Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
Bộ môn Kinh Tế
o0o
BÀI TẬP LỚN
Môn: kinh tế vĩ mô 1
Giáo viên hướng dẫn: NGUYỄN PHONG NHÃ
Sinh viên: LÊ THỊ CHI
Lớp: KTB51-ĐH3
Mã sinh viên: 40465
Nhóm: N.06
Hải Phòng - 2011
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 1
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế vĩ mô mang lại cho chúng ta cái nhìn bao quát về tình hình
kinh tế của một quốc gia. Việc nghiên cứu những tương tác giữa các bộ phận
của nền kinh tế, giữa hành vi của các nhà doanh nghiệp và của những người
tiêu dùng đơn lẻ được gọi là kinh tế vĩ mô. Mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
xem xét tất cả các xu thế của nền kinh tế, chẳng hạn như mức sử dụng nhân
công, mức tăng trưởng kinh tế, cán cân thanh toán và lạm phát. Việc nghiên
cứu nền kinh tế thế giới chủ yếu là nghiên cứu tổng quát về kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô bị ảnh hưởng chủ yếu bởi chính sách tiền tệ (kiểm soát
lượng cung tiền tệ của một quốc gia) và chính sách tài khóa (kiểm soát thu
và chi của chính phủ). Việc kiểm soát nền kinh tế thực chất nằm trong tay
của Ngân hàng Trung ương (NHTW) và của chính phủ, bởi vì, chỉ có chính
phủ và NHTW mới có thể kiểm soát được lượng tiền tệ để nạp cho nền kinh
1. Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương
trình học Đại học.
1.1 Giới thiệu về môn học
1.1.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô – một phân ngành của kinh tế học – nghiên cứu sự
vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình
diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nói cách khác, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi
quốc gia trước những vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như: tăng trưởng kinh
tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hóa và tư bản, sự phân phối
nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu
bao gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại
của một nền kinh tế. Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu
hỏi như: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy
định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Thực
chất chúng ta khảo sát mỗi biến số này trong những khoảng thời gian khác
nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài hạn. Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta
phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tố quyết định các
biến kinh tế vĩ mô này.
Một trong những thước đo quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ mô
của một quốc gia là tổng sản phẩm trong nước (GDP). GDP đo lường tổng
sản lượng và tổng thu nhập của một quốc gia. Phần lớn các nước trên thế
giới đều có tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Các nhà kinh tế vĩ mô tìm
cách giải thích sự tăng trưởng này. Nguồn gốc của tăng trưởng nhanh hơn
các nước khác? Liệu chính sách của chính phủ có thể ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế dài hạn của một nền kinh tế hay không?
Mặc dù tăng trưởng kinh tế là một hiện tượng phổ biến trong dài hạn,
nhưng sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm. Trên thực tế,
GDP có thể giảm trong một số thời kì. Những biến động ngắn hạn của GDP
các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm
và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế qua, làm cho việc trao đổi
hàng hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kĩ thuật trên
thế giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề được kinh tế học vĩ mô
hiện đại quan tâm nghiên cứu là cán cân thương mại. Tầm quan trọng của
cán cân thương mại là gì điều gì quyết định sự biến động của nó trong ngắn
hạn và dài hạn? Để hiểu cán cân thương mại vấn đề then chốt cần nhận thức
là mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn
quốc tế. Nhìn chung, khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn từ thế
giới bên ngoài so với xuất khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập
khẩu dôi ra đó bằng cách vay tiền từ thế giới bên ngoài, hoặc phải giảm
lượng tài sản quốc tế hiện nắm giữ. Ngược lại, khi xuất khẩu nhiều hơn nhập
khẩu, thì nước đó sẽ tích tụ thêm tài sản của thế giới bên ngoài. Như vậy,
nghiên cứu về mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với việc xem xét
tại sao các công dân một nước lại đi vay hoặc cho vay các công dân nước
khác vay tiền.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 4
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác, kinh tế học nói chung và
kinh tế học vĩ mô nói riêng có những cách nói và tư duy riêng. Điều cần thiết
là phải học được các thuật ngữ của kinh tế học bởi vì nắm dược các thuật
ngữ này sẽ giúp cho bạn trao đổi với những người khác về các vấn đề kinh tế
một cách chính xác. Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rát lớn
vào nhận thức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó. Tiếp cận
nghiên cứu với một tư duy mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn
chưa từng biết trước đó
1.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Mỗi quốc gia có thể những lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào các ràng
Trang 5
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Giúp cho sinh viên kết nối được kiến thức, biện chứng trong tư duy,
môn học kinh tế vĩ mô kết hợp với môn kinh tế vi mô góp phần tạo nền
móng kiến thức cho sinh viên có khả năng lĩnh hội kiến thức chuyên ngành,
kiến thức bộ môn kinh tế học.
