Thời kì 1911-1919[sửa]
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với
nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville của hãng vận tải Hợp nhất
(Compagnie des Chargeurs réunis), thường được gọi nôm na là hãng Nǎm Sao, với mong muốn
học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây
[1]
.
Trong thập niên 1960, khi nói chuyện với khách nước ngoài, ông cho biết rằng ông đã
từng là lính thủy
[2]
.
Khi mới sang Pháp, ông có làm đơn xin được vào học tại Trường hành chính thuộc địa,
nhưng không được chấp thuận (trong đơn này ông tự ghi là sinh năm 1892). Ngày 31 tháng
11 năm 1912, ông chuyển 15 đồng bạc Đông Dương cho cha mình.
Đầu tháng 12 năm 1912, ông sang Hoa Kỳ. Ngày 15 tháng 12 năm 1912, từ New York, ông
viết thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ cha mình và muốn xin cho người cha một
công việc. Thư này ông ký tên là Paul Tất Thành.
Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh làm nghề cào tuyết cho một
trường học, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn.
Đầu năm 1914, ông gửi thư cho Phan Châu Trinh, thông báo vắn tắt tình hình bản thân, đưa
ra những nhận xét về chiến tranh thế giới đang diễn ra và dự đoán những chuyển biến có
thể có. Ông cũng gửi cho Phan Châu Trinh một bài thơ thất ngôn bát cú với hai câu mở đầu
như sau:
Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng
Phải có kiên cương mới gọi hùng
và hai câu kết:
Ba hột đạn thầm hai tấc lưỡi
Sao cho ích giống mấy cam lòng.
Ngày 16 tháng 4 năm 1915, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương, thông qua lãnh sự
Anh tại Sài Gòn, nhờ tìm địa chỉ của cha. Thư ký tên Paul Thành.
Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923
này ra được 38 số với mỗi số bán được quãng 1000 tới 5000 bản, một con số thuyết phục
vào lúc bấy giờ
[7]
.Ngoài ra, ông viết bài cho hàng loạt báo khác.
[8]
. Tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp (Procès de lagg colonisation française) do ông viết được xuất bản năm 1925,
đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của
các dân tộc thuộc địa.
[9]
Ông là trưởng Tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản Pháp.
Năm 1923, với tư cách đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, ông ra tranh cử vào Hạ viện Pháp,
nhưng thất bại. Trong lần đầu tiên tham gia bầu cử Quốc hội đó, Đảng Cộng sản Pháp giành
được tất cả 1,2 triệu phiếu ủng hộ trên tổng số 5 triệu phiếu cử tri, nhưng Nguyễn Ái Quốc
trượt chân dân biểu Quốc hội
[10]
.
[11]
Trong toàn bộ thời gian sống trên đất Pháp, ông trang trải cuộc sống bằng cách làm việc nửa
ngày. Thoạt đầu, ông làm thuê tại một tiệm rửa ảnh và được Phan Văn Trường nhượng
quyền cho thuê lại một căn phòng. Sau đó, ông đi vẽ khoán cho một xưởng vẽ truyền thần
và thuê một phòng tại căn nhà số 9 ngõ Compoint, Quận 17, Paris
[12]
.Ông theo học dự thính
tại Đại học Sorbonne và được coi là mọt sách tại Thư viện Quốc gia Pháp
[13]
.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ nhất[sửa]
Tháng 6 năm 1923,
[14]
Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến chiến lược quân sự của các nước lớn đối với khu
vực châu Á - Thái Bình Dương. Sau khi phân tích những động thái quân sự của Nhật Bản ở
đảo Yap, Mỹ tăng cường tàu chiến ở Thái Bình Dương, Pháp củng cố hệ thống thuộc địa
vành đai Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc dự đoán chính xác rằng khu vực này “tương lai
có thể trở thành lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mới”
[19]
Thời kì ở Trung Quốc (1924-1927)[sửa]
Ngày 11 tháng 11 nǎm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý
Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ
Trung Hoa Dân quốc,
[20]
.
