Anh hùng Trần Đình Hùng.
9 - Anh hùng Phùng Văn Khầu.
10 - Anh hùng Đinh Văn Mẫu.
11 - Anh hùng Chu Văn Mùi.
12 - Anh hùng Đặng Đức Song.
13 - Anh hùng Phan Tư.
Trang 6
14 - Anh hùng Nguyễn Văn Ty.
15 - Anh hùng Lưu Viết Thoảng.
16 - Anh hùng Lộc Văn Trọng.
17 - Anh hùng Hoàng Văn Nô.

Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ
toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu
thắng lợi.
b. Chiến công của Bế Văn Đàn.
Đồng chí Bế Văn Đàn, (1931 – 1954), dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã
Triệu Ẩu), huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có
truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, lớn lên đồng chí tham gia
hoạt động du kích. Tháng l năm 1948 đồng chí xung phong vào bộ đội và tham gia
nhiều chiến dịch, đồng chí luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi
Trang 7
khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác
kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Cuộc kháng chiến chống thực đân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, Đảng ta quyết
định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch,
đồng chí Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao
nhiệm vụ bao vây giữ địch ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng ta ít, địch tập
trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều
bị quân ta đánh bật. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt. Địch liều chết
xông lên. Ta kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ. Cần có lệnh cho đại đội quyết tâm giữ
ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, để các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện
các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù đồng chí vừa đi công tác về nhưng khi thấy
chỉ huy thông báo đồng chí đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Mặc cho bom
rơi, đạn nổ, đồng chí đã dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc của địch, xuống truyền
đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra
ngày càng ác liệt hơn, đồng chí được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Địch phản kích lần
thứ ba, chúng điên cuồng mở đường tiến, đại đội bị thương vong nhiều, chỉ còn 17
người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu.
Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên
của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, tình thế hết sức khẩn
trương, không ngần ngại Bế Văn Đàn chạy lại cầm 2 khẩu trung liên đặt lên vai

Đó là trận tiêu diệt cứ điểm Him Lam - tư thế hy sinh của anh - lấy thân mình
bịt lỗ châu mai giặc - mãi mãi là hình tượng sáng ngời khí thế tiến công của người
chiến sĩ cách mạng: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, dành cho Tổ quốc tất cả tuổi
trẻ và cuộc sống của mình
d. Chiến công của Trần Can:
Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An. Ông nhập ngũ tháng 1 năm 1951. Khi hy sinh ông là Đại đội
phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Từ hồi còn nhỏ, Trần Can rất ham thích vào bộ đội để được cầm súng giết
giặc cứu nước. Lớn lên, đã ba lần anh xung phong tình nguyện xin đi bộ đội, nhưng
vì sức yếu nên đến lần thứ tư mới được chấp nhận.
Từ khi vào bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, chỉ huy hết sức linh
hoạt. Trong mọi trường hợp khó khăn ác liệt, anh đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị
vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã hai lần bị thương nặng anh vẫn tiếp tục
chiến đấu, chỉ huy đơn vị kiên quyết tiến công tiêu diệt địch. Tấm gương Trần Can
đã thiết thực cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi trong toàn đơn vị.
Trong trận đánh đồi Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can được
giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội thọc sâu diệt sở chỉ huy và cắm lá cờ “Quyết chiến
quyết thắng” của Hồ Chủ tịch giao cho quân đội lên đồn giặc. Khi nổ súng, mặc cho
hoả lực địch bắn ra dữ dội, anh dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên, chọc
thẳng vào sở chỉ huy như một mũi dao nhọn cắm vào giữa tim gan địch, rồi nhẩy lên
lô cốt cắm cờ. Sau đó, chỉ huy tiểu đội diệt bọn địch còn lại trong hầm ngầm, bắt 25
tên, thu nhiều súng.
Trong trận đánh điểm cao 507, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp
đảo địch, chiếm mỏm cột cờ. Đich bắn pháo dữ dội và cho quân địch chiếm lại. Ta
với địch giành giật nhau từng thước đất hết sức quyết liệt. Anh đã cùng đồng đội
kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản kích của chúng. Địch xông lên
trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung phong. Trần
Can nhặt lựu đạn ném lại và chỉ huy đơn vị nhảy lên bờ hào đánh giáp lá cà với địch.

cùng là hai Sư rưỡi, rồi ba… Cho tới ngày 20 tháng 12 tôi mới biết được rằng chúng
tôi phải đương đầu với bốn Sư đoàn. Vào thời điểm đó đã quá muộn để rút khỏi
Điện Biên Phủ.
- Thời điểm tấn công của tướng Giáp theo dự đoán là 17 giờ ngày 13/3 đã đến
nhưng không có gì xảy ra. Đại tá Lăng-gơ-le nhớ lại: “Nhưng rồi, gần như là cùng
một lúc, 200 khẩu pháo của tướng Giáp đã nã không lúc nào ngớt vào khu trung tâm
nằm trên cánh đồng bằng phẳng không một vật che chắn trong một tam giác mỗi
chiều 8 kilômét”. Loạt đạn đầu tiên đã giết chết viên chỉ huy pháo binh của khu
trung tâm.
- Trong những giờ đầu tiên, chỉ trên một quả đồi, 500 lính Pháp đã bỏ mạng. Vào
lúc hoàng hôn, cả một Sư đoàn bộ binh Việt Minh đã xung phong lên cứ điểm Bê-a-
tờ-ri-sơ (Him Lam), gần khu trung tâm nhất. Tới nửa đêm, vị trí này đã trở thành
một nấm mồ. Chỉ có 200 trong số 700 lính đồn trú ở đây thoát chết. Viên chỉ huy
pháo binh, đại tá Sác-lơ Pi-rốt đã tự sát bằng một quả lựu đạn.
- Người pháp đã sáng dần ra. Thiếu tá Mô-rít-xơ Bi-gia nói: “Tôi thấy lính của tôi
biến mất hết người này đến người khác. Tiểu đoàn 800 người nhảy dù cùng tôi chỉ
còn lại 700, 600, 400, 300, rồi khoảng 180 và cuối cùng chỉ còn lại 80 người sống
sót”.
- Thiếu tá Mô-rít-xơ Bi-gia đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Việt Minh:
“Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kì như súng săn và sau đó, tháng
này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ
thành trung đội, từ trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối
Trang 10
cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể
nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế
giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 cây số trong đêm bằng sức của
một bát cơm, trong những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan
điểm của tôi, họ trở thành những người lính bộ binh ngoại lệ và họ đã đánh bại được
chúng ta”.
* Câu nói ấy được trích trong tác phẩm “Việt Nam – Cuộc chiến 10.000 ngày”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status