2. Trình bày các chức năng của tiền, các nhân tố hình thành
thị trường tiền tệ.
2.1. Các chức năng của tiền
Để được chấp nhận chung trong việc thanh toán, tiền phải có những
chức năng đặc biệt của nó. Nhìn chung, các lý thuyết tiền tệ hiện đại đều
nhấn mạnh ba chức năng căn bản của tiền:
(i) phương tiện thanh toán.
(ii) dự trữ giá trị.
(iii) đơn vị hạch toán.
2.1.1. Phương tiện thanh toán
Phương tiện trao đổi là một vật được mọi người chấp nhận để đổi lấy
hàng hoá và dịch vụ. Tiền được dùng trong giao dịch mua, bán hàng hoá,
dịch vụ. Vậy tiền cho phép trao đổi giá trị mà không cần trao đổi hàng hoá
trực tiếp. Nó tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt cho quá trình lưu thông hàng
hoá, được coi là dầu bôi trơn cho mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy phân công
lao động và mở rộng chuyên môn hoá sản xuất. Dòng lưu thông tiền tệ trở
thành hệ thống huyết mạch cho toàn bộ nền kinh tế thị trường. Chúng ta hãy
tưởng tượng trong nền kinh tế không có tiền, một vị giáo sư kinh tế hộc
muốn uống bia, nhưng chỉ có thể đổi lấy bia bằng bài giảng của mình thì liệu
giáo sư đó có thoả mãn được mong muốn đó không? tuy nhiên trong nền
kinh tế tiền tệ ông giáo sư có thể yên tâm giảng dạy kinh tế học vì muốn
uống bia lúc nào cũng được, vì sẽ nhận được thù lao bằng tiền và có thể sử
dụng tiền để mua đồ uống và các thứ khác mà giáo sư đó có nhu cầu. Quán
bia sẽ chấp nhận những tờ tiền giấy được quy định là tiền bởi vì họ tin rằng
Bất cứ một thị trường nào cũng hai chiều hoạt động đó là cung và cầu;
trong thị trường chứng khoán thì có cung của người bán chứng khoán và cầu
người mua chứng khoán hay trong thị trường việc làm có cung người muốn
thuê, tuyển dụng lao động và cầu người lao động. Và trong thị trường tiền tệ
cũng như vậy, có cung tiền và cầu tiền. Đây chính là hai nhân tố giúp hình
thành thị trường tiền tệ.
2.2.1. Cung tiền
2.2.1.1. Các loại tiền
Với chức năng phương tiện thanh toán và dự trữ, giá trị tiền là một
loại tài sản chính. Trong thực tế chúng được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như tiền giấy, tiền kim loại, tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm, tín
phiếu, Không phải loại tiền trên đều có khả năng chuyển đổi dễ dàng. Khả
năng này được xác định bởi tính dễ dàng chuyển đổi từ một tài sản tài chính
trở thành một phương tiện có khả năng sẵn sàng được sử dụng cho việc mua
bán hàng hóa và dịch vụ.
Ta có thể phân chia các loại tiền theo tính chuyển đổi như sau:
Tiền mặt lưu hành với sự đa dạng về lượng giá trị danh nghĩa tuy
không sinh lợi, nhưng có khả năng sẵn sàng thanh toán cao nhất và được gọi
là M
o
.