Thời gian này ông cũng gặp mặt một số nhà cách mạng lão thành người Việt đang sống và
hoạt động lưu vong trên đất Trung Quốc, trong đó có Phan Bội Châu. Trong một báo cáo gửi
đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản đề ngày 18 tháng 12 năm 1924, ông viết về Phan Bội Châu:
"Ông ta không hiểu chính trị và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng tôi đã giải
thích cho ông ta hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không
có cơ sở. Ông ta đã đưa tôi một bản danh sách của 14 người Việt Nam đã cùng ông ta
hoạt động bấy lâu"
Trong nhóm 14 người này có một số thành viên của Tâm tâm xã - một tổ chức cấp tiến
hoạt động từ 1923 với những thành viên như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng
Thái, Lê Hồng Phong, Lâm Đức Thụ, thành viên đầu tiên của Tâm tâm xã là Lê Hồng
Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu,
Nguyễn Công Viễn; đến đầu năm 1924 thì Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái được kết
nạp.
Nguyễn Ái Quốc
Năm 1925, ông (lúc này mang tên Vương) lựa chọn một số phần tử tích cực của Tâm
tâm xã, huấn luyện thêm và trên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi tiếp tục dựa trên
Cộng sản đoàn mà thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (hay còn
gọi là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên) vào tháng 6. Hội này phái người về nước
1927, từ đó không bao giờ còn gặp lại.
[21]
Nhưng ông cũng đã từng cho rằng ông chưa
bao giờ lập gia đình và có vợ con
Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông,
do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm hội trưởng và ông làm
bí thư.
Tháng 5 năm 1927, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt những người cộng sản ra
ngoài vòng pháp luật, ông rời Quảng Châu đi Hồng Kông, rồi sang Moskva. Tháng 11
năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn
chống chiến tranh đế quốc từ ngày 9 tháng 12 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927
tại Bruxelles, Bỉ. Sau đó, ông cũng qua Ý.
Những năm 1928, 1929[sửa]
Mùa thu 1928, Hồ Chí Minh từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu
Chín (trong tiếng Thái và tiếng Lào, "thầu" chỉ người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính)
để tuyên truyền và huấn luyện choViệt kiều, đồng thời móc nối một số thanh thiếu niên
Việt Nam sang Thái Lan hoạt động. Theo Bác Hồ - hồi kí, phần kể của Lê Mạnh Trinh thì
khi đó có khoảng 2 vạn người Việt sống ở Thái Lan, kiếm sống chủ yếu bằng lao động
và sinh sống khá rải rác, thiếu liên kết, tập trung nhiều hơn cả là ở vùng Đông Bắc. Cho
tới thời điểm 1928, đa số họ mới di cư sang Thái Lan trong vòng khoảng mấy chục năm.
Ngô Quảng, Thần Sơn, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính đã từng hoạt động tại Thái, tuy
nhiên không ai trong số họ tuyên truyền và tổ chức cho Việt kiều cả.
Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền cho kiều bào và tổ chức họ vào những hội thân ái,
tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cho họ, xin chính phủ Thái cho mở trường dành cho
Việt kiều,
[22]
Hồ Chí Minh đi (chủ yếu là đi bộ) và vận động hầu khắp các vùng có kiều
bào ở Thái Lan
[23]
. Giống như tại nhiều nơi đã hoạt động, ông cho in báo - tờ Thân ái.
Các đồng chí của ông - (Hồ Tùng Mậu và Trương Vân Lĩnh) liên hệ được với Công hội
Đỏ và gia đình luật sư Frank Loseby can thiệp, bào chữa cho ông. Sau nửa năm phiên
tranh tụng, ngày 28/12/1932, tại tòa án trong điện Buckingham, có mặt Đức vua Anh,
hầu tước chánh án đã phán quyết Tống Văn Sơ vô tội.
[26]
Ông bèn xuống tàu sang Tân-
gia-ba (Singapore), song vẫn bị mật thám theo dõi. Tàu vừa cập bến Tân-gia-ba, cảnh
sát đón bắt và áp giải Tống Văn Sơ xuống tàu Hồ San quay về Hương Cảng. Họ tuyên
bố rằng, chính quyền Tân-gia-ba không phụ thuộc vào bất cứ lệnh nào của các chính
quyền khác, bởi thế, cũng không bắt buộc phải thi hành việc đảm bảo của chính quyền
Hương Cảng.
Tại nhà tù, Tống Văn Sơ tìm cách liên lạc được với luật sư Loseby thông qua một lính
gác. Trong vai trò luật sư, Loseby đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ đã
chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một cách
trái phép. Chính quyền Hương Cảng lúc đó biết không thể giam giữ Tống Văn Sơ, nên
đã phải can thiệp để Sở cảnh sát Hương Cảng thả Tống Văn Sơ sau mấy ngày giam
giữ.
[27]
Lần này để tránh mật thám, Ông được Loseby bố trí lên một chiếc cano bí mật ra khỏi
Hương Cảng, cập mạn một chiếc tàu khác. Sau đó, luật sư Loseby vẫn chưa cảm thấy
yên tâm, ông liền tung tin Tống Văn Sơ đã chết trong bệnh viện lao ở Hương Cảng. Mấy
hôm sau, tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã mất tại
Hương Cảng. Mật thám Pháp cũng tin vào cái chết của Nguyễn Ái Quốc và thôi truy
lùng. Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn Ái Quốc, ở trang
cuối cùng ghi: “Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng”.
[28]
Sau khi ở Hạ Môn khoảng năm, sáu tháng, đầu năm 1933, ông lên Thượng Hải.
[29]
Từ
đây, ông được Đảng Cộng sản Trung Quốc bố trí đưa đi Liên Xô
" chúng ta không được quên những tàn tích quốc gia chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc và
những chỉ thị sai lầm của đồng chí ấy về những vấn đề căn bản của phong trào cách
mạng tư sản dân quyền và những lý luận cơ hội của đồng chí ấy bám rễ vào đầu óc của
phần đông đồng chí chúng ta, giống như những tàn tích tư sản vẫn sống dai dẳng trong
đầu óc những hội viên Thanh Niên, Tân Việt và Vừng Hồng.
Nguyễn Ái Quốc không hiểu được những chỉ thị của Quốc tế cộng sản; không hợp nhất
được ba tổ chức cộng sản từ trên xuống dưới Tài liệu Sách lược vắn tắt của Đảng và
Điều lệ của Đảng hợp nhất không theo đúng chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Ngoài ra
Nguyễn Ái Quốc còn chủ trương một sách lược cải lương và hợp tác: "trung lập tư sản và
phú nông", "liên minh với địa chủ nhỏ và vừa", v.v. Vì những sai lầm đó, nên từ tháng
Giêng đến tháng Mười năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đi theo một chiến
lược có nhiều điểm trái với những chỉ thị của Quốc tế cộng sản, tuy trong thực tế đã lãnh
đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh cách mạng."
[35]
Từ năm 1938 đến đầu năm 1941[sửa]
Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quânHồ Quang,
Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó
đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản
Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc vào mùa đông 1938. Khi này đang là
thời kì Quốc-Cộng hợp tác trong cuộc kháng chiến chống Nhật, Tưởng Giới
Thạch có đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cán bộ đi hướng
dẫn cho Quốc Dân Đảng về kỹ thuật chiến đấu du kích. Tổng phụ trách đoàn
là Diệp Kiếm Anh. Từ tháng 6 năm năm 1939, Hồ Quang được gửi tới phái
đoàn này làm người phụ trách chính trị
[36]
.
[37]
Trên thực tế, ban lãnh đạo Đảng
Cộng sản Đông Dương lúc này cũng mất liên lạc với ông tới tháng 1 năm 1940
(thời kì này lấy bí danh là Trần)
tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Ngày 6 tháng 7 năm 1911, sau hơn 1 tháng đi
biển, tàu cập cảng Marseilles, Pháp. Tại Marseilles, ông đã viết thư đến Tổng thống Pháp,
xin được nhập học vào Trường Thuộc địa (École Coloniale), trường chuyên đào tạo các
nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, với hy vọng "giúp ích cho Pháp". Thư yêu
cầu của ông bị từ chối và được chuyển đến Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế.