Tiền gửi tài khoản ngân hàng không kỳ hạn có thể viết séc… để thanh
toán cũng là một loại tiền có khả năng thanh toán cao, tuy mức độ sẵn sàng
cho thanh toán có kém tiền mặt.
Vì vậy, tiền mặt và tiền gửi ngân hàng không thời hạn được nhiều
nước coi là tiền giao dịch (M1) – một trong những đại lượng đo lường cung
tiền chủ yếu của một số quốc gia.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 7
…) bao gồm các loại tiền có khả năng
thanh toán cao nhất nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi, giao dịch thường
xuyên của hoạt động kinh tế quốc dân.
Trên giác độ kinh tế vĩ mô, người ta quan tâm nhiều hơn đến M
1
, M
2
;
đồng thời cũng theo dõi chặt chẽ động thái của các thành phần tiền tệ khác.
Vì vậy, khối lượng tiền tệ M tùy mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia có thể lựa chọn
là M
1
và M
2
dùng làm đại lượng chính đo mức cung tiền. Nhiều nước đang
phát triển thường lựa chọn đại lượng đó là M
2
. Tỷ lệ M
2
/GDP là một chỉ số
quan trọng phản ánh khái quát quy mô của nguồn vốn luân chuyển và mức
độ tiền tệ hóa của một nền kinh tế.
2.2.1.2. Định nghĩa mức cung tiền (MS)
Mức cung tiền là tổng số tiền có khả năng thanh toán cao nhất bao
gồm tiền mặt đang lưu hành và tiền gửi không kỳ hạn trong hệ thống ngân
hàng.
Chúng ta cần phân biệt cung tiền với cơ sở tiền tệ, tức là lượng tiền do
NHTW phát hành. Cơ sở tồn tại dưới hai hình thái: tiền mặt ngoài hệ thống
ngân hàng và dự trữ của các NHTM. Trong nền kinh tế hiện đại, cung tiền
bao giờ cũng lớn hơn cơ sở tiền tệ.
- Tỷ lệ % đó được gọi là tỉ lệ dự trữ bắt buộc (quỹ dự phòng quy định)
r
b
=
D
R
b
.100%
Trong đó: R
b
: là lượng tiền gửi dự trữ bắt buộc.
D: là số tiền gửi
2.2.1.5. Xác định mức cung tiền MS
Mức cung tiền là tổng số tiền có khả năng thanh toán. Nó bao gồm
tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các NHTM.
Như vậy, mức cung tiền lớn hơn nhiều so với lượng tiền cơ sở, bởi hoạt
động “tạo ra tiền” của các ngân hàng thương mại. Vậy, mức cung tiền do
những nhân tố nào tác động? Mức cung tiền, trước hết được quyết định bởi
quy mô của lượng tiền cơ sở và sau đó, bởi khả năng tạo ra tiền của NHTM
nhờ số nhân tiền tệ.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 9
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Cách xác định mức cung tiền
Hình 1.1 cho biết: tiền cơ sở H là tiền do NHTW phát hành biểu hiện
dưới dạng tiền mặt lưu hành và tiền mặt dự trữ tại ngân hàng. Các khoản tiền
gửi ngân hàng là bội số của tiền dự trữ của ngân hàng.
Hình 1.1 trình bày mối quan hệ giữa lượng tiền cơ sở và mức cung
tiền. Như vậy trên giác độ tổng thể nền kinh tế quốc dân, số nhân tiền tệ
a
: tỷ lệ dự trữ thực tế
R
a
: dự trữ thực tế
D: tiền gửi
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Mức cung tiền (MS)
Tiền mặt
lưu hành
Dự trữ tiền
mặt của
các NH
Các khoản tiền
gửi không kỳ hạn
Hình 1.1. Xác định mức cung tiền
Trang 10
Tiền cơ sở (H)
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Số nhân tiền tệ (m
M
) sẽ là:
m
M
=
rs
s
+
+1
n
Giả sử tốc độ lưu thông (V) là ổn định thì mức cung tiền (M) cần phải
được điều chỉnh theo sự thay đổi quy mô của GNP
n
. Sự thay đổi mức cung
tiền có tác động trực tiếp đến lãi suất thị trường của tiền tệ và qua lãi suất tác
động đến tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, Do vậy, việc kiểm soát mức cung
tiền (M) được coi là một chính sách tiền tệ quan trọng đặc biệt trong quản lý
vĩ mô.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 11
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
2.2.2. Mức cầu về tiền (LP,MD)
2.2.2.1. Các loại tài sản tài chính
- Tài sản giao dịch (thanh khoản) không tạo ra thu nhập, nhưng được
dùng để thanh toán khi mua hàng hóa dịch vụ…
- Các tài sản tài chính khác tạo ra thu nhập (tín phiếu, cổ phiếu, sổ tiết
kiệm, ) nhưng không thể dùng trực tiếp để mua hàng hóa.