[31]
Ở Pháp một thời
gian rồi ông qua Hoa Kỳ. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912-cuối 1913), ông đến
nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn, học tiếng Anh, và ở London
cho đến cuối năm 1916
[32]
. Một số tài liệu trong kho lưu trữ của Pháp và Nga cho biết trong
thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã nghe Marcus Garvey diễn thuyết ở khu Harlem và tham
khảo ý kiến của các nhà hoạt động vì nền độc lập của Triều Tiên.
[32]
Cuối năm 1917, ông trở
lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.
[33]
Thời kỳ ở Pháp
Tấm biển đồng gắn tại nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17 Paris: "Tại đây, từ năm 1921-1923, Nguyễn Ái Quốc
đã sống và chiến đấu vì quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức"
Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Đông Dương, chụp tại Đại hội Đảng cộng sản Pháp họp tại Marseille năm 1921
Tháng 2 năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
[34]
Ngày 18 tháng
6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang
tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Namgồm 8 điểm để kêu gọi
lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilsoncho các lãnh thổ
thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến
dự hội nghị
của Đảng Xã hội Pháp tạiTours (từ 25 đến 30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại
biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên
củaĐảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu
nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa(Union intercoloniale -
Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng
lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra
báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn
áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm "Bản án
chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái
Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề
cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ nhất
Nguyễn Ái Quốc, chụp tại Liên Xô năm 1923.
Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên vào năm 1922 tham gia Đại hội lần tư của Quốc tế
Cộng sản, ở đó ông gặp Lenin và trở thành thành viên của Ban Đông Nam Á của Quốc tế
Cộng sản
[36]
.
Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Lao động Cộng
sản Phương Đông được đào tạo chính quy về Chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa
vũ trang
[36]
. Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến
ngày 15 tháng 10 năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế
Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Đệ Tam Quốc tế (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng
7 năm 1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Năm 1924, tại thành phố Moskva, ông viết và nộp cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế một bản Báo
cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào đấu tranh giai cấp tại
Việt Nam có sự khác biệt với phong trào đấu tranh giai cấp bên Tây phương đương thời, ông
có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ, của Việt Nam như sau:
Quốc và Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi Hương Cảng, rồi thoát sang Liên Xô theo
đường sa mạc Gobi. Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại
hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927
tại Brussel, Bỉ.
Thời kỳ ở Thái Lan (1928 - 1929)
Mùa thu 1928, ông từ châu Âu đến Xiêm La (Thái Lan), cải trang là một nhà sư đầu trọc, với
bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều tại Xiêm, đồng thời xuất bản
báo gửi về nước. Cuối năm 1929, ông rời khỏi Vương quốc Xiêm La và sang Trung Quốc.
[43]
Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long ( 九 龍 , Kowloon) thuộc Hương Cảng, theo chỉ thị
của Quốc tế Cộng sản, nhằm giải quyết những mâu thuẫn đang có giữa những người cộng
sản ở Đông Dương, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt
Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt
Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam"). Cũng vào năm này, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ
Tĩnh nổ ra, do Đảng Cộng sản chỉ đạo, nhưng thất bại. Pháp cấm Đảng Cộng sản Đông
Dương, và Nguyễn Ái Quốc bị xử tử hình vắng mặt.
Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Xiêm La trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.
Những năm 1931 - 1933
Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm
quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương.
Tờ L'Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao
phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp
câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương
[44]
.
Sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby
[45]
, Tống Văn Sơ được
thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
Nguyễn Ái Quốc lại đề cao chủ nghĩa dân tộc và vấn đề giải phóng thuộc địa, ông cho rằng:
[41]
“
Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi
dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm
cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối.
Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh
với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm
cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính
khởi nghĩa năm 1917.
”
—Nguyễn Ái Quốc
Trong giai đoạn này, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Đông Dương còn Hồ Chí Minh chỉ đảm nhiệm công tác liên lạc giữa Quốc tế Cộng
sản và các đảng cộng sản tại Đông Nam Á.
[50]
2.2. Hồ Chí Minh lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi theo cách mạng vô sản
Trước bối cảnh nước mất, nhà tan, ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường
cứu nước. Mục đích ra đi của Người là tìm lý luận và phương pháp cách mạng cứu nước
giải phóng dân tộc. Hướng đi đến phương Tây trọng tâm là nước Pháp, phương pháp ra
đi là “vô sản hóa”, hòa mình vào cuộc sống lao động của giai cấp cần lao. Người đi
nhiều nơi, làm nhiều việc vừa lao động để kiếm sống, vừa nghiên cứu học hỏi. Từ năm
1911-1920, Hồ Chí Minh lao động chân tay (bồi bàn, quét tuyết, phụ bếp ); từ năm
1921-1930, Người lao động trí óc (viết báo, dự các cuộc thảo luận, viết sách, đào tạo
con người ). So với các vị lãnh tụ chính trị đương thời như Phan Bội Châu (1867-
1940), Phan Châu Trinh (1872-1926), Phan Văn Trường (1876-1933), Nguyễn An Ninh
(1900-1943), hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh có sự khác biệt về chất.
Tháng 7/1920, Người đọc Bản sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin trên tạp chí Nhân đạo - cơ quan ngôn luận của
Đảng Xã hội Pháp và tìm thấy ở đây con đường giải phóng cho dân tộc. Từ đó Người
Việt Nam không phân biệt ranh giới đảng phái, miễn là có quyết tâm hi sinh tất cả tư ý
và quyền lợi cá nhân, đem tất cả sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm
người của người Việt Nam”(3).
Qua tôn chỉ cho thấy Tâm Tâm xã đã cố gắng định hướng cho con đường hoạt
động cách mạng của mình. Những người sáng lập Tâm Tâm xã đã có sự chuyển biến ít
nhiều trong tư tưởng. Bản thân họ khi trước hoặc chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư
sản (tư tưởng quân chủ lập hiến đến dân chủ cộng hòa tư sản) của Phan Bội Châu
(1867-1940), hoặc chịu ảnh hưởng tư tưởng cải lương, bất bạo động của Phan Châu
Trinh (1872-1926). Nhưng trước con đường đi không lối ra của các bậc tiền bối cách
mạng, những thanh niên yêu nước này đã tự đứng ra lập riêng tổ chức. Tâm Tâm xã có
gốc từ Việt Nam Quang phục hội (1912) và có điểm tương đồng là chủ trương đấu tranh
giành độc lập nhưng Tâm Tâm xã đi xa hơn, họ hướng tới giải phóng con người, giải
phóng giai cấp: “liên hợp những người có thể đích thực hoạt động để khôi phục quyền
độc lập cho dân Đông Dương”(4).
Có thể coi Tâm Tâm xã là một tổ chức quá độ để dẫn tới sự thành lập các tổ
chức cao hơn. Đến Tâm Tâm xã, tư tưởng Nho giáo đã bị quét sạch, hệ tư tưởng bao
trùm là tư tưởng dân chủ tư sản. Nhưng trong nhận thức của những người sáng lập tổ
chức, hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã phân hoá, tức là nó không thuần tuý lập trường
“quân chủ lập hiến” của Duy Tân hội (1904), hoặc “cộng hòa dân quốc tư sản” của
Quang Phục Hội (1912). Đó là bởi những người tổ chức Tâm Tâm xã đã nhìn thấy
những bài học kinh nghiệm từ sự thất bại của hai nhà cách mạng họ Phan. Đó là nếu chỉ
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
131
dựa vào tinh thần yêu nước, vào đường lối chung chung sẽ không thể đưa cách mạng đi
xa. Phải có đường lối mới, có tổ chức, có lãnh đạo phù hợp với dân tộc và thời đại thì
tiền đồ cách mạng mới tươi sáng được.