Hầu hết các hộ gia đình và các doanh nghiệp giữ của cải của họ dưới
dạng kết hợp cả hai loại tài sản này. Trong phần này, mọi tài sản giao dịch
được gọi là tiền và mọi tài sản khác có thu nhập được gọi chung là trái
phiếu.
2.2.2.2. Mức cầu về tiền
Định nghĩa: Mức cầu về tiền là khối lượng tiền cần để chi tiêu
thường xuyên, đều đặn cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất kinh
doanh.
Phân biệt cầu tiền danh nghĩa (LP
n
i : lãi suất
k, h: các hệ số phản ánh độ nhạy cảm của mức cầu tiền đối
với thu nhập và lãi suất.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 12
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
- Đồ thị cầu về tiền:
Hình 1.1 cho biết:
+ Hàm LP biến thiên giảm theo lãi suất.
+ Đường LP
0
là đường cầu về tiền khi thu nhập ở Y
0
.
+ Khi thu nhập tăng tới Y
1
thì đường LP dịch chuyển đến LP
1
.
Cùng mức lãi suất i
o
nhưng cầu về tiền sẽ lớn hơn (M
1
> M
0
) khi thu
nhập tăng lên (Y
1
> Y
1
M
o
LP
o
Lượng tiền thực tế
Hình 1.2. Đường cầu tiền
Trang 13
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
LP + DB =
P
WN
Trong đó: LP: cầu tiền thực tế
DB: giá trị thực tế của cầu các loại trái phiếu
P : chỉ số giá
WN: tổng tài sản tài chính danh nghĩa
Tổng giá trị tài sản tài chính trong nền kinh tế có thể đo lường được
từ những loại tài sản cụ thể đã được cung ứng như mức cung tiền, số lượng
và giá trị trái phiếu các loại đã đưa ra thị trường… và được biểu hiện bằng
đẳng thức:
P
WN
=
P
MS
+ SB
Trong đó:
P
MS
: là mức cung tiền thực tế
Về mặt lý thuyết kinh tế, chính sách tiền tệ được xem là một công cụ
chính sách quan trọng nhằm tác động đến nền kinh tế để đạt được các mục
tiêu như ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát giá cả. Tác động của chính sách
tiền tệ luôn được thể hiện rõ nét và có uy lực tới nền kinh tế nói chung và thị
trường tài chính nói riêng so với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác trong
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 14
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
suốt quá trình vận hành của nền kinh tế, đặc biệt là trong ngắn hạn, thông
qua các chỉ tiêu tiền tệ như: cung tiền, tín dụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái,
mà mục tiêu cuối cùng của công tác điều hành chính sách tiền tệ là tác động
đến thị trường tiền tệ, hoạt động kinh tế và mức giá cả trong nền kinh tế.
Bất kỳ nền kinh tế nào, ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền
trong nước luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn. NHTW điều hành
CSTT phải kiểm soát được tiền tệ, làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền
với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, giữa tổng cung và tổng
cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng, không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu
của lưu thông. Xét cho cùng, CSTT có thể được xác định theo một trong hai
hướng sau:
- CSTT mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm
khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm. Trong trường
hợp này, chính sách nhằm chống suy thoái.
- CSTT thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm
hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp
này CSTT nhằm kiềm chế lạm phát.
Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền (Money Supply) làm
thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến chi tiêu
của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác động quan trọng đến
GDP (thực tế, tiềm năng) và lạm phát. Trong dài hạn, CSTT xác định giá trị
01/01/2006. Đến năm 2012, Việt Nam sẽ hoàn toàn bỏ thuế nhập cảng như
các nước khác trong khối AFTA để cải thiện tình trạng kinh tế trước sự cạnh
tranh của Trung Quốc, theo như nhận định của những nhà quan sát quốc tế.
Thứ hai là Việt Nam đã hoàn thành trách nhiệm tổ chức một hội nghị
lớn nhất từ trước đến nay đó là Hội Nghị APEC vào giữa tháng 11, quy tụ
nguyên thủ và đại diện của 21 quốc gia và lãnh thổ.
Thứ ba là Việt Nam đã được Hoa Kỳ chấp thuận cho hưởng quy chế
PNTR. Kết qủa là kể từ nay việc buôn bán giữa Hoa kỳ với Việt Nam sẽ
không còn phải được cứu xét lại hàng năm như trước đây.
Thứ tư là WTO đã nhận Việt Nam là thành viên thứ 150 của tổ chức
này. Đây là một diễn biến quan trọng nhất đòi hỏi Việt Nam thực hiện
những cải tổ kinh tế sâu rộng về nhiều lĩnh vực kể cả nông nghiệp, dịch vụ,
công nghệ, luật pháp, môi trường, lao động, hành chính, v.v. Quy chế hội
viên WTO vừa tạo cơ hội phát triển kinh tế và đưa ra những thử thách lớn
lao cho Việt Nam. Quy chế này bắt đầu có hiệu quả vào ngày 11/01/2007.
- Việt Nam là một nước mức độ kinh tế tăng trưởng cao nhất trong
vùng châu Á chỉ đứng sau Trung Quốc. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu
do Quốc hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 16
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm ước tăng 8,2% (kế hoạch là
8%). GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5 triệu đồng, tương đương 720
USD (năm 2005 đạt trên 10 triệu đồng, tương đương 640 USD); giá trị tăng
thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4 - 3,5% (kế hoạch là
3,8%); ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,4 - 10,5% (kế hoạch là
10,2%); ngành dịch vụ tăng 8,2 - 8,3% (kế hoạch là 8%); tổng kim ngạch
xuất khẩu tăng khoảng 20% (kế hoạch là 16,4%); tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển toàn xã hội đạt khoảng 41% GDP (kế hoạch là 38,6%); tốc độ tăng
nghiệp nhà nước được cổ phần hóa lên 3.480, hầu hết là hoạt động có hiệu
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 17
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
quả và đã có 81 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán; các tập
đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước tiếp tục được kiện toàn, sản xuất
kinh doanh đạt kết quả tốt hơn. Đã có hơn 41.000 doanh nghiệp dân doanh
được thành lập và đăng ký kinh doanh, thu hút một nguồn lực lớn của xã hội
vào sản xuất, kinh doanh. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt kết quả khả
quan, với tổng số vốn cấp phép mới và tăng thêm đạt khoảng 6,6 tỷ USD và
số vốn thực hiện khoảng 3,7 tỷ USD.
- Các hoạt động khoa học - công nghệ trọng điểm được đẩy mạnh. Cơ
chế quản lý tiếp tục được đổi mới theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của tổ chức khoa học - công nghệ và thực hiện xã hội hoá nhằm
huy động các nguồn lực cho công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học -
công nghệ. Nhiều doanh nghiệp chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ và ứng
dụng khoa học. Hình thức chợ và sàn giao dịch thiết bị công nghệ được tổ
chức ở một số địa phương, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp trong và
ngoài nước đã có những kết quả thiết thực.
- Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được triển khai
tích cực. Công tác tổ chức thi tuyển ở các cấp có tiến bộ. Quy mô đào tạo
bậc đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng. Cơ sở vật
chất nhà trường được củng cố, tăng cường; gần 90% địa phương đã hoàn
thành chương trình kiên cố hoá trường, lớp, cải thiện điều kiện dạy và học,
tạo diện mạo mới cho các cơ sở giáo dục. Các trung tâm học tập cộng đồng
tiếp tục được mở rộng. Cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục
đã có một số chuyển biến, được sự đồng thuận của xã hội.
- Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả tốt hơn, được cộng
đồng quốc tế đánh giá cao. Các xã, các hộ sau khi thoát nghèo được chú ý hỗ
năm kiên trì đàm phán, chúng ta đã kết thúc đàm phán cả song phương và đa
phương để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) theo phương án đề
ra. Đến nay đã hoàn thành cơ bản công tác chuẩn bị và thực hiện thành công
nhiều hoạt động quan trọng để tiến đến tuần lễ Hội nghị cấp cao APEC, lần
đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
→ Những thành tựu đạt được trong năm 2006 bắt nguồn từ thế và lực của
đất nước. Sự nỗ lực và hoạt động có hiệu quả của cả hệ thống chính trị và
những cố gắng phấn đấu vượt bậc để vượt qua thách thức khó khăn của các
tầng lớp nhân dân, của cộng đồng các doanh nghiệp, đã tạo nên sức mạnh
tổng hợp để phát triển đất nước.
Yếu kém :
- Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng nghiêm túc nhìn
nhận rằng, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập. Tốc độ
tăng GDP tuy vượt kế hoạch đề ra nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng. Chất lượng của sự tăng trưởng, nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế
tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều yếu kém. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch còn chậm. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực của nhà
nước và xã hội còn kém hiệu quả. Các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, sự phát triển của khoa học - công nghệ, giáo
dục - đào tạo, bảo vệ - cải thiện môi trường, chăm sóc sức khoẻ nhân dân
vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế
đối ngoại còn nhiều trở ngại. Đời sống nhân dân nhiều nơi ở nông thôn, nhất
là miền núi, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn. Cải cách hành chính vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí tuy
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 19
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
có được những kết quả, nhưng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng.
Tai nạn giao thông vẫn ở mức cao.
thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy mô kinh tế lớn
lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân
đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839
USD/người. Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu
thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 20
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Theo nhóm
ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp - thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại gặp
khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP
của nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp -
xây dựng tiếp tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ
trọng trong GDP tiếp tục tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dịch vụ được mở cửa rộng
hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nên đã
tăng cao hơn tốc độ chung. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước,
đặc biệt là kinh tế tự nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng
của khu vực này trong GDP đã cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà
nước (46% so với dưới 37%). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng
trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP cũng cao lên (hiện đạt
trên 17%). Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có
tổng tỷ trọng trong GDP cao hơn, lại có tốc độ tăng cao hơn khu vực nhà
nước, nên đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế chung, phù hợp với
đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập.
- Tăng trưởng kinh tế cao đạt được do sự tác động của cả hai yếu tố
đầu vào và đầu ra.
+ Ở đầu vào, vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 40,6%, là tỷ lệ
thuộc loại cao nhất từ trước tới nay, cũng thuộc loại cao nhất so với các
về tốc độ tăng (21,5%, vượt kế hoạch, cao gấp 2,3 lần tốc độ tăng GDP).
- Tăng trưởng kinh tế cao nên chỉ số phát triển con người (HDI) đạt
được nhiều sự vượt trội, khả năng năm 2007 đạt trên 0,75%. Thứ bậc về
HDI tăng lên trong khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Thứ
bậc trên thế giới về HDI cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người tính
bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương (105 so với 123), cao hơn hàng
chục nước có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam, phù hợp với nền
kinh tế thị trường mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường theo định
hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tỷ lệ
nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn 14,8%).
- Vị trí trên trường quốc tế của Việt Nam tăng khi chính thức trở thành
thành viên WTO, được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng
Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Yếu kém:
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 cũng bộc lộ một số
hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ năm trước, thì năm
nay nổi lên ba vấn đề lớn:
- Giá tiêu dùng tăng cao và cao hơn tốc độ tăng GDP.
- Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu.
- Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng
1.3. Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2008
Kế hoạch điều chỉnh do Đảng và Nhà nước ta đưa ra (tháng 4-2008)
đã có sự chuyển hướng và xác định nhiệm vụ trọng tâm: Phấn đấu kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng hợp
lý, bền vững; trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
Thành tựu:
- Qua gần 10 tháng thực hiện quyết liệt, với quyết tâm cao “tình hình
kinh tế - xã hội của đất nước đã có những chuyển biến tích cực”. Việc kiềm
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
tính ở mức 5% GDP.
-Tăng trưởng tín dụng ngân hàng ở mức rất cao, từ 25,4% vào năm
2006 lên hơn 50% tính đến hết tháng 11/2007.
Tốc độ tăng quá lớn này đã gây ra những mối quan ngại về chất lượng
các hạng mục đầu tư của ngân hàng. Tín dụng của các ngân hàng cổ phần
tăng cao đến 95%, trong khi mức tín dụng của các ngân hàng thương mại
quốc doanh chỉ ở mức 25%.
Họ và tên: Lê Thị Chi
Lớp : KTB51- ĐH3
Trang 23
Bài tập lớn môn: Kinh tế vĩ mô 1
Gia nhập WTO đã tạo cho Việt Nam lợi thế trong việc thu hút nguồn
vốn đầu tư nước ngoài. Tính đến hết năm 2007, cam kết đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài (FDI) tăng gấp đôi năm 2006, lên mức 20,3 tỷ USD, tổng giá trị
thị trường chứng khoán đạt tới 43% GDP tính đến cuối năm 2007.
Yếu kém:
Năm 2008, thoạt đầu được nhận định là năm có nhiều thuận lợi.
Nhưng tình hình thực tế đã diễn ra theo chiều ngược lại. Ngay từ Quý I, do
tác động của tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp cộng với những
khó khăn mới nảy sinh từ trong nước, nhiều chỉ dấu của lạm phát và sự mất
ổn định kinh tế vĩ mô đã xuất hiện ngày một nghiêm trọng.
Dựa trên các số liệu cập nhật của Tổng cục Thống kê Việt Nam và
tình hình chung của kinh tế thế giới, WB cho rằng nền kinh tế Việt Nam
đang bộc lộ những dấu hiệu tăng trưởng quá nóng.
Việc lượng ngoại tệ vào nhiều đã khiến cho NHNN Việt Nam “đau
đầu” trong việc đưa ra những chính sách ứng xử thích hợp.
Trong thời gian cuối năm 2007 - đầu năm 2008, NHNN đã có những
biện pháp dường như trái ngược nhau dẫn đến tình trạng thiếu khả năng
thanh toán cuả hệ thống ngân hàng thương mại. NHNN mua vốn vào để duy
trì tỷ giá tiền đồng đã làm ảnh hưởng đến tính thanh khoản của tiền đồng
thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế.
Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng,
chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội
còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường ở nhiều nơi đang bị
ô nhiễm nặng. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết
cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt
Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành
đầy đủ, vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và
đe dọa chủ quyền quốc gia.
2. Trình bày mục tiêu của chính sách tiền tệ thời kỳ 2006
÷
2008
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản
lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay NHTW để đạt được những mục đích
đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được
toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao
gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp
thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc
trao đổi trên thị trường ngoại hối.
Chính sách tiền tệ nhằm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung
tiền. Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này. Chỉ để
điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường, thì mục tiêu lãi suất được
lựa chọn. Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ
sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền.
Mục tiêu của Chính sách tiền tệ:
Rõ ràng là NHTW có thể điều chỉnh đến việc cung ứng tiền để tác
động đến tổng cầu và do đó tác động một cách tiềm tàng đến mức tăng
trưởng GDP thực tế, mức thất nghiệp và mức tăng của giá cả.
Do đó, về mặt lý thuyết, NHTW có thể dùng chính sách tiền tệ để
ngăn chặn sự biến động của nền kinh tế trong chu kỳ kinh tế. Chính sách