Xét nguồn gốc xuất thân của Tâm Tâm xã, từ người sáng lập đến các hội viên về
sau đều là trí thức tiểu tư sản yêu nước. Mục đích, tôn chỉ và lập trường tư tưởng của
Tâm Tâm xã có bước phát triển hơn, rõ ràng hơn nhưng nhìn chung vẫn còn sự mơ hồ
về giai cấp. Tiếng bom Sa Diện (1924) và sự hi sinh của Phạm Hồng Thái (1895-1924)
dụng giải thích những mục tiêu đấu tranh, truyền bá những tư tưởng cách mạng và huấn
luyện, đào tạo những hội viên của mình(7). Đến đây, những thanh niên trước kia với
nhiệt huyết yêu nước thiết tha nay có một bước chuyển mình mang tính chất đột phá, tự
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
132
lập trường dân chủ tư sản sang lập trường cách mạng vô sản. Và Hội Thanh niên chính
là một tổ chức quá độ, là sự chuẩn bị tất yếu cho sự ra đời của một chính đảng vô sản
trong tương lai (Tổ -> Đội -> Đoàn (Cộng sản Đoàn 3/1925) -> Hội (Hội Thanh niên
1925-1929) -> Đảng (ĐCSVN 1930-Nay).
Trong thời gian tồn tại 1925-1929, Hội Thanh niên được tổ chức theo nguyên
tắc tập trung, dân chủ, theo quy luật tự phê bình và phê bình gần giống với Đảng Cộng
sản, và đóng 3 vai trò rất quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: 1- Truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; 2- Đào tạo cán bộ cách mạng; 3- Lãnh đạo phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Năm 1925, Hồ Chí Minh lập Hội (lỏng lẻo) chứ chưa lập Đảng (tổ chức chặt
chẽ, kỷ luật nghiêm minh) được giải thích ở những điểm sau: 1. Từ kinh nghiệm của
chính bản thân Người (1911-1920). Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa
Lênin” (1960), Người đã viết: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ
nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong
cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần
tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được
các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”
(8); 2. Từ
thực tiễn Việt Nam dưới chế độ thuộc địa trên 95% dân số mù chữ (chữ quốc ngữ) do
“làm cho dân ngu để dễ cai trị”, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa
của chúng ta ưa dùng nhất”(9); 3. Do chính sách chống phá dữ dội, ngăn chặn quyết liệt
chủ nghĩa cộng sản và sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam của thực dân
Pháp, vì theo Albert Sarraut (1872-1962) toàn quyền Pháp ở Đông Dương (1911-1914
và 1917-1919) đã viết: Chủ nghĩa cộng sản, ấy là kẻ thù mà chúng ta phải tiêu diệt. V.I.
Lênin (1870-1924) đã nhận xét: “Công lao vĩ đại có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của
sống, một ngôn ngữ…”(13). Chủ trương này có ý nghĩa chính trị sâu sắc, làm phân hoá tư
tưởng của hội viên có gốc gác trí thức tiểu tư sản, đoạn tuyệt với quá khứ để tự “vô sản
hoá” biến mình trở thành công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Các nhà kinh điển mác-xít đã từng chỉ rõ chủ nghĩa Mác - Lênin là do
những người trí thức cách mạng đưa vào phong trào công nhân. Như V.I.Lênin đã chỉ
dẫn: “Ý thức chính trị giai cấp chỉ có thể được đem từ bên ngoài vào cho người công
nhân, nghĩa là từ bên ngoài cuộc đấu tranh kinh tế, từ bên ngoài phạm vi quan hệ giữa
thợ và chủ. Người ta chỉ có thể tìm được nhận thức ấy trong một lĩnh vực duy nhất, đó
là lĩnh vực những mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp, các tầng lớp với nhà nước và
chính phủ, lĩnh vực những mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp với nhau. Muốn đem lại
cho công nhân những tri thức chính trị, những người dân chủ-xã hội phải đi vào tất cả
các giai cấp trong dân cư, họ phải phái các đội ngũ trong đạo quân của họ đi về tất cả
các ngả”
(14).
2.5. Phong trào dân tộc và phong trào công nhân thúc đẩy sự khẳng định con đường
cứu nước mới
Cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp phát triển mạnh mẽ cuối năm 1925
đầu 1926 ở Việt Nam, tiêu biểu như đưa “dân nguyện” khi Va-ren sang làm toàn quyền
(1925-1928), đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (1925), tổ chức rầm rộ lễ tang cụ Phan Châu
Trinh (1926), đòi thả tù chí sĩ Nguyễn An Ninh (1926)… đều có sự góp mặt tích cực
của hội viên thanh niên. Bà vợ Nguyễn An Ninh nhớ lại: “Ngày anh Ninh bị bắt lần ấy
(1926) cũng là ngày cụ Phan Châu Trinh từ trần. Cụ Phan về Sài Gòn hoạt động được
non một năm, vì tuổi già sức yếu, nên lâm bệnh nặng rồi qua đời. Hằng trăm ngàn người
từ các nơi đổ về Sài Gòn nhân dịp đưa đám tang cụ Phan Châu Trinh để biểu dương lực
lượng và đòi thả Nguyễn An Ninh”(15).
Đồng thời chưa bao giờ ở Việt Nam lại xuất hiện nhiều tổ chức đảng phái và các
tư tưởng chính trị đến như vậy. Đó là Đảng Lập hiến do Bùi Quang Chiêu (1873-1945)
lập ra năm 1923, Hội Phục Việt (1925) sau cải tổ thành Tân Việt Cách mạng Đảng
(1928), Quốc dân Đảng Việt Nam (1927) và Nguyễn Thái Học (1904-1930). TẠP CHÍ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
sản”(16). Hai phong trào hoàn toàn khác nhau về mục đích cuối cùng và về mặt giai cấp
lãnh đạo, tuy có gặp nhau ở tinh thần yêu nước, muốn cứu nước, nhưng lịch sử đã
chứng minh rằng chỉ có giai cấp vô sản “là giai cấp cách mạng triệt để duy nhất trong xã
hội hiện đại”(17).
Nhận xét về hiện tượng này, giáo sư Trần Văn Giầu viết: “vào cuối những năm
20, sự hỗn độn ban đầu bớt dần tan đi, cải lương với cách mạng sẽ phân hoá rõ rệt
chẳng những giữa hướng tư sản và hướng vô sản, mà cả trong tư tưởng dân tộc nói
chung. Việt Nam Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản sẽ ra đời, phân hoá xã hội, phân
hoá chính trị, phân hoá tư tưởng tạo thành một tình thế sôi nổi mà sáng sủa trong đó
các lực lượng tinh thần và vật chất tuy thi đua ra sức với nhau, đua ý chí và chính kiến
với nhau. Không lúc nào mà tư tưởng và đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam phong phú
bằng lúc này”
(18).
Trong khi Đảng Lập hiến theo khuynh hướng quốc gia cải lương chủ trương
“Pháp-Việt đề huề”; Quốc dân Đảng Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc tư sản chủ trương
dùng bạo động để giành độc lập dân tộc, Đảng Thanh niên cao vọng của Nguyễn An
Ninh (1900-1943) theo chủ nghĩa yêu nước “ôn hoà” … đây là nhưng tổ chức đảng phái
hoạt động trên lập trường dân tộc tư sản dưới những hình thức khác nhau. Đó là biểu
hiện cụ thể nhất sự phân hoá về mặt tư tưởng của cả một ý thức hệ đối với vấn đề cứu
nước giải phóng dân tộc. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ
NẴNG - SỐ 5(40).2010
135
Bảng 4. Hội Thanh niên (1925-1929) và QDĐVN (1927-1930)
Vấn đề QDĐVN 1927-1930 Hội Thanh niên 1925-1929
Ý thức hệ Dân chủ tư sản Cộng sản chủ nghĩa
Lãnh đạo Trí thức tiểu tư sản (TTS) Trí thức tiểu tư sản
Thành phần TTS, địa chủ, phú nông TTS, công nhân, nông dân
Địa bàn Tonkin (Bắc kỳ) Việt Nam
Hoạt động Bí mật bất hợp pháp Bí mật bất hợp pháp
Mục đích Chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hội
Năm Số cuộc Lượng người tham gia
1928 10 cuộc 600 người
1929 24 cuộc 6.000 người
1930 82 cuộc 27.000 người
Nguồn: Hà Huy Tập: Một số tác phẩm, Nxb. CTQG, HN, 2006, tr.153.
Bảng 6. Đấu tranh tự phát và đấu tranh tự giác của công nhân
Vấn đề GĐ đấu tranh tự phát GĐ đấu tranh tự giác
Mục tiêu Mục tiêu kinh tế
(Tăng lương, giảm giờ làm)
1. Trước mắt: Kinh tế
2. Lâu dài: Chính trị
Tổ chức 1. Không có tổ chức
2. Công đoàn
1. Cơ sở: Công đoàn
2. Xã hội: Đảng Cộng sản
Hình thức Bỏ việc, đánh cai, phá máy,
lãn công, đình công, bãi công
Lãn công, đình công, bãi công,
biểu tình, đấu tranh vũ trang
Hàng ngũ lỏng lẻo, dễ thoả hiệp vững chắc, cách mạng
Trong Hội Thanh niên đã có sự tranh luận về sự cần thiết hoặc chưa cần thiết
thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Lúc này như V.I.Lênin chỉ dẫn: “Giai cấp vô
sản phải ra sức lập ra các chính đảng công nhân độc lập, mà mục đích chủ yếu của các
chính đảng đó là phải làm cho giai cấp vô sản giành lấy chính quyền để tổ chức xã hội
xã hội chủ nghĩa”(21). Đỉnh cao của sự phân hoá tư tưởng là sự phân liệt của Hội Thanh
niên tại Đại hội I của Hội (5/1929) ở Hương Cảng (Trung Quốc) dẫn đến sự xuất hiện
của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (9/1929). Sự phân
hoá về mặt tư tưởng quyết liệt đến mức vượt quá nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Trong bức thư “Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho
những người Cộng sản An Nam ở Tàu” đã viết: “Đối với Tân Việt, Đảng Cộng sản
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (2/1930) khẳng định: “Làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”. Chủ trương đó thực chất là
tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản, giải
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, ĐLDT và CNXH. Đó là sự lựa chọn
khách quan của lịch sử dân tộc trong những năm 20 của thế kỷ XX qua hoạt động tích
cực của lãnh tụ Hồ Chí Minh và phong trào yêu nước Việt Nam.
3. Kết luận
Thời kỳ 1921 - 1929 trong lịch sử cách mạng Việt Nam được coi là thời kỳ tìm
tòi và định hướng. Trong gần một thập kỷ đó, luồng tư tưởng dân chủ tư sản mà đại
diện là một số tổ chức đảng phái ra sức lôi kéo quần chúng nhân dân nhưng tỏ ra lỗi
thời và đều thất bại trong vai trò lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ lịch sử. Trong khi đó,
khuynh hướng mácxít - lêninnít mà tiêu biểu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và các tổ chức
cách mạng (Tâm Tâm xã 1923-1924, Hội Thanh niên 1925-1929, Hội Phục Việt
1925…) tỏ ra sức hấp dẫn quần chúng và dần khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng.
Hệ tư tưởng vô sản tỏ ra ưu việt và chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống chính trị tư
tưởng giải phóng dân tộc. Từ Tâm Tâm xã đến sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời mùa xuân năm 1930 là hiện thực của một thời kỳ vận động thành lập Đảng sôi nổi.
Đây là giai đoạn hệ tư tưởng vô sản khẳng định vị thế, đồng thời đấu tranh thắng lợi
đập tan chủ nghĩa cải lương ru ngủ quần chúng và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của tư
sản và tiểu tư sản, vạch trần những thủ đoạn xảo trá của đế quốc và tay sai. Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời chính là hiện thân của sự nghiệp chính nghĩa, là đội tiền
phong đại diện cho quyền lợi của giai cấp công dân, nhân dân lao động, và toàn thể
dân tộc Việ
Le Hong Son Ho Tung Mau class="bi x0 y171 w7 h1